Đọc truyện: Vũ trụ thuở sơ khai (tóm tắt, thể loại, bố cục, tìm hiểu chi tiết câu chuyện)
Dưới đây là nội dung truyện cổ tích Vũ trụ thuở sơ khai, mời bạn đọc đón xem:
TRUYỆN CỔ TÍCH VŨ TRỤ THUỞ SƠ KHAI

I. Đọc truyện
VŨ TRỤ THUỞ SƠ KHAI
Người khổng lồ:
Thuở xưa ở vùng núi Ngọc Ang (1) có ông Rờ Xi, vóc người to lớn như trái núi. Ông đã đi khắp thế gian này, chỗ ông qua nhiều lần mặt đất trở nên lồi lõm và đó là các vùng núi bây giờ. Có một lần, ông Rờ Xi ngồi ăn trầu, rảnh rang mới lấy chân khua mặt đất, lập tức một vùng đồng bằng mênh mông hiện ra. Những dòng sông, dòng suối lớn là vết ngón tay ông Rờ Xi quờ tìm cái đánh lửa. Nếu không có ông thì bầu trời đã chùng xuống trùm sát mặt đất, bởi vì bầu trời là cái chăn lớn giàng căng ra phơi . Ông Rờ Xi đã đứng cúi lưng để đỡ cho bầu trời khỏi chùng. Ông đứng lâu lắm. Một dấu chân hiện còn ở vùng Đak Tam lung (phía tây Trà Mi), còn dấu chân kia nghe nói ở mãi vùng đất Quy Nhơn sát biển.
Con người:
Loài người khi mới xuất hiện có hình vóc lạ lùng. Đó là những con người cao, to và chạy rất nhanh nhờ có hai đầu gối quay ra đằng sau, với đầu gối này người ta có thể đuổi kịp bất kỳ loại thú rừng nào. Loài thú thấy mình có nguy cơ bị tiêu diệt mới cùng nhau lên kiện giàng. Giàng đành phải xoay đầu gối của người lại như ngày nay.
Lại nói, lúc đầu vì có thể kiếm ăn rất dễ dàng nhờ hai đầu gối kỳ lạ kia, nên loài người sinh sôi nhanh chóng. Cua và rắn là hai con vật được người yêu thích đã hết sức giúp người kiếm ăn rồi mà vẫn không đủ. Chuối bảo: “Thế thì để ta nuôi chọ..”. Thế là nhờ có thân chuối, củ chuối, hoa chuối, quả chuối mà loài người sống được. Và cũng chính vì chuối nuôi người, nên người phải giống như chuối: Chuối ra buồng, chuối già, chuối chết và người đẻ con, người già, người cũng chết.
Lửa:
Khi mới sinh ra, loài người chưa có lửa dùng. Họ phải ăn sống nuốt tươi, khổ lắm. Lúc bấy giờ chỉ có loài chuột là giữ được lửa, nhưng nó giấu rất kín. Trời thương loài người, mới sai ve đến xin hộ. Ve đến, chuột không cho, chuột lại bắt ve nhắm mắt lại mỗi khi nó đánh lửa. Vì có mắt ở nách nên ve vẫn dò biết được cách lấy lửa của chuột. Được ve bảo cho cách lấy lửa, từ đó loài người mới có lửa dùng, không phải chịu cảnh ăn sống nuốt tươi như trước nữa.
Cây lúa:
Xưa kia, lúa ở sâu dưới biển. Vùng biển này đầy gió bão không ai đến nổi, chỉ có loài vắt là sống được ở đấy vì chúng có cái vòi bám rất chặt vào các kẽ đá. Thấy con người đói khổ không biết làm nhà cửa, gieo trồng gì, loài kiến thương lắm. Họ hàng kiến quyết định đi đến chỗ vắt xin hạt quý về cho người. Mới đầu vắt không chịu cho, kiến dỗ dành thế nào cũng không được, về sau kiến đành phải giả vờ nói là cho mượn rồi sẽ trả, vắt mới chịu.
Được kiến đem hạt lạ về cho, người mừng lắm. Họ đem các hạt ấy gieo thử trên đất ướt. Cây lúa mọc lên rất nhanh, cao như cây đa. Mùa đến, cây lúa ra những trái to, dài như trái bí đao, tỏa hương thơm ngát. Người mừng lắm, rủ nhau chăng những sợi chỉ từ rẫy về kho rồi hú gọi vang rừng. Nghe tiếng hú của người, những trái lúa tự theo dây chỉ lũ lượt kéo nhau về đầy sân, đầy nhà. Thời đấy, chỉ cần một vài hạt lúa đập ra nhiều mảnh, mỗi mảnh nấu được một nồi bung lớn. Loài người sung sướng lắm. Làng đông vui, chiêng trống hát hò vang động khắp cả núi rừng. Có một năm theo tiếng hú, lúa trở về lũ lượt. Thấy lúa về, có một con chó tự nhiên sủa ầm lên làm những hạt lúa sợ hãi rơi xuống đất vỡ nát hết ra.
Từ đó, hạt lúa trở nên nhỏ như bây giờ, cây lúa cũng phải gieo trồng vất vả lắm mới có được. Lúa chín, nó không tự về nhà theo dây nữa. Nhưng cho đến nay, người Xê Đăng vẫn còn thói quen chăng dây qua suối cầu mong lúa về nhiều mỗi khi mùa gặt đến.
Loài vắt nhớ nợ xưa vẫn cứ bám riết người đòi lại lúa quý. Người không trả được, chúng cứ hút máu mãi, hút hoài.
Nhà:
Ngày xưa người và khỉ là bạn thân của nhau, nhưng khỉ thường ranh mãnh hơn. Khỉ chiếm hết các hang đẹp để ở, lại làm chòi trên cây cao nữa. Nó không dạy người cách làm nhà. Thời ấy có con rùa (cokom) cũng là bạn của khỉ nhưng rất thương người. Rùa đứng lên cao và bảo: hãy lấy lá chuối, cành cây làm như người tôi đây này; bốn cái chân làm cột, cái mai làm mái, cái đuôi làm cầu thang và cái đầu làm cút (2). Người theo đó mà làm, quả nhiên có cái nhà thật đẹp trông y như con rùa. Lâu dần cái nhà sàn bây giờ ra đời.
Cây mía:
Cây mía buổi ấy nhiều lắm. Mía mọc đầy rừng núi Tây Nguyên, cây to và cao, bụi lớn như bụi lồ ô và không có bã có xơ. Dóng mía dài, rỗng bên trong, đầy nước ngọt lịm. Có một lần, lũ chồn đi ăn đêm đụng phải mía, mía gãy, nước ngọt dính đầy mặt, đầy đầu. Chúng giận mía lắm. Một buổi, chồn kéo cả họ hàng vào các làng lượm phoi nan đan gùi của người nhét vào ruột mía. Từ đó mía có bã, ăn phải nhai.
Củ mài:
Ngày xưa ở vùng người Xê Đăng người ta gọi củ mài là quả mài. Cũng như bầu bí, mài là giống dây leo mọc đầy rừng, ra quả chi chít. Bữa kia mụ Dạ Cróa đi hái quả mài. Quả mài nhiều, hái không xuể. Mụ tức lắm mới đi cắm tất cả các quả mài xuống lòng đất sâu. Và từ đấy quả mài trở thành củ mài. Muốn có mài ăn, người ta phải khoét khéo, đào thật sâu xuống đất mới tìm được.
Quả bầu đựng nước (3):
Thuở xưa, người Tây Nguyên sinh sống chủ yếu bằng quả bầu. Bầu bí mọc đầy rừng núi, nhất là bầu quả to tròn, ăn mát và thơm lắm. Về sau, có lũ chó sói đi kiếm mồi, vướng phải dây bầu nhiều, chúng tức lắm mới đái vào tất cả các quả. Từ đó, bầu trở thành đắng không tài nào ăn nổi ruột. Người tiếc mới lấy về bỏ ruột lấy vỏ làm đồ đựng nước. Thế là bầu đắng vẫn mãi mãi bên người (4).
(1) Ngọc Ang (Ngọk Ang): Tên địa phương của ngọn núi Ngọc Linh ở tỉnh Gia Lai – Kon Tum cao nhất Tây Nguyên (2.500m).
(2) Cút: Hình trang trí ở hai đầu nóc nhà vùng đồng bào các dân tộc Tây Nguyên. Cút thường được làm theo hình sừng trâu, hình đầu chim…
(3) Một loài bầu ruột đắng, vỏ dùng để đựng nước.
(4) Có truyện cho bầu đắng cũng là do Dạ Cróa vắt sữa của mình vào.
II. Tìm hiểu thêm
1. Thể loại
Truyện Vũ trụ thuở sơ khai thuộc thể loại truyện thần thoại, khoa học viễn tưởng.
2. Tóm tắt truyện cổ tích
Câu chuyện dân gian kể về nguồn gốc thiên nhiên và con người của người Tây Nguyên qua các truyền thuyết. Ông Rờ Xi là người khổng lồ đã tạo nên núi non và bầu trời. Loài người lúc đầu có hình dáng khác với hai đầu gối đặc biệt giúp họ săn bắt dễ dàng, nhưng được giáng chỉnh lại. Cây chuối là nguồn sống quan trọng của họ. Lửa ban đầu do chuột giữ, ve giúp lấy được lửa cho con người. Cây lúa quý được loài kiến lấy từ loài vắt dưới biển mang về, nhưng sau này do một con chó làm hạt lúa vỡ nhỏ lại. Truyền thuyết còn kể về nguồn gốc nhà ở do con rùa dạy người, sự thay đổi của cây mía, củ mài, và quả bầu đắng dùng làm dụng cụ đựng nước.
3. Bố cục truyện
+ Phần 1 (Từ đầu đến "ở mãi vùng đất Quy Nhơn sát biển"): Nội dung: Giới thiệu về ông Rờ Xi – người khổng lồ tạo nên núi non và bầu trời, cùng dấu tích ông để lại trên đất.
+ Phần 2 (Tiếp đến "người cũng chết"): Sự xuất hiện và hình dáng ban đầu của loài người, khả năng đặc biệt của họ, nguồn gốc cây chuối nuôi sống con người.
+ Phần 3 (Tiếp đến "chăng dây qua suối cầu mong lúa về nhiều mỗi khi mùa gặt đến"): Câu chuyện về nguồn gốc lửa, cây lúa và sự giúp đỡ của các loài vật như chuột, ve, kiến, vắt; thói quen của người Xê Đăng với lúa.
+ Phần 4 (Còn lại): Các truyền thuyết về nhà ở (người và khỉ, rùa giúp người làm nhà), cây mía, củ mài, quả bầu đựng nước và những câu chuyện liên quan.
III. Tìm hiểu chi tiết
1. Chi tiết người khổng lồ tạo nên núi non và bầu trời
-
Ông Rờ Xi là người khổng lồ, vóc dáng to lớn như trái núi.
-
Khi ông đi qua, dấu chân in trên mặt đất tạo nên các vùng núi lồi lõm.
-
Ông ngồi ăn trầu rồi dùng chân khua mặt đất, tạo ra vùng đồng bằng rộng lớn.
-
Những dòng sông, suối là dấu vết vết ngón tay ông quờ tìm vật đánh lửa.
-
Bầu trời được ví như tấm chăn lớn căng ra, ông Rờ Xi phải đứng cúi lưng đỡ để trời không chùng xuống phủ sát mặt đất.
-
Ông đứng lâu để giữ cho bầu trời không rơi xuống, tạo sự cân bằng giữa trời và đất.
-
Dấu chân ông vẫn còn được nhắc đến ở vùng Đak Tam lung và Quy Nhơn.
2. Sự hình thành con người
-
Ban đầu, con người có hai đầu gối quay về phía sau giúp chạy rất nhanh, bắt được thú rừng dễ dàng.
-
Do con người sinh sôi nhanh, loài thú cảm thấy bị đe dọa và kiện Giàng.
-
Giàng xoay đầu gối con người lại như hiện nay để cân bằng cuộc sống giữa con người và thú rừng.
-
Cây chuối giúp nuôi sống con người qua thân, củ, hoa và quả.
-
Vòng đời con người được so sánh giống như chuối: ra buồng, già và chết.
=> Nhận xét:
-
Câu chuyện thể hiện sự tưởng tượng phong phú trong truyền thuyết dân gian Tây Nguyên về nguồn gốc núi non, trời đất và con người.
-
Thông qua hình ảnh người khổng lồ và sự thay đổi hình dáng ban đầu của con người, truyện truyền tải ý nghĩa về sự tạo lập thế giới, sự cân bằng giữa thiên nhiên và con người.
-
Câu chuyện cũng nhấn mạnh mối quan hệ gắn bó và hài hòa giữa con người với thiên nhiên (như cây chuối nuôi sống con người), thể hiện triết lý sống thân thiện, biết quý trọng môi trường.
-
Qua đó, truyện góp phần giáo dục con người về nguồn gốc và giá trị của cuộc sống, đồng thời phản ánh nét văn hóa đặc trưng của đồng bào dân tộc Tây Nguyên.
3. Giá trị nội dung
-
Giá trị giáo dục và văn hóa: Truyện giải thích nguồn gốc vạn vật và con người theo quan niệm truyền thống của người Tây Nguyên, giúp thế hệ sau hiểu về thiên nhiên và cuộc sống qua cách nhìn dân gian.
-
Giá trị nhân văn: Nêu bật sự gắn bó giữa con người và thiên nhiên, cũng như sự tương tác giữa các loài vật và con người trong đời sống.
-
Giá trị lịch sử - văn hóa: Ghi lại nét văn hóa, tín ngưỡng, tập tục và lối sống của đồng bào dân tộc Tây Nguyên qua truyền thuyết.
4. Giá trị nghệ thuật
-
Ngôn ngữ mộc mạc, giản dị: Phù hợp với thể loại truyện truyền miệng, dễ nhớ, dễ truyền lại qua các thế hệ.
-
Tính biểu tượng và hình tượng sinh động: Nhân vật ông Rờ Xi, loài vắt, con rùa… đều là biểu tượng mang ý nghĩa riêng, phản ánh sự hòa hợp và tôn trọng thiên nhiên.
-
Cấu trúc kể chuyện phân đoạn rõ ràng: Mỗi phần là một truyền thuyết nhỏ, tạo nên tổng thể giàu màu sắc dân gian.
-
Hình thức kể chuyện có yếu tố tưởng tượng phong phú: Những chi tiết như bầu trời là tấm chăn, dấu chân khổng lồ tạo núi, cây lúa tự kéo về nhà rất thú vị, giàu trí tưởng tượng.
Xem thêm các chương trình khác:
- Các dạng bài tập Tiếng Anh thông dụng nhất
- 3000 câu hỏi ôn tập môn Tiếng Anh có đáp án
- Toàn bộ kiến thức về cụm động từ | Định nghĩa và cách dùng
- 500 đoạn văn Tiếng Anh thông dụng nhất và cách làm
- 1000 câu hỏi ôn tập môn Công nghệ có đáp án
- 1000 câu hỏi ôn tập Giáo dục công dân
- 15000 câu hỏi ôn tập môn Toán có đáp án
- Wiki Toán | Khái niệm, định lí, tính chất, dạng bài, công thức
- Tuyển tập đề thi + chuyên đề ôn thi Toán Kangaroo các cấp độ (có đáp án 2026)
- 3000 câu hỏi ôn tập môn Vật lí có đáp án
- Tổng hợp Dạng bài - Công thức môn Vật lí
- Phương trình hóa học | Tổng hợp PTHH của các chất hữu cơ, vô cơ chính xác nhất
- Đồng phân & Công thức cấu tạo của các chất hữu cơ
- Nhận biết các chất Hóa học
- Cấu hình electron
- So sánh bán kính nguyên tử và bán kính ion
- 1000 câu hỏi ôn tập môn Hóa có đáp án
- Wiki các chất hóa học | Định nghĩa, tính chất, nhận biết, điều chế, ứng dụng
- Cách đọc danh pháp hóa học (chương trình mới) đầy đủ nhất
- Công thức Lewis của một số chất thường gặp (chương trình mới)
- Công thức electron của một số chất thường gặp (chương trình mới)
- Công thức cấu tạo của một số chất thường gặp (chương trình mới)
- Công thức hợp chất khí với hidro của các nguyên tố (phổ biến) | Cách viết công thức hợp chất khí với hidro
- Công thức hidroxit cao nhất của các nguyên tố (phổ biến) | Cách viết công thức hidroxit cao nhất
- Công thức oxit cao nhất của các nguyên tố (phổ biến) | Cách viết công thức oxit cao nhất
- 2000 câu hỏi ôn tập môn Tin học có đáp án
- 3000 câu hỏi ôn tập môn Lịch sử có đáp án
- 3000 câu hỏi ôn tập môn Địa lí có đáp án
- 2000 câu hỏi ôn tập môn Sinh học có đáp án
- Tổng hợp Dạng bài - Công thức môn Sinh học
- Trò chơi Powerpoint | Game Powerpoint
- Tổng hợp bài thu hoạch BDTX Giáo viên mầm non (2025) theo Thông tư 12
- Tổng hợp bài thu hoạch BDTX Giáo viên tiểu học (2025)
- Tổng hợp bài thu hoạch BDTX Giáo viên THCS (2025)
- Tổng hợp bài thu hoạch BDTX Giáo viên THPT (2025)
- Tổng hợp thông tin, kiến thức chung
- Tiền tiểu học
