TOP 5 mẫu Phân tích bài thơ "Tiến sĩ giấy" của Nguyễn Khuyến (2026) SIÊU HAY
Phân tích bài thơ "Tiến sĩ giấy" của Nguyễn Khuyến gồm dàn ý và những bài văn mẫu hay nhất, chọn lọc giúp học sinh viết bài tập làm văn hay hơn.
Phân tích bài thơ "Tiến sĩ giấy" của Nguyễn Khuyến

Dàn ý: Phân tích bài thơ "Tiến sĩ giấy" của Nguyễn Khuyến
* Mở bài
- Giới thiệu tác giả: Nguyễn Khuyến (1835–1909) – nhà thơ tiêu biểu cuối thế kỉ XIX, nổi tiếng với các bài thơ trào phúng, châm biếm sâu sắc.
- Giới thiệu bài thơ: Tiến sĩ giấy là bài thơ châm biếm những người đỗ đạt nhờ bằng cấp, danh hiệu nhưng thiếu năng lực thực chất. Bài thơ vừa hài hước, vừa mỉa mai, gửi gắm thông điệp về thực học và giá trị thực lực.
* Thân bài
- Nội dung: Khắc họa hình ảnh những “tiến sĩ giấy”:
+ “Cũng cờ, cũng biển, cũng cân đai / Cũng gọi ông nghè có kém ai” → họ có danh hiệu, nghi lễ khoa cử đầy đủ nhưng chỉ nhờ giấy tờ.
+ “Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng / Nét son điểm rõ mặt văn khôi” → giấy tờ quyết định thân phận, quyền lực hão.
+ “Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ? / Cái giá khoa danh ấy mới hời!” → danh lợi hão, giá trị hời hợt, không thực chất.
+ “Ghế tréo, lọng xanh ngồi bảnh choẹ / Nghĩ rằng đồ thật, hóa đồ chơi!” → tự phụ, coi danh hiệu hão là quyền lực, nhưng thực tế chỉ là trò chơi.
- Nghệ thuật
+ Thể thơ: thất ngôn bát cú Đường luật, bố cục cân đối, đối ngẫu rõ ràng.
+ Ngôn ngữ: gần gũi, sinh động, hài hước.
- Thủ pháp trào phúng:
• Cường điệu, phóng đại: nhấn mạnh sự hão huyền của tiến sĩ giấy.
• So sánh, ẩn dụ: tấm thân xiêm áo nhẹ, ghế tréo, lọng xanh → hình ảnh hư danh.
• Giọng điệu mỉa mai, châm biếm: vừa gây cười, vừa phê phán thói hư danh, chạy theo hình thức.
- Giá trị tư tưởng
+ Phê phán thói chạy theo danh lợi hão, coi trọng hình thức hơn năng lực thực chất.
+ Nhấn mạnh quan điểm giáo dục: đề cao thực học, thực tài, học để rèn luyện năng lực, không học chỉ để lấy danh hiệu.
+ Gửi thông điệp cảnh tỉnh: tránh tự phụ, ảo tưởng quyền lực hay danh tiếng.
* Kết bài
- Khẳng định giá trị hiện thực và nghệ thuật trào phúng của bài thơ.
- Đánh giá: Tiến sĩ giấy là bài thơ vừa gây cười, vừa sâu sắc, thể hiện quan điểm giáo dục và nhân cách của Nguyễn Khuyến.
- Liên hệ: thông điệp vẫn còn ý nghĩa với học sinh, sinh viên ngày nay về tinh thần học tập nghiêm túc và rèn luyện thực lực.
Phân tích bài thơ Tiến sĩ giấy (Mẫu 1)
Nguyễn Khuyến (1835–1909) là một nhà thơ tiêu biểu của văn học Việt Nam cuối thế kỉ XIX, nổi tiếng với các bài thơ trào phúng, vừa hài hước vừa châm biếm sâu sắc. Ông quan sát tinh tế những hiện tượng xã hội, đặc biệt trong lĩnh vực khoa cử và học vấn, để qua đó gửi gắm bài học về tri thức và nhân cách. Bài thơ Tiến sĩ giấy thể hiện một thực trạng phổ biến: những người nhờ giấy tờ và danh hiệu mà được phong học vị, nhưng lại thiếu năng lực thực chất, tự phụ và hão huyền.
Bài thơ bắt đầu bằng hình ảnh những tiến sĩ giấy với đầy đủ nghi lễ khoa cử: “Cũng cờ, cũng biển, cũng cân đai / Cũng gọi ông nghè có kém ai”. Nguyễn Khuyến sử dụng biện pháp liệt kê để nhấn mạnh sự đầy đủ về hình thức của danh hiệu, đồng thời gợi ra khoảng cách giữa hình thức và thực chất. Những câu tiếp theo, “Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng / Nét son điểm rõ mặt văn khôi”, cho thấy tấm bằng hay giấy chứng nhận đã quyết định địa vị xã hội, quyền lực hão, nhưng tài năng thực sự của con người chưa chắc tương xứng. Qua đó, tác giả bộc lộ nỗi trăn trở trước hiện tượng khoa cử hư danh và thói hư danh trong xã hội phong kiến.
Cường điệu và phóng đại được sử dụng để làm nổi bật bản chất hão của danh lợi: “Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ? / Cái giá khoa danh ấy mới hời!”. Hình ảnh “tấm thân xiêm áo nhẹ” vừa tạo hiệu ứng hài hước, vừa nhấn mạnh rằng quyền lực, danh vọng của họ chỉ là hình thức, không có giá trị thực chất. Nguyễn Khuyến tiếp tục mỉa mai sự tự phụ của các tiến sĩ giấy qua hai câu cuối: “Ghế tréo, lọng xanh ngồi bảnh choẹ / Nghĩ rằng đồ thật, hóa đồ chơi!”, nơi quyền lực và danh hiệu được ví như trò chơi, khiến người đọc vừa bật cười, vừa suy ngẫm về những ảo tưởng hão.
Về nghệ thuật, bài thơ được viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật, bố cục cân đối, đối ngẫu rõ ràng, thể hiện sự chặt chẽ trong truyền thống thơ cổ điển. Ngôn ngữ gần gũi, sinh động, kết hợp với khẩu ngữ đời thường và hình ảnh hài hước, tạo nên giọng điệu trào phúng đặc sắc. Thủ pháp so sánh, ẩn dụ và cường điệu được sử dụng linh hoạt, khiến bài thơ vừa gây tiếng cười vừa khơi gợi những suy nghĩ nghiêm túc về giá trị của tri thức và danh vọng.
Bài thơ còn mang giá trị tư tưởng sâu sắc. Nguyễn Khuyến phê phán thói chạy theo danh lợi hão, coi trọng hình thức hơn năng lực thực chất. Ông nhấn mạnh tầm quan trọng của thực học, thực tài, rèn luyện tri thức và kỹ năng để đạt thành công thực sự. Học để lấy bằng cấp mà không trau dồi năng lực sẽ khiến con người dễ thất bại, đồng thời tạo ra những nguồn nhân lực kém chất lượng, ảnh hưởng đến tiến bộ chung của xã hội. Bài thơ cũng cảnh tỉnh về sự tự phụ, ảo tưởng quyền lực và danh tiếng, đồng thời nhắc nhở mỗi người cần rèn luyện năng lực, học tập nghiêm túc, không chạy theo hình thức hay danh lợi hão.
Nhìn từ góc độ hiện đại, thông điệp của Tiến sĩ giấy vẫn còn nguyên giá trị. Nó không chỉ phản ánh hiện tượng xã hội của thời Nguyễn Khuyến mà còn nhắc nhở thế hệ học sinh, sinh viên ngày nay phải coi trọng kiến thức thực chất và năng lực bản thân, đồng thời tránh chạy theo bằng cấp hay danh hiệu mà quên đi việc rèn luyện khả năng tư duy, kỹ năng và đạo đức. Qua bức tranh hài hước mà sâu sắc này, Nguyễn Khuyến cho thấy sức mạnh của thơ trào phúng: vừa phê phán hiện thực, vừa gieo nhịp suy ngẫm cho người đọc về giá trị đích thực của học vấn và danh vọng.
Phân tích bài thơ Tiến sĩ giấy (Mẫu 2)
Cùng là thơ trào phúng, nếu Trần Tú Xương góc cạnh, sâu cay bao nhiêu thì Nguyễn Khuyến lại nhẹ nhàng, kín đáo bấy nhiêu. Giáo sư Dương Quảng Hàm từng nhận xét chất trào phúng trong thơ Nguyễn Khuyến chính là lời của bậc đại nhân quân tử dùng để khuyên răn người đời. Đặc điểm đó của bút pháp trào phúng trong thơ Nguyễn Khuyến được khắc họa rõ nét qua tác phẩm thơ Tiến sĩ giấy.
Nhà thơ Nguyễn Khuyến đã sáng tác Tiến sĩ giấy theo thể thơ thất ngôn bát cú - một thể thơ đường luật vô cùng quen thuộc với các cây bút thời trung đại. Bài thơ đi theo cấu tứ đề thực luận kết rất chỉn chu, mẫu mực, với các thi pháp văn học trung đại tinh tế đã làm bật lên nét sang trọng trong thơ ông.
“Cũng cờ, cũng biển, cũng cân đai,
Cũng gọi ông nghè có kém ai.”
Ngay hai câu đề, điệp từ “cũng” đã đươcn xuất hiện liên tiếp bốn lần. Từ “cũng” gợi lên cảm giác khá khiên cưỡng với sự vật xuất hiện phía sau nó. Khiến những cờ, biển, cân đai trở nên kém phần oai nghiêm, trang trọng. Theo đó, tác giả liệt lê ra các phục sức xuất hiện trên người của một vị tiến sĩ - người có chức quan đỗ cao nhất trong một kì thi lớn, đứng đầu bảng vàng. Đó là những món đồ sang quý, biểu tượng cho người có vị thế, được nhiều người kính trọng. Biết bao sĩ tử tham gia vào con đường thi cử đều ao ước được mặc lên người những phujmc sức đó. Tuy nhiên, khi các phục sức cao quý ấy được liệt kê bằng điệp từ cũng mang vẻ khoe khoang, thì bỗng nhiên lại mang đậm tính mỉa mai. Đến cả danh xưng “ông nghè” oai phong cũng không nằm ngoài số phận đấy. Đặc biệt khi nó được đi cùng với cụm từ “có kém ai”. Cụm từ ấy khiến cho chức vị ông nghè trở nên giải dối, học đòi, không có vẻ trang nhã của người có học thức. Nhưng vì sao tác giả lại mập mờ về thái độ với vị tiến sĩ này như vậy? Điều đó được nêu rõ ở hai câu thực tiếp theo.
“Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng,
Nét son điểm rõ mặt văn khôi.”
Ở đây, nhà thơ đã khẳng định sự tinh tế của bản thân khi sử dụng nghệ thuật đối một cách nhuần nhuyễn, tự nhiên. Mảnh giấy đối với thân giáp bảng, nét son đối với mặt văn khôi. Thông thường, phép đối trong thơ trung đại rất tôn sùng sự đăng đối, ngang hàng với nhau, nhưng trong hai câu thơ này, sự đăng đối có phần khiên cưỡng. Giáp bảng là bảng rồng công bố danh sách thi sinh đỗ bảng vàng. Thân giáp bảng là người đỗ đạt cao, được bao người trọng vọng, ấy thế mà lại đối với một mảnh giấy vụn. Khuôn mặt tuấn tú, uy nghiêm của một trạng nguyên thì lại đối với một nét bút mực chấm đỏ. Sự chênh lệch một trời một vực về tính chất, giá trị của cả hai vế lúc này được hiển thị rõ ràng. Bởi thật ra, vị tiến sĩ này chính là một vị tiến sĩ làm từ giấy - món đồ chơi phổ biến trong dân gian. Sự đăng đối một cách kì lạ giữa các vế thơ đã được làm sáng tỏ. Tuy nhiên nếu chỉ dừng lại ở tầng nghĩa đó, thì còn đâu là thơ Nguyễn Khuyến. Từ đầu đến cuối, chẳng có câu chữ nào nói rằng nhà thơ đang tả một món đồ chơi cả. Thật thật, giả giả chẳng biết đâu mà phán đoán. Đó cũng chính là ngụ ý của nhà thơ. Một món đồ chơi tiến sĩ chỉ cần mẩu giấy vụn, chấm một nét mực là đã có thể tạo thành. Quá đơn giản và dễ dàng. Cách để tạo ra một tiến sĩ thật cũng thế. Chỉ cần quan chấm thi ậm ừ một nét bút, thế là đã có một tiến sĩ ra lò. Thật ở cái chức danh, cái áo quan, cái mão đội trên đầu, nhưng giả ở cái nội tình bên trong, ở cái trí tuệ ở trong người. Hình dáng vị tiến sĩ thật và tiến sĩ giấy lồng ghép vào nhau, tuy hai mà một, tuy thật mà giả. Sự trào phúng thâm thúy qua câu từ đó, chính là thủ pháp đặc trưng của nhà thơ Nguyễn Khuyến.
“Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ,
Cái giá khoa danh ấy mới hời.”
Đến với hai câu thơ luận, lần này, từ việc miêu tả khách quan chung chung để dẫn dắt người đọc. Thì lần này, nhà thơ đã chuyển sang nhận xét chủ quan. Vẫn là hình ảnh tấm xiêm áo, thân giáp bảng ở câu thực, lần này đã được nhận xét chi tiết thêm. Các tính từ “nhẹ”, “hời” khiến bộ phục sức của tiến sĩ càng thêm kém trang trọng. Xiêm áo đó nhẹ bởi vì nó là mẩu giấy vụn, nhưng cũng có lẽ bởi bên trọng nó rỗng tuếch, chẳng có chút phẩm đức, trí tuệ nào cả. Chiếc áo trạng nguyên quá rộng với một kẻ ngu dốt. Còn danh trạng nguyên thì lại quá hời. Từ hời được dùng cho một phi vụ buôn bán mà chỉ phải bỏ ra một chút vốn, đã đem lại được nhiều lợi ích. Ắt hẳn cái danh trạng nguyên và những thứ có được sau khi đỗ đạt còn nhiều hơn số tiền bỏ ra mua chức trạng nguyên. Phía sau sự chế giễu vẻ rỗng tuếch, hữu danh vô thực của ông tiến sĩ giấy kia, là sự giễu nhại những vị tiến sĩ đầu óc trống trơn, bụng chẳng được mấy trang kinh thư, chỉ dựa vào ít tiền của để vinh danh bảng vàng. Nhưng cùng với đó, là sự ngậm ngùi, chua xót cho chính thân phận mình. Bởi nhà thơ Nguyễn Khuyến cũng là một tiến sĩ. Ông cay đắng thay cho phận mình, bởi giờ đây cái danh tiến sĩ đâu còn danh giá như xưa. Trong mắt thế nhân, nó chỉ là một món đồ chơi tầm thường có thể mua được bằng tiền mà thôi.
Nỗi niềm ấy, khiến nhà thơ lại càng thêm gay gắt, càng thêm chán ghét những tiến sĩ giấy ngoài kia. Lấy hai câu thơ luận làm đòn bẩy, Nguyễn Khuyến đi đến câu thơ kết mang nhiều suy tư và ngụ ý:
“Ghế chéo lọng xanh ngồi bảnh choẹ,
Tưởng rằng đồ thật hoá đồ chơi.”
“Ghế chéo, lọng xanh” là vị trí ngồi của một vị tiến sĩ - vị trí oai nghiêm bao học trò ngưỡng mộ. Nhưng dáng ngồi bảnh chọe của vị tiến sĩ rởm đã phá tan hoàn toàn bầu không khí đó. Tiến sĩ vốn là đại diện cho những người đứng đầu xã hội về học vấn, ấy thế mà lại bị miêu tả với dáng vẻ thô thiển, kệch cỡm của những kẻ mãng phu. Sự trào phúng ấy đã giáng một đòn chí mạng vào những kẻ học đòi kia. Vốn đã chẳng có trí tuệ, chẳng có học thức, nay đến vẻ ngoài cũng kệch cỡm, không bắt chước nổi cho ra dáng một vị tiến sĩ. Thế thì những kẻ đó có gì nhỉ? Chẳng có gì cả. Ở câu thơ cuối, nhà thơ sử dụng động từ “tưởng” để vạch trần sự giả dối của những tiến sĩ trên kia. Tưởng là đồ thật, hóa đồ chơi. Thì ra từ đầu bài thơ đến đây, tác giả vẫn còn ngờ ngợ về sự thực chất của các tiến sĩ. Nhưng giờ đây ông đã chắc chắn rằng, đó chỉ là đồ chơi mà thôi. Câu khẳng định ấy đã vạch trần tấm màn che cuối cùng, khiến các tiến sĩ rởm không còn chỗ ẩn náu nữa.
Mượn hình ảnh tiến sĩ giấy - một món đồ chơi dân gian, nhà thơ Nguyễn Khuyến dùng giọng điệu mỉa mai, trào phúng của mình để phê phán, vạch trần bộ mặt thật của các vị tiến sĩ đương thời. Đó là những kẻ bù nhìn, chỉ có vẻ ngoài kệch cỡm cố bắt chước, ra vẻ. Nhưng vì chẳng có nội hàm, cái đầu lại rỗng tuếch nên tự biến mình thành trò hề, thành món đồ chơi cho những kẻ cầm quyền. Những tiến sĩ đó là đại diện cho nền học vấn của nước nhà, đại diện cho cả một triều đình phong kiến. Sự giả tạo, rỗng tuếch của họ chính là đại biểu cho một triều đại mục rỗng ở bên trong. Đó cũng chính là một trong các lí do khiến Nguyễn Khuyến lựa chọn rời bỏ triều đình để ẩn cư.
Phân tích bài thơ Tiến sĩ giấy (Mẫu 3)
Thơ trào phúng là một chùm thơ tuy có số lượng không đồ sộ như các chủ đề khác, nhưng mỗi tác phẩm thuộc chùm thơ này đều ghi dấu ấn sâu đậm trong lòng độc giả. Nổi bật trong số đó là tác phẩm “Tiến sĩ giấy” của Nguyễn Khuyến.
Bài thơ được viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật - một thể thơ rất được Nguyễn Khuyến ưu ái, sử dụng trong rất nhiều những sáng tác của mình. Khác với bố cục đề thực luận kết thường gặp, bài thơ này không chia thành từng phần cụ thể. Mà các câu thơ đều xâu chuỗi, gắn kết với nhau, tạo nên hai tầng nghĩa bao trùm lên toàn tác phẩm. Ở tầng nghĩa thứ nhất ở trên bề mặt câu chữ, tác giả tái hiện lại hình ảnh những tiến sĩ làm từ giấy - món đồ chơi quen thuộc của trẻ em ngày xưa. Tuy chỉ là đồ chơi, nhưng chúng vẫn được chăm chút cho một vẻ ngoài “bảnh tỏn” không thua kém gì tiến sĩ thật. Điệp từ “cũng” kết hợp với các món đồ trang bị của tiến sĩ như biển, cân đai, cờ lọng, danh gọi “ông nghè” đã gián tiếp khẳng định điều đó. Nhưng bước sang các câu thơ sau, hình ảnh những món đồ chơi này lại bỗng trở nên khả ố, hài hước. Rõ là đồ chơi thì hiển nhiên phải làm từ những mảnh giấy, ngũ quan làm nên từ nét son, và cầm lên tay phải nhẹ hều. Vì sao lại thấy kì lạ, khập khiễng? Bởi vì ở đây, món đồ chơi này không còn là đồ chơi nữa, mà tác giả đang ẩn dụ đến những vị tiến sĩ đương thời - tầng lớp nghĩa thứ hai của bài thơ. Ở đây, những vị tiến sĩ đã đề tên bảng vàng, trong mắt tác giả cũng chẳng hơn gì những món đồ chơi. Bởi trong đầu họ chẳng có tí kiến thức nào, rỗng tuếch, nhẹ hều như mấy món đồ chơi bằng giấy. Họ cũng chẳng có dáng vẻ đường hoàng, đĩnh đạc của các bậc Nho sĩ, đức cao trọng vọng. Mà trông thật lố lăng, bảnh chọe. Câu kết bài thơ “Nghĩ rằng đồ thật, hóa đồ chơi” đã gián tiếp thể hiện sự khinh thường, chê cười của tác giả dành cho những tiến sĩ “đồ chơi” đó. Bởi các tiến sĩ này cũng chỉ là trò mua vui cho những người Tây, của những vua quan quý tộc. Ngoài làm trò ra, họ chẳng thể giúp ích gì cho đời. Thậm chí còn chẳng bằng những món đồ chơi đem lại tiếng cười cho trẻ thơ. Nhưng cùng với tiếng cười phê phán, chê trách những vị tiến sĩ giấy đó, câu thơ còn là tiếng cười mà tác giả tự dành cho chính mình. Bởi dù có một bụng kinh thư, một trời hoài bão, thì khi đất nước nguy nan, ông cũng chẳng thể đóng góp cho đời, chẳng thể đem tài sức của mình ra hỗ trợ người dân. Tiếng cười ấy thốt lên thật chua chát và cay đắng làm sao.
Từ “Tiến sĩ giấy”, người đọc tiếp cận được với bộ mặt của thời đại lúc bấy giờ, khi những giá trị bị đảo lộn. Kẻ đầu óc trống rỗng cũng được đề danh bảng vàng. Cái danh hiệu trạng nguyên cao quý nay cũng thành một món đồ chơi. Cùng với đó là sự bất lực đầy chua xót của những tiến sĩ chân chính nhưng chẳng thể làm gì dược trước bánh xoay vận mệnh.
Phân tích bài thơ Tiến sĩ giấy (Mẫu 4)
Được biết đến là nhà thơ của quê hương làng cảnh Việt Nam, Nguyễn Khuyến đã miêu tả đời sống nông thôn với ngòi bút giản dị, ấm áp. Thế nhưng, những vần thơ của ông còn gửi gắm tâm sự yêu nước, nỗi u hoài trước sự đổi thay của thời cuộc. Thế kỉ XIX với những khủng hoảng về tư tưởng và kinh tế khiến nhà thơ không khỏi cảm thấy bất lực. "Tiến sĩ giấy" là bài thơ trào phúng thể hiện cái nhìn mỉa mai, châm biếm của Tam nguyên Yên Đổ đối với hạng người mang danh khoa bảng mà không có thực chất, đồng thời cũng mang thoáng chút tự trào của tác giả.
Nhan đề bài thơ "Tiến sĩ giấy" vốn để miêu tả một nét đẹp văn hóa của dân tộc ta. Đó là hình nộm bằng giấy cho trẻ em chơi trung thu, giả hình ông tiến sĩ để khơi dậy trẻ em lòng ham học và ý thức theo con đường khoa cử. Tuy nhiên trong văn bản, "giấy" không chỉ để gợi về chất liệu mà còn khiến người đọc liên tưởng đến tính chất hư danh. Bởi vậy, đặt tên tác phẩm là "Tiến sĩ giấy", Nguyễn Khuyến đã ngụ ý phê phán một cách khéo léo tính chất hư danh của học vị tiến sĩ trong thời buổi Hán học suy tàn, Tây học ngày càng lấn át.
Mở đầu bài thơ, hình tượng ông tiến sĩ giấy hiện lên với những nét phác họa khái quát nhất:
"Cũng cờ, cũng biển, cũng cân đai
Cũng gọi ông nghè có kém ai."
Đối tượng Nguyễn Khuyến miêu tả có "cờ", có "biển" - tấm biển gỗ in chữ "ân tứ vinh quy", có "cân đai" - khăn bịt tóc để đội mũ và đai đeo ngang lưng. Tất cả những thứ đó tạo nên y phục của quan lại, quý tộc lớn thời phong kiến. Thế nhưng điệp từ "cũng" được nhắc đi nhắc lại đến bốn lần ở đầu mỗi dòng thơ khiến người đọc không thể nghi ngờ bản chất của đối tượng. Tuy giống nhưng đó không phải là ông tiến sĩ thật, hóa ra đó chỉ là ông tiến sĩ làm bằng giấy để tạo thành đồ chơi cho trẻ con. Câu thơ vì thế thoáng chút mỉa mai, châm biếm của tác giả.
Đến với hai câu thực, hình dáng tiến sĩ giấy được khắc họa rõ nét hơn:
"Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng
Nét son điểm rõ mặt văn khôi."
Tiến sĩ giấy ấy chỉ cần vài mảnh giấy là tạo thành hình dáng, chỉ cần vài ba nét son là tạo nên khuôn mặt của một người đứng đầu làng văn. Vậy nhưng hàm ý của Nguyễn Khuyến đâu dừng ở đó, câu thơ ẩn sâu dưới nghĩa tả thực là nghĩa ẩn dụ. Phải chăng để trở thành một tiến sĩ, có danh khoa bảng sao mà dễ dàng đến thế, chỉ cần vài ba "mảnh giấy" (tiền giấy) là có thể làm được? Bởi vậy, đến hai câu thực, nhà thơ trực tiếp bày tỏ cảm xúc của mình:
"Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ
Cái giá khoa danh ấy mới hời."
Để trở thành tiến sĩ mang danh khoa bảng, bao nhiêu giọt mồ hôi phải đổ trên trang sách, bao ngày dùi mài kinh sử cần mẫn, vậy mà giờ đây, "tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ" đến thế. Thực trạng đất nước lúc bấy giờ với những thay đổi về đường hướng tuyển chọn nhân tài, tệ mua danh bán chức diễn ra phổ biến dẫn đến xuất hiện những kẻ chỉ có hư danh mà không có thực học. Hậu quả là, những người có tài năng thực sự, những người bằng thực lực của mình đỗ đạt cao cũng chỉ bằng những kẻ "tiến sĩ giấy". Bởi vậy, giọng điệu hai câu thơ, đặc biệt "cái giá khoa danh ấy mới hời" cất lên sao mà chua chát, thoáng chút tự trào của nhà thơ. Tác giả như vừa châm biếm mỉa mai thực trạng xã hội, vừa cười người nhưng để rồi cười mình, để xót xa cho chính bản thân và cho cả đất nước.
Tiếng cười ở hai câu thực đã chua chát, sâu cay nhưng phải đến hai câu thơ kết, tính chất trào phúng của bài thơ mới thực sự đạt tới đỉnh cao, nó phá tan thật thật giả giả ở các câu thơ trước:
"Ghế chéo lọng xanh ngồi bảnh chọe
Nghĩ rằng đồ thật hóa đồ chơi."
Ông tiến sĩ giấy hiện lên với hành động "ngồi bảnh chọe" gợi dáng vẻ oai vệ cùng lối ăn mặc đầy tính trưng diện, kết hợp với "ghế tréo" và "lọng xanh" oai nghiêm. Ta như cảm nhận được thái độ đả kích của tác giả với những kẻ nhờ có đồng tiền lo lót mà mua quan bán chức, không chỉ vậy những kẻ đó còn thích thể hiện, ra oai. Tất cả làm nên ông tiến sĩ kệch cỡm, đáng khinh thường. Để rồi, kết lại bài thơ, ông bày tỏ quan điểm của mình một cách trực tiếp: "tưởng rằng đồ thật hóa đồ chơi". Cứ nghĩ là thật nhưng đến đây mới vỡ òa chỉ là một thứ đồ chơi bằng giấy, kết thúc khiến bao bạn đọc bất ngờ nhưng khi xét đến khía cạnh tự nhiên lại thấy hoàn toàn hợp lí. Nhà thơ như đang lột tả bản chất trống rỗng, chỉ có hư danh mà không có thực học của những ông nghè có thực trong đời sống. Là người trong cuộc, thấy được bộ mặt thật của cả xã hội bấy giờ, rằng những kẻ có danh mà không có thực ngày càng được đề cao, Nguyễn Khuyến chỉ biết bất lực mỉa mai và tự xót xa cho chính bản thân mình:
"Nghĩ mình cũng gớm cho mình nhỉ
Thế cũng bia xanh cũng bảng vàng"
(Tự trào)
Bài thơ mượn hình ảnh tiến sĩ giấy quen thuộc từ thực tế đời sống để phê phán hạng người mang danh khoa bảng nhưng không có thực chất, cùng đó thể hiện thái độ tự trào của nhà thơ. Không phải chỉ trong thời đại của Nguyễn Khuyến, hiện tượng đó mới phổ biến mà ở bất cứ thời đại nào, đây vẫn là đề tài nóng bỏng của xã hội. Nhìn vào những mặt trái của thực tế ấy để khắc phục, đó mới là một xã hội bình đẳng và tiến bộ.
Xem thêm các chương trình khác:
- Các dạng bài tập Tiếng Anh thông dụng nhất
- 3000 câu hỏi ôn tập môn Tiếng Anh có đáp án
- Toàn bộ kiến thức về cụm động từ | Định nghĩa và cách dùng
- 500 đoạn văn Tiếng Anh thông dụng nhất và cách làm
- 1000 câu hỏi ôn tập môn Công nghệ có đáp án
- 1000 câu hỏi ôn tập Giáo dục công dân
- 15000 câu hỏi ôn tập môn Toán có đáp án
- Wiki Toán | Khái niệm, định lí, tính chất, dạng bài, công thức
- Tuyển tập đề thi + chuyên đề ôn thi Toán Kangaroo các cấp độ (có đáp án 2026)
- 3000 câu hỏi ôn tập môn Vật lí có đáp án
- Tổng hợp Dạng bài - Công thức môn Vật lí
- Phương trình hóa học | Tổng hợp PTHH của các chất hữu cơ, vô cơ chính xác nhất
- Đồng phân & Công thức cấu tạo của các chất hữu cơ
- Nhận biết các chất Hóa học
- Cấu hình electron
- So sánh bán kính nguyên tử và bán kính ion
- 1000 câu hỏi ôn tập môn Hóa có đáp án
- Wiki các chất hóa học | Định nghĩa, tính chất, nhận biết, điều chế, ứng dụng
- Cách đọc danh pháp hóa học (chương trình mới) đầy đủ nhất
- Công thức Lewis của một số chất thường gặp (chương trình mới)
- Công thức electron của một số chất thường gặp (chương trình mới)
- Công thức cấu tạo của một số chất thường gặp (chương trình mới)
- Công thức hợp chất khí với hidro của các nguyên tố (phổ biến) | Cách viết công thức hợp chất khí với hidro
- Công thức hidroxit cao nhất của các nguyên tố (phổ biến) | Cách viết công thức hidroxit cao nhất
- Công thức oxit cao nhất của các nguyên tố (phổ biến) | Cách viết công thức oxit cao nhất
- 2000 câu hỏi ôn tập môn Tin học có đáp án
- 3000 câu hỏi ôn tập môn Lịch sử có đáp án
- 3000 câu hỏi ôn tập môn Địa lí có đáp án
- 2000 câu hỏi ôn tập môn Sinh học có đáp án
- Tổng hợp Dạng bài - Công thức môn Sinh học
- Trò chơi Powerpoint | Game Powerpoint
- Tổng hợp bài thu hoạch BDTX Giáo viên mầm non (2025) theo Thông tư 12
- Tổng hợp bài thu hoạch BDTX Giáo viên tiểu học (2025)
- Tổng hợp bài thu hoạch BDTX Giáo viên THCS (2025)
- Tổng hợp bài thu hoạch BDTX Giáo viên THPT (2025)
- Tổng hợp thông tin, kiến thức chung
- Tiền tiểu học
