TOP 5 mẫu Phân tích bài thơ Thiên Trường vãn vọng (2026) SIÊU HAY
Phân tích bài thơ Thiên Trường vãn vọng gồm dàn ý và những bài văn mẫu hay nhất, chọn lọc giúp học sinh viết bài tập làm văn hay hơn.
Phân tích bài thơ Thiên Trường vãn vọng

Dàn ý: Phân tích bài thơ Thiên Trường vãn vọng
I. Mở bài:
- Giới thiệu khái quát về tác giả Trần Nhân Tông và bài thơ “Thiên Trường vãn vọng”.
- Nêu ý kiến chung về bài thơ.
II. Thân bài
1. Giới thiệu nhan đề bài thơ.
- Nhan đề bài thơ ngắn gọn mà ý nghĩa: Vừa gợi không gian cụ thể “Thiên Trường” là quê hương của nhà thơ, nơi nhà vua cho xây dựng một hành cung (cung điện ở ngoài kinh thành) để nghỉ lại mỗi khi về quê tế lễ tổ tiên vừa gợi mở thời gian “vãn” là buổi chiều tà, vừa cho biết vị trí quan sát của nhà thơ “vọng” - ngắm từ xa.
- “Thiên Trường vãn vọng” có nghĩa là: Ngắm cảnh Thiên Trường trong buổi chiều tà.
2. Phân tích đặc điểm nội dung.
* Hai câu thơ đầu: Gợi tả khung cảnh nơi làng quê ở Thiên Trường trong ánh chiều tà khi hoàng hôn buông xuống. (1,0 điểm)
- Bốn chữ “thôn Hậu thôn Tiền” và “bán vô bán hữu” liên kết đôi → một cái nhìn bao quát từ sau đến trước, từ cuối thôn tới đầu làng → gợi hình ảnh của thôn làng trù phú, đông đúc.
- Hình ảnh so sánh “đạm tự yên” (mờ như khói phủ) → “trước xóm sau thôn” có sức gợi tả cao:
+ Khói ở đây có thể hiểu là những làn sương mỏng nhẹ buông xuống lúc hoàng hôn, lững lờ trong không trung.
+ Cũng có thể liên tưởng đây là sương đêm pha quyện với khói lam chiều tỏa ra từ những mái rạ, những căn bếp của người dân buổi chiều tối.
- Điệp từ “bán” (một nửa) kết hợp với cặp từ trái nghĩa “vô-hữu” và cụm từ “tịch dương biên” (mặt trời đang dần lặn xuống trong thời khắc chuyển giao giữa ngày và đêm) → khắc họa rõ trạng thái của cảnh vật lúc chuyển giao giữa sáng với tối. Cảnh vật hiện ra mờ ảo, nửa như có nửa như không.
→ Cảnh vật thiên nhiên độc đáo, mơ hồ như một bức tranh với không gian yên bình, thân thuộc của làng quê khi chiều xuống. Không gian ấy thoáng rộng, bình yên, êm đềm, nên thơ tạo đường nét hài hòa, cân đối, làm nền cho sự xuất hiện của những hình ảnh thiên nhiên, cuộc sống con người ở những câu thơ sau.
* Hai câu thơ còn lại: Bức tranh thiên nhiên và cuộc sống làng quê sống động qua sự vật. (1,0 điểm)
- Hình ảnh “Mục đồng địch lí” - trẻ chăn trâu thổi sáo lùa trâu về trên những nẻo đường quê, vừa gợi thời gian của buổi hoàng hôn vừa gợi không gian yên bình – khi mọi hoạt động dần lắng xuống, con người và các loài vật đều tìm về nơi sum vầy, nghỉ ngơi…
- Âm thanh tiếng sáo của trẻ chăn trâu cất lên véo von là âm thanh duy nhất vang lên trong cả bài thơ.
+ Thủ pháp lấy động tả tĩnh được sử dụng tinh tế: Giữa không gian yên bình, tĩnh lặng của buổi chiều quê, tiếng sáo quen thuộc, tô điểm thêm sự sống động, vẻ thanh bình của cuộc sống nơi làng quê.
- Hình ảnh “Bạch lộ song song” - đôi cò trắng không mải miết, vội vã bay về tổ mà thong dong, nhẹ nhõm đậu xuống cánh đồng quê thể hiện bức tranh đồng quê Bắc Bộ thanh bình, yên ả và rất đỗi gần gũi, bình dị.
+ Màu trắng của từng đôi cò liệng xuống đồng cũng làm không gian bớt phần quạnh hiu. Câu thơ không chỉ gợi khung cảnh đồng quê bình yên mà còn mở ra liên tưởng về những vụ mùa no ấm, về sự sinh sôi nảy nở, nhịp sống bình yên quý giá.
→ Hai câu thơ thể hiện sự quan sát tinh tế, tâm hồn nhạy cảm và thái độ nâng niu, trân trọng vạn vật của một Hoàng Đế, của một Thiền Sư Đắc Đạo, của một thi nhân. Nhà thơ thể hiện tình yêu thương, thái độ trân trọng dành cho thiên nhiên, con người, cuộc sống, niềm vui, hạnh phúc trước vẻ đẹp thanh bình của cuộc sống đời thường.
→ Khái quát: Bài thơ là bức tranh cuộc sống bình yên, thơ mộng nơi làng quê sau những năm chiến tranh. Qua đó cho thấy vẻ đẹp tâm hồn của tác giả - vị hoàng đế - thi nhân Trần Nhân Tông.
2. Phân tích một số nét đặc sắc nghệ thuật.
- “Thiên Trường vãn vọng” được viết bằng chữ Hán theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật (luật trắc, vần bằng), là một sáng tác mẫu mực cho thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật.
- Ngôn ngữ thơ hàm súc, hình ảnh thơ bình dị mà chọn lọc giàu sức gợi tả, gợi cảm.
- Sử dụng bút pháp miêu tả tinh tế, tả ít gợi nhiều; thủ pháp lấy động tả tĩnh được sử dụng tinh tế.
- Kết hợp phép đối và điệp từ một cách sáng tạo.
- Cách ngắt nhịp 2/2/3 cùng giọng điệu nhẹ nhàng, trong sáng đã tạo nên nét đẹp riêng cho bài thơ.
* Lưu ý: HS có thể phân tích lồng ghép các yếu tố nghệ thuật này trong bài làm vẫn cho điểm tối đa.
III. Kết bài: Khẳng định vị trí và ý nghĩa bài thơ.
Phân tích bài thơ Thiên Trường vãn vọng (mẫu 1)
Trần Nhân Tông không chỉ là một vị vua anh minh, đức độ và khoan dung mà còn là một nhà thơ, nhà văn hóa kiệt xuất của thời Trần. Ông là người sáng lập Thiền phái Trúc Lâm, đồng thời để lại nhiều tác phẩm mang giá trị tư tưởng và nghệ thuật sâu sắc. Trong số đó, bài thơ Thiên Trường vãn vọng được xem là một thi phẩm tiêu biểu, thể hiện rõ tâm hồn tinh tế và tình yêu tha thiết của ông đối với quê hương.
Tác phẩm được sáng tác trong dịp Trần Nhân Tông trở lại thăm quê cũ – vùng Thiên Trường, nơi gắn bó với tuổi thơ và cũng là cội nguồn của bao kỷ niệm thân thương. Bức tranh buổi chiều quê nhà hiện ra yên bình, tĩnh lặng nhưng lại gợi lên trong lòng người đọc bao xúc cảm bồi hồi, man mác.
Thôn hậu, thôn tiền đạm tự yên,
Bán vô, bán hữu tịch dương biên.
Chỉ bằng vài nét chấm phá nhẹ nhàng, tác giả đã khắc họa một khung cảnh thôn quê buổi chiều mờ ảo, nửa thực nửa hư. Làn khói lam bảng lảng bay lên từ mái bếp nhỏ, quyện trong ánh hoàng hôn vàng nhạt, khiến toàn bộ ngôi làng như chìm trong bức tranh thủy mặc êm đềm.
Điệp từ “bán” (nửa) được sử dụng tinh tế, diễn tả cảm giác mơ hồ, bâng khuâng của người ngắm cảnh: cảnh vật dường như có mà lại như không, vừa hiện hữu lại vừa ẩn khuất trong khói chiều. Không gian tĩnh mịch, thời gian ngả dần về tối gợi nên một nỗi buồn nhẹ, một niềm thương nhớ quê hương sâu kín. Đó cũng chính là tâm hồn nhạy cảm, tinh tế của vị thi nhân đã đạt đến sự hòa điệu giữa con người và thiên nhiên.
Mục đồng địch lý quy ngưu tận,
Bạch lộ song song phi hạ điền.
Bức tranh quê không dừng lại ở nét tĩnh lặng, mà còn có cả âm thanh và chuyển động – tiếng sáo của chú bé mục đồng vang vọng trong không gian chiều tà, dìu dặt và thân thương biết bao. Hình ảnh chú bé dẫn trâu về nhà làm cho cảnh vật trở nên sinh động, ấm áp hơn. Tiếng sáo ấy như nối liền trời và đất, hiện thực và ký ức, mang theo hơi thở yên bình của cuộc sống nông thôn.
Hình ảnh đôi cò trắng bay song song giữa cánh đồng càng làm tăng vẻ nên thơ cho khung cảnh. Cánh cò – biểu tượng thân thuộc của làng quê Việt – không chỉ gợi sự thanh bình mà còn ẩn chứa niềm vui sum vầy, no đủ. Qua hình ảnh ấy, ta cảm nhận được niềm tự hào, tình yêu sâu nặng của tác giả đối với quê hương và cuộc sống dân dã của muôn dân.
Với Thiên Trường vãn vọng, Trần Nhân Tông đã vẽ nên một bức tranh làng quê chan hòa ánh sáng và tình người. Dưới ngòi bút của ông, thiên nhiên không tĩnh lặng mà tràn đầy sức sống, vừa giản dị mà cũng đầy thi vị. Lối dùng từ tinh tế, hình ảnh giàu chất hội họa cùng nhịp thơ êm dịu đã tạo nên một bài thơ mang đậm phong vị thiền và hồn quê Việt Nam.
Qua đó, ta thấy được tấm lòng yêu nước, yêu dân, yêu cuộc sống thanh bình của vị vua thi sĩ – người đã từng nếm trải vinh quang chốn cung đình nhưng vẫn hướng tâm hồn mình về với đồng ruộng, khói lam và tiếng sáo đồng quê
Phân tích bài thơ Thiên Trường vãn vọng (mẫu 2)
Bài thơ Buổi chiều đứng ở phủ Thiên Trường trông ra là một trong những tác phẩm tiêu biểu của vua Trần Nhân Tông – vị vua anh minh, đức độ và cũng là một thi nhân tài hoa của triều Trần. Tác phẩm được sáng tác trong một lần nhà vua trở lại thăm quê cũ Thiên Trường (Nam Định). Chỉ bằng vài nét chấm phá tinh tế, tác giả đã vẽ nên một bức tranh chiều quê vừa giản dị vừa huyền ảo, mang đậm hơi thở thiền và tình yêu tha thiết với thiên nhiên, con người nơi thôn dã.
Từ xưa đến nay, buổi chiều tà luôn là thời khắc dễ gợi cảm xúc trong lòng thi nhân. Khi ngày tàn, ánh nắng dịu dần, không gian như phủ một màn sương mỏng, khiến lòng người trở nên bâng khuâng, trầm lắng. Trong thi ca Việt Nam, không ít lần khung cảnh chiều được lấy làm nền cho nỗi nhớ quê, nỗi cô đơn hay niềm cảm hoài về kiếp người. Bà Huyện Thanh Quan từng để lại “Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà” – một nỗi sầu man mác. Còn trong ca dao, câu hát “Chiều chiều ra đứng ngõ sau / Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều” lại chất chứa bao niềm thương nhớ.
Với Trần Nhân Tông, cảnh chiều không gợi buồn, mà trở thành biểu tượng của sự hòa hợp giữa tâm hồn thi nhân và thiên nhiên, giữa con người và vũ trụ.
Thôn hậu, thôn tiền đạm tự yên,
Bán vô, bán hữu tịch dương biên.
Trước mắt người đọc mở ra một khung cảnh làng quê phủ sương chiều, nơi “thôn trước, thôn sau” đều ẩn hiện trong làn khói lam bảng lảng. Đó là làn khói bếp thân quen của xóm làng Việt, hòa quyện với ánh hoàng hôn dịu nhẹ, tạo nên bức tranh vừa thực vừa mơ.
Điệp từ “bán” (nửa) thể hiện cảm nhận tinh tế của thi nhân: cảnh vật như đang tan vào cõi mộng, nửa có nửa không, khiến tâm hồn người thưởng ngoạn cũng trở nên an nhiên, tĩnh tại. Cảnh chiều Thiên Trường hiện ra không rực rỡ, mà thấm đẫm vẻ đẹp hiền hòa, thanh thoát – đúng phong vị của thơ thiền.
Mục đồng địch lý quy ngưu tận,
Bạch lộ song song phi hạ điền.
Giữa khung cảnh tĩnh lặng, tiếng sáo mục đồng vang lên như đánh thức cả không gian. Hình ảnh chú bé chăn trâu thong dong trên đường làng gợi một cảm giác thân thương, gần gũi. Âm thanh tiếng sáo không phá vỡ sự yên tĩnh, mà như hòa vào trong đó, tạo nên nhịp sống bình dị, ấm áp của làng quê.
Đặc biệt, hình ảnh “bạch lộ song song phi hạ điền” – đôi cò trắng bay lượn trên cánh đồng – đã hoàn thiện bức tranh quê đầy sức sống. Cánh cò không chỉ là điểm nhấn nghệ thuật mà còn là biểu tượng cho sự yên bình, sum vầy, và sinh sôi của cuộc sống nông thôn. Dưới ngòi bút tinh tế của Trần Nhân Tông, cảnh vật trở nên có hồn, thấm đẫm hơi thở con người.
Buổi chiều đứng ở phủ Thiên Trường trông ra không chỉ là một bức tranh thiên nhiên mà còn là bức họa tâm hồn của thi nhân. Trong không gian thanh tịnh, nhẹ nhàng ấy, ta cảm nhận được tấm lòng yêu quê hương tha thiết, tình cảm gắn bó máu thịt của nhà vua với mảnh đất dân dã nơi chôn nhau cắt rốn.
Nghệ thuật miêu tả cô đọng, hình ảnh giàu tính gợi, ngôn ngữ mang đậm chất hội họa và thiền vị đã giúp bài thơ trở thành một kiệt tác nhỏ gọn mà sâu sắc, thể hiện rõ tinh thần nhân văn và triết lý sống an nhiên của Trần Nhân Tông – vị vua đã hòa mình vào dân, sống giữa lòng dân.
Với bốn câu thơ ngắn gọn, Buổi chiều đứng ở phủ Thiên Trường trông ra đã chạm tới vẻ đẹp tinh khiết nhất của làng quê Việt Nam và tâm hồn thiền sư thi sĩ Trần Nhân Tông. Bài thơ không chỉ là lời ngợi ca thiên nhiên thanh bình, mà còn là tấm gương phản chiếu tâm hồn thanh cao, hướng thiện của một bậc minh quân đã tìm thấy niềm an vui giữa khói lam chiều quê hương.
Phân tích bài thơ Thiên Trường vãn vọng (mẫu 3)
Thiên Trường vãn vọng, còn được biết đến với tên gọi Buổi chiều đứng ở phủ Thiên Trường trông ra, là một thi phẩm đặc sắc của vua – thi sĩ Trần Nhân Tông. Bài thơ được sáng tác theo thể thất ngôn tứ tuyệt Đường luật, thể hiện phong cách thơ điển hình của thời Trần: cô đọng, tinh tế mà sâu lắng. Với chỉ bốn câu thơ ngắn gọn, tác giả đã khắc họa nên một bức tranh quê thanh bình, nhuốm màu thiền vị, khiến người đọc say mê từ bao đời nay.
Thôn hậu, thôn tiền đạm tự yên,
Bán vô, bán hữu tịch dương biên.
Chỉ bằng vài nét chấm phá nhẹ nhàng, nhà thơ mở ra trước mắt người đọc một khung cảnh làng quê buổi chiều tà thật nên thơ và huyền ảo. Từ đầu làng đến cuối xóm, khói lam chiều bảng lảng bay lên từ những mái bếp nhỏ, quyện cùng ánh hoàng hôn vàng nhạt, khiến cảnh vật trở nên vừa thực vừa mơ. Làn khói ấy không chỉ là hình ảnh quen thuộc của nông thôn Việt Nam mà còn là biểu tượng cho cuộc sống ấm no, yên bình – nơi mỗi nhà đều có bữa cơm đầm ấm, hơi lửa bếp lan tỏa khắp xóm làng.
Điệp từ “bán” được lặp lại hai lần, diễn tả cảm giác bâng khuâng, nửa thực nửa hư của nhà thơ trước vẻ đẹp mờ ảo ấy. Cảnh vật như tan chảy giữa ranh giới của có và không, giữa thực tại và cõi mộng, khiến lòng người không khỏi xao xuyến.
Mục đồng địch lý quy ngưu tận,
Bạch lộ song song phi hạ điền.
Giữa khung cảnh bảng lảng khói chiều, tiếng sáo mục đồng vang lên trong trẻo, dìu dặt như đánh thức cả không gian yên tĩnh. Hình ảnh chú bé chăn trâu thong dong trên con đường làng gợi cảm giác thân thuộc, gợi nhớ đến nhịp sống dân dã, hiền hòa. Ở cuối cánh đồng, từng đôi cò trắng nhẹ nhàng sà xuống, điểm xuyết cho bức tranh hoàng hôn thêm sinh động. Cánh cò bay thành đôi không chỉ tô điểm cho vẻ đẹp thanh bình của quê hương mà còn là biểu tượng của hạnh phúc lứa đôi, của sự sinh sôi, no đủ – cội nguồn của một đất nước thịnh vượng.
Thiên Trường vãn vọng là một thi phẩm kết tinh vẻ đẹp của thơ thiền và tâm hồn Việt. Trong không gian thôn quê giản dị, Trần Nhân Tông không chỉ ngợi ca cảnh sắc thanh bình mà còn gửi gắm niềm vui, niềm tự hào trước cuộc sống yên ấm của muôn dân. Bài thơ thể hiện một tâm hồn đã đạt đến độ an nhiên, ung dung, hòa làm một với thiên nhiên và con người.
Với ngôn ngữ hàm súc, hình ảnh mộc mạc mà gợi cảm, thi phẩm trở thành biểu tượng cho tinh thần lạc quan, thanh thoát của thời Trần – thời đại vàng son của văn học và đạo lý dân tộc.
Phân tích bài thơ Thiên Trường vãn vọng (mẫu 4)
Trần Nhân Tông (1258 - 1308) là ông vua anh hùng - thi sĩ của Đại Việt trong thế kỷ XIII. Thông minh, học rộng, có tài thao lược và rất tài hoa. Tên tuổi nhà thơ gắn liền với những chiến công hiển hách của nhân dân trong hai cuộc kháng chiến lần thứ hai và lần thứ ba đánh thắng giặc Nguyên - Mông xâm lược. Trong một số bài thơ chữ Hán của Trần Nhân Tông để lại có hai bài viết về Thiên Trường, mảnh đất "phát nghiệp đế vương" của nhà Trần: “Hạnh Thiên Trường hành cung" và "Thiên Trường vãn vọng". Thiên Trường là một trong 12 lộ thời Trần, thuộc Sơn Nam; nay thuộc thành Nam Định. Thiên Trường vốn là Thái ấp của vua chúa nhà Trần, ở đây xưa không có nhiều cung điện nguy nga tráng lệ.
"Thiên Trường vãn vọng" được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật (luật trắc, vần bằng). Bài thơ gợi tả cảnh xóm thôn, đồng quê vùng Thiên Trường qua cái nhìn và cảm xúc của Trần Nhân Tông, cảm xúc lắng đọng, cái nhìn man mác, bâng khuâng ôm trùm cảnh vật:
"Thôn hậu, thôn tiền, đạm tự yên,
Bán vô, bán hữu, tịch dương biên.
Mục đồng địch lí ngưu quy tận,
Bạch lộ song song phi hạ điền"
Hơn 60 năm về trước, cụ Ngô Tất Tố đã dịch rất hay bài thơ này. Hai câu thơ đầu gợi tả cảnh làng quê vùng Thiên Trường trong ánh chiều tàn. Bốn chữ "thôn Hậu thôn tiền" và "bán vô bán hữu" liên kết đôi, tạo nên sự cân xứng hài hòa về ngôn ngữ đã gợi lên cảnh xóm thôn nối tiếp gần xa, đông đúc, trù phú. Trong bóng chiều nhạt nhòa, xóm thôn "trước xóm sau thôn" phủ mờ khói như càng trở nên mơ màng, mênh mang. Khói của sương chiều. Khói lam chiều vấn vương, nhẹ bay trên những mái nhà gianh sau lũy tre làng.
Chỉ bằng 3 nét vẽ rất chọn lọc, lối tả ít mà gợi nhiều của thi pháp cổ, thi sĩ đã làm hiện lên một không gian nghệ thuật về cảnh sắc làng quê một buổi chiều tàn phủ mờ sương khói và ánh tà dương nơi yên bình, êm đềm, nên thơ. Nét vẽ thanh nhẹ. Cảnh vật bao la, tĩnh lặng. Ngoại cảnh và tâm cảnh đồng hiện. Tưởng như thi sĩ đang thả hồn mình vào cảnh vật, lặng ngắm thôn xóm quê hương gần xa không chán. So sánh "đạm tự yên" (mờ nhạt như không là một hình tượng đầy thi vị. Cả một hồn quê man mác gợi cảm):
"Thôn hậu thôn tiền đạm tự yên,
Bán vô, bán hữu tịch dương biên
(Trước xóm sau thôn tựa khói lồng,
Bóng chiều man mác có dường không).
Hai câu cuối là cảnh sắc đồng quê rất dân dã, bình dị, thân thuộc mà đáng yêu. Trên những nẻo đường quê, đàn trâu nối đuôi nhau về thôn. Có âm thanh tiếng sáo mục đồng cất lên, âm thanh réo rắt, hồn nhiên, thanh bình của làng quê ta xưa nay. Có từng đôi, từng đôi cò trắng bay liệng, nối tiếp nhau hạ xuống đồng. Nhà thơ không nói đến màu xanh và hương lúa mà người đọc vẫn cảm nhận được. Ngôn ngữ thơ, hình tượng thơ đầy gợi thanh và màu sắc, thanh tao và dào dạt sức sống. Bút pháp điểm nhãn, lấy động để tả tĩnh của tác giả được thể hiện một cách nhiều ấn tượng về bức tranh đồng quê này:
"Mục đồng địch lí ngưu quy tận"
Bạch lộ song song phi hạ điền
(Mục đồng sáo vẳng trâu về hết
Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng).
Tình quê và hồn quê chan hòa, dào dạt. Thiên Trường thuở ấy, đường sá rầm rập ngựa xe, có biết bao cung điện của vua chúa, tôn thất nhà Trần, nhưng Trần Nhân Tông không nói đến lầu son gác tía, bệ ngọc ngai vàng tráng lệ nguy nga, mà chỉ nói đến cảnh sắc thiên nhiên, cảnh vật đồng quê. Điều đó cho thấy tâm hồn thi sĩ giàu tình yêu thiên nhiên, yêu quê hương đất nước. Tính bình dị, dân dã, hồn nhiên là cốt cách, là hồn thơ của ông vua anh hùng - thi sĩ này. Cảm nhận ấy càng rõ khi ta đọc bài thơ "Hạnh Thiên Trường hành cung" (Ngự chơi hành cung Thiên Trường):
"Cảnh thanh u, vật cũng thanh u,
Mười mấy châu tiên ấy một châu.
Trăm tiếng đàn chim, dàn nhạc hát,
Nghìn hàng đám quýt, đám quân hầu.
Trăng vô sự chiếu người vô sự,
Nước có thu lồng Trời có thu.
Vừa bốn bể trong, vừa bụi lặng,
Độ xưa so với độ này thua"
Cảnh buổi chiều được nói đến trong bài ''Hạnh Thiên Trường hành cung" là cảnh chiều thu, đó là điều ai cũng rõ. Trong bài "Thiên Trường vãn vọng" là cảnh chiều xuân hay chiều thu? Rất khó xác định. Ta chỉ cảm nhận được đó là một buổi chiều êm đềm, xóm thôn phủ mờ sương khói tà dương. Không gian nghệ thuật và tâm trạng nghệ thuật đồng hiện cho ta khẳng định: Trần Nhân Tông viết "Thiên Trường vãn vọng" sau năm 1288, khi giặc Nguyên - Mông đã bị nhân dân ta đánh bại, nước Đại Việt thanh bình, yên vui.
Bài tứ tuyệt "Thiên Trường vãn vọng" là một bức tranh quê đậm nhạt, mờ sáng, rất đẹp và tràn đầy sức sống. Một bút pháp nghệ thuật cổ điển tài hoa. Một tâm hồn thanh cao, yêu đời. Tình yêu thiên nhiên, yêu đồng quê xứ sở đã được thể hiện bằng một số hình tượng đậm đà, ấm áp qua những nét vẽ tinh tế, gợi hình, gợi cảm, giàu liên tưởng. Kì diệu thay, bài thơ đã vượt qua một hành trình trên bảy trăm năm, đọc lên, nó vẫn cho ta nhiều thú vị. Ta vẫn cảm thấy cánh cò trắng được nói đến trong bài thơ vẫn còn bay trong ráng chiều đồng quê, và còn chấp chới trong hồn ta. Thơ đích thực là thế!
Phân tích bài thơ Thiên Trường vãn vọng (mẫu 5)
Trần Nhân Tông (1258 - 1308) là ông vua anh hùng - thi sĩ của Đại Việt trong thế kỷ XIII. Thông minh, học rộng, có tài thao lược và rất tài hoa. Tên tuổi nhà thơ gắn liền với những chiến công hiển hách của nhân dân trong hai cuộc kháng chiến lần thứ hai và lần thứ ba đánh thắng giặc Nguyên - Mông xâm lược. Trong một số bài thơ chữ Hán của Trần Nhân Tông để lại có hai bài viết về Thiên Trường, mảnh đất "phát nghiệp đế vương" của nhà Trần: “Hạnh Thiên Trường hành cung" và "Thiên Trường vãn vọng". Thiên Trường là một trong 12 lộ thời Trần, thuộc Sơn Nam; nay thuộc thành Nam Định. Thiên Trường vốn là Thái ấp của vua chúa nhà Trần, ở đây xưa không có nhiều cung điện nguy nga tráng lệ.
"Thiên Trường vãn vọng" được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật (luật trắc, vần bằng). Bài thơ gợi tả cảnh xóm thôn, đồng quê vùng Thiên Trường qua cái nhìn và cảm xúc của Trần Nhân Tông, cảm xúc lắng đọng, cái nhìn man mác, bâng khuâng ôm trùm cảnh vật:
"Thôn hậu, thôn tiền, đạm tự yên,
Bán vô, bán hữu, tịch dương biên.
Mục đồng địch lí ngưu quy tận,
Bạch lộ song song phi hạ điền"
Hơn 60 năm về trước, cụ Ngô Tất Tố đã dịch rất hay bài thơ này. Hai câu thơ đầu gợi tả cảnh làng quê vùng Thiên Trường trong ánh chiều tàn. Bốn chữ "thôn Hậu thôn tiền" và "bán vô bán hữu" liên kết đôi, tạo nên sự cân xứng hài hòa về ngôn ngữ đã gợi lên cảnh xóm thôn nối tiếp gần xa, đông đúc, trù phú. Trong bóng chiều nhạt nhòa, xóm thôn "trước xóm sau thôn" phủ mờ khói như càng trở nên mơ màng, mênh mang. Khói của sương chiều. Khói lam chiều vấn vương, nhẹ bay trên những mái nhà gianh sau lũy tre làng.
Chỉ bằng 3 nét vẽ rất chọn lọc, lối tả ít mà gợi nhiều của thi pháp cổ, thi sĩ đã làm hiện lên một không gian nghệ thuật về cảnh sắc làng quê một buổi chiều tàn phủ mờ sương khói và ánh tà dương nơi yên bình, êm đềm, nên thơ. Nét vẽ thanh nhẹ. Cảnh vật bao la, tĩnh lặng. Ngoại cảnh và tâm cảnh đồng hiện. Tưởng như thi sĩ đang thả hồn mình vào cảnh vật, lặng ngắm thôn xóm quê hương gần xa không chán. So sánh "đạm tự yên" (mờ nhạt như không là một hình tượng đầy thi vị. Cả một hồn quê man mác gợi cảm):
"Thôn hậu thôn tiền đạm tự yên,
Bán vô, bán hữu tịch dương biên
(Trước xóm sau thôn tựa khói lồng,
Bóng chiều man mác có dường không).
Hai câu cuối là cảnh sắc đồng quê rất dân dã, bình dị, thân thuộc mà đáng yêu. Trên những nẻo đường quê, đàn trâu nối đuôi nhau về thôn. Có âm thanh tiếng sáo mục đồng cất lên, âm thanh réo rắt, hồn nhiên, thanh bình của làng quê ta xưa nay. Có từng đôi, từng đôi cò trắng bay liệng, nối tiếp nhau hạ xuống đồng. Nhà thơ không nói đến màu xanh và hương lúa mà người đọc vẫn cảm nhận được. Ngôn ngữ thơ, hình tượng thơ đầy gợi thanh và màu sắc, thanh tao và dào dạt sức sống. Bút pháp điểm nhãn, lấy động để tả tĩnh của tác giả được thể hiện một cách nhiều ấn tượng về bức tranh đồng quê này:
"Mục đồng địch lí ngưu quy tận"
Bạch lộ song song phi hạ điền
(Mục đồng sáo vẳng trâu về hết
Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng).
Tình quê và hồn quê chan hòa, dào dạt. Thiên Trường thuở ấy, đường sá rầm rập ngựa xe, có biết bao cung điện của vua chúa, tôn thất nhà Trần, nhưng Trần Nhân Tông không nói đến lầu son gác tía, bệ ngọc ngai vàng tráng lệ nguy nga, mà chỉ nói đến cảnh sắc thiên nhiên, cảnh vật đồng quê. Điều đó cho thấy tâm hồn thi sĩ giàu tình yêu thiên nhiên, yêu quê hương đất nước. Tính bình dị, dân dã, hồn nhiên là cốt cách, là hồn thơ của ông vua anh hùng - thi sĩ này. Cảm nhận ấy càng rõ khi ta đọc bài thơ "Hạnh Thiên Trường hành cung" (Ngự chơi hành cung Thiên Trường):
"Cảnh thanh u, vật cũng thanh u,
Mười mấy châu tiên ấy một châu.
Trăm tiếng đàn chim, dàn nhạc hát,
Nghìn hàng đám quýt, đám quân hầu.
Trăng vô sự chiếu người vô sự,
Nước có thu lồng Trời có thu.
Vừa bốn bể trong, vừa bụi lặng,
Độ xưa so với độ này thua"
Cảnh buổi chiều được nói đến trong bài ''Hạnh Thiên Trường hành cung" là cảnh chiều thu, đó là điều ai cũng rõ. Trong bài "Thiên Trường vãn vọng" là cảnh chiều xuân hay chiều thu? Rất khó xác định. Ta chỉ cảm nhận được đó là một buổi chiều êm đềm, xóm thôn phủ mờ sương khói tà dương. Không gian nghệ thuật và tâm trạng nghệ thuật đồng hiện cho ta khẳng định: Trần Nhân Tông viết "Thiên Trường vãn vọng" sau năm 1288, khi giặc Nguyên - Mông đã bị nhân dân ta đánh bại, nước Đại Việt thanh bình, yên vui.
Bài tứ tuyệt "Thiên Trường vãn vọng" là một bức tranh quê đậm nhạt, mờ sáng, rất đẹp và tràn đầy sức sống. Một bút pháp nghệ thuật cổ điển tài hoa. Một tâm hồn thanh cao, yêu đời. Tình yêu thiên nhiên, yêu đồng quê xứ sở đã được thể hiện bằng một số hình tượng đậm đà, ấm áp qua những nét vẽ tinh tế, gợi hình, gợi cảm, giàu liên tưởng. Kì diệu thay, bài thơ đã vượt qua một hành trình trên bảy trăm năm, đọc lên, nó vẫn cho ta nhiều thú vị. Ta vẫn cảm thấy cánh cò trắng được nói đến trong bài thơ vẫn còn bay trong ráng chiều đồng quê, và còn chấp chới trong hồn ta. Thơ đích thực là thế!
Xem thêm các chương trình khác:
- Các dạng bài tập Tiếng Anh thông dụng nhất
- 3000 câu hỏi ôn tập môn Tiếng Anh có đáp án
- Toàn bộ kiến thức về cụm động từ | Định nghĩa và cách dùng
- 500 đoạn văn Tiếng Anh thông dụng nhất và cách làm
- 1000 câu hỏi ôn tập môn Công nghệ có đáp án
- 1000 câu hỏi ôn tập Giáo dục công dân
- 15000 câu hỏi ôn tập môn Toán có đáp án
- Wiki Toán | Khái niệm, định lí, tính chất, dạng bài, công thức
- Tuyển tập đề thi + chuyên đề ôn thi Toán Kangaroo các cấp độ (có đáp án 2026)
- 3000 câu hỏi ôn tập môn Vật lí có đáp án
- Tổng hợp Dạng bài - Công thức môn Vật lí
- Phương trình hóa học | Tổng hợp PTHH của các chất hữu cơ, vô cơ chính xác nhất
- Đồng phân & Công thức cấu tạo của các chất hữu cơ
- Nhận biết các chất Hóa học
- Cấu hình electron
- So sánh bán kính nguyên tử và bán kính ion
- 1000 câu hỏi ôn tập môn Hóa có đáp án
- Wiki các chất hóa học | Định nghĩa, tính chất, nhận biết, điều chế, ứng dụng
- Cách đọc danh pháp hóa học (chương trình mới) đầy đủ nhất
- Công thức Lewis của một số chất thường gặp (chương trình mới)
- Công thức electron của một số chất thường gặp (chương trình mới)
- Công thức cấu tạo của một số chất thường gặp (chương trình mới)
- Công thức hợp chất khí với hidro của các nguyên tố (phổ biến) | Cách viết công thức hợp chất khí với hidro
- Công thức hidroxit cao nhất của các nguyên tố (phổ biến) | Cách viết công thức hidroxit cao nhất
- Công thức oxit cao nhất của các nguyên tố (phổ biến) | Cách viết công thức oxit cao nhất
- 2000 câu hỏi ôn tập môn Tin học có đáp án
- 3000 câu hỏi ôn tập môn Lịch sử có đáp án
- 3000 câu hỏi ôn tập môn Địa lí có đáp án
- 2000 câu hỏi ôn tập môn Sinh học có đáp án
- Tổng hợp Dạng bài - Công thức môn Sinh học
- Trò chơi Powerpoint | Game Powerpoint
- Tổng hợp bài thu hoạch BDTX Giáo viên mầm non (2025) theo Thông tư 12
- Tổng hợp bài thu hoạch BDTX Giáo viên tiểu học (2025)
- Tổng hợp bài thu hoạch BDTX Giáo viên THCS (2025)
- Tổng hợp bài thu hoạch BDTX Giáo viên THPT (2025)
- Tổng hợp thông tin, kiến thức chung
- Tiền tiểu học
