Đọc truyện: Sự tích thành Lồi (tóm tắt, thể loại, bố cục, tìm hiểu chi tiết câu chuyện)

Dưới đây là nội dung truyện Sự tích thành Lồi, mời bạn đọc đón xem:

1 313 18/06/2025


TRUYỆN CỔ TÍCH SỰ TÍCH THÀNH LỒI

I. Đọc truyện

SỰ TÍCH THÀNH LỒI

Ngày xưa, có một ông vua nước Chăm muốn lấy một nàng công chúa nước Đại Việt làm vợ. Nhà vua nghe nói công chúa Huyền Trân nhan sắc tuyệt trần, những phi tần trong cung vua khó bề sánh kịp. Ao ước người đẹp, nhà vua đêm mơ ngày tưởng. Vua nghĩ đến việc dâng vàng bạc, châu báu, kỳ nam và voi ngựa để làm sính lễ, nhưng những món ấy chưa hẳn đã đưa lại kết quả như ý muốn. Một viên nội thị rỉ vào tai vua:

– Muốn chiếm được người đẹp, trừ phi hiến đất không có kế nào khác.

Trước vua còn ngần ngại, nhưng sau đó quả quyết sai một sứ bộ ra cầu hôn với sính lễ hai châu Ô, Rí ở biên giới. Thấy triều thần có người can ngăn, nhà vua ung dung đáp:

– Tất cả đất đai này đều là của trẫm. Mà trẫm thì chả vui gì nếu không lấy được công chúa Đại Việt. Hơn nữa, giữa hai nước máu chảy đã nhiều rồi. Ngày nay trẫm muốn mượn mối nhân duyên để dẹp yên can qua khốc hại.

Trước món sính lễ đặc biệt, triều đình Đại Việt ai nấy đều tỏ vẻ hài lòng. Vua Trần và công chúa Huyền Trân gật đầu ưng thuận. Được lời như cởi tấm lòng, vua Chăm sai quan thái bộc chọn ngày lành tháng tốt, rồi phái một sứ bộ mang năm trăm quân sĩ đi thuyền ra đón vợ về. Đám rước dâu từ kinh thành ra đi, vượt qua muôn trùng sông nước mới tới kinh đô. Vua Chăm mừng rõ. Công chúa muốn gì đựơc nấy. Bọn nội thị từ đây mới thấy hoàng cung rộn rịp tươi vui hơn trước. Trong khi đó sư bộ Đại Việt bắt đầu vào nhận đất mới.

Nhưng việc đời còn éo le nhiều nỗi. Công chúa cùng vua Chăm hương đượm lửa nồng chưa được một năm thi nhà vua bỗng nhiên mắc bệnh rồi mất. Tin dữ truyền đi khắp hai nước, riêng đối với công chúa thì không khác gì tiếng sét ngang tai. Đầu xanh đã phải chịu cảnh góa bụa. Không những thế, công chúa sẽ chịu tang trong một thời kỳ ngắn để rồi lên hỏa đàn về với vua Chăm bên kia thế giới. Nhập gia tuỳ tục, tuy công chúa là người Việt nhưng nay đã là hoàng hậu Chăm, không thể không theo đúng tục lệ có tự nghìn xưa. Vua Trần nghe tin lo sợ, vội sai sứ bộ vào điều tang và tìm cách cứu công chúa. Nhân lúc mọi người bối rối, sứ bộ Việt giả cách xin phép đưa công chúa ra bờ biển làm lễ cầu hồn rồi lén đưa xuống thuyền nhỏ, một mạch dong buồm ra Bắc.

Việc hoàng hậu bỏ trốn làm cho triều đình nước Chăm nổi giận. Đã thế thì lời hứa cũ không còn có giá trị nữa. Món đồ sính lễ là hai châu Ô, Rí phải được trả lại. Nghĩ thế, ông vua mới nước Chăm bèn sai năm vạn quân mã ra giữ chắc lấy hai châu đó, mặc dầu việc bàn giao đã sắp xong, bên Đại Việt không ngờ có chuyện xảy ra như thế chỉ phái tướng quân Đoàn Nhữ Hài mang mấy ngàn quân vào dò động tĩnh.

Một buổi chiều hè, quân Đại Việt mang theo cát bụi từ Đàng ngoài đã tiến vào tới sát bờ sông Trong. Quân do thám về báo quân Chăm đã kéo ra đông vô kể, do một viên tướng mặt đen râu xồm tên là Lồi hiện đang đóng trên mấy ngọn đồi ở bên kia sông. Thấy tình thế đã trở nên nghiêm trọng, tướng Việt lo lắng vì sức người sức mình cách nhau một trời một vực. Đoàn tướng quân vò đầu suy nghĩ. Rồi đó người ta thấy quân lính Việt được lệnh cắm trại rải rác suốt mấy dặm dài dọc theo bờ sông. Mỗi trại chia ra từng nhóm quân, nhóm nào nhóm ấy cắm cờ la liệt. Để khoa trương thanh thế, ban đêm mọi nơi thắp đèn đuốc sáng choang, lại đánh trống chiêng và hò reo rầm trời. Ban ngày có một toán quân đã cắt đặt sẵn, vác gươm giáo sáng quắc, nai nịt chỉnh tề đi quanh hòn núi nổi lên trên bờ sông.

Bên Chăm thấy bên Việt án binh bất động lại thấy quân địch kéo qua núi liên miên không ngớt, nghĩ tới oai hùng của những người đã chiến thắng trăm vạn quân hùm beo Mông Cổ nên sinh khiếp sợ. Song vâng mệnh vua đem đại quân ra giữ biên thùy, không lẽ chưa giao chiến đã vội rút lui. Sau mấy ngày làm kế nghi binh, đoàn tướng quân cho quân mang thư mời tướng Chăm ra trước trận để cùng thương lượng. Kết quả, các tướng lĩnh hai bên đi đến mốt đính ước: “Trong một đêm hai bên đều khởi công, mỗi bên đắp một bức thành cho suốt tới sáng, bên nào hơn thi thắng. Bên thua lập tức lui binh nhượng đất, để khỏi giết hại sinh linh”. Trong khi quân Đại Việt còn đủng đỉnh nấu ăn coi bộ chưa nghĩ tới cuộc đấu sức đã bắt đâu, thì quân Chăm đã vội vã kẻ đào người chuyển đất, đắp một bức thành suốt dọc bờ sông vắt qua mấy ngọn đồi. Tướng Lồi đốc thúc ráo riết. Trời vừa tối hẳn thì quân Chăm đã đắp nổi một quãng khá cao. Cho đến mờ sáng, cả tướng lẫn quân lấy làm mừng rỡ vì mặt thành đã cao hơn trượng. Chợt nghe một hồi trống đồng từ bên kia vọng đến, quân Chăm bên này trông sang, thì kia, thăm thẳm mây dặm dài, thành của bên quân Đại Việt đã xây xong từ bao giờ: Tường cao dễ đến mấy trượng, công thành với cái vọng lâu của nó trông thật là đồ sộ. Chẳng những thế, trong thành lại còn nhà cửa mới xây rất nguy nga: mái lợp ngói đỏ tường quét vôi trắng, trên mặt thành voi ngựa, quân lính dàn ra không biết bao nhiêu mà kể. Thật là bạt ngàn san dã… Hàng ngũ của họ rất tề chỉnh, đứng im phăng phắc dưới bóng cờ như chỉ chờ lệnh là xông ra. Tướng Lồi ở trên chòi cao đưa mắt nhìn với một vẻ ngơ ngẩn hãi hùng. Quân Việt quả là dồn tất cả lực lượng vào đây. Trêu vào họ chỉ là chuốc lây một thất bại thảm hại. Khi nghe tiếng loa bên địch thét lên, tướng Lồi nổi hiệu cho toàn quân rút lui khỏi vùng Ô, Rí.

Tuy không phải đánh chác gì, nhưng Đoàn tướng quân cũng báo tin đại thắng về cho vua Trần, không quên nói hết mưu kỳ của mình trong cuộc đọ trí nguy hiểm này. Bởi vì quân Chăm có biết đâu thành của quân địch toàn bằng phên tre dựng lên, nhà cửa đều bằng nan ghép lại, quân sĩ voi ngựa đều bằng cỏ bện hoặc bằng đất, những mái đỏ tường trắng, cỏ xanh đều là màu thuốc tô điểm.

Ngày nay vẫn còn dấu vết bức thành do quân Chăm đắp dở, thuộc địa phận mấy xã Dương xuân, Nguyệt-biểu (Thừa-thiên). Người ta gọi là thành Lồi để phân biệt nó với thành Phật-thệ ở gần đó và cũng để nhắc nhở cái tên viên tướng thua cay trong cuộc đấu trí vừa hiếm có vừa ly kỳ ấy.

II. Tìm hiểu thêm

1. Thể loại

Truyện Sự tích thành Lồi thuộc thể loại truyện cổ tích.

2. Tóm tắt truyện cổ tích

Vua Chiêm Thành vì yêu mến sắc đẹp và danh tiếng công chúa Huyền Trân của Đại Việt nên đã quyết định dâng hai châu Ô và Rí làm sính lễ để cầu hôn. Triều đình Đại Việt đồng ý và công chúa Huyền Trân được gả sang làm hoàng hậu Chiêm Thành. Tuy nhiên, chỉ chưa đầy một năm sau, vua Chiêm mất. Theo tục lệ, hoàng hậu phải chết theo vua. Để cứu công chúa, sứ bộ Đại Việt đã bí mật đưa nàng trốn về nước.

Chiêm Thành tức giận, cho rằng hôn ước bị phá vỡ nên sai quân chiếm lại hai châu Ô, Rí. Đại Việt phái tướng Đoàn Nhữ Hài vào trấn giữ. Thấy lực lượng quá chênh lệch, Đoàn tướng quân bày mưu nghi binh: dựng trại giả, xây thành bằng tre nứa, tô vẽ sặc sỡ để đánh lừa quân Chăm. Khi hai bên giao ước thi xây thành trong một đêm, quân Chăm đắp thật, quân Việt dựng giả. Sáng hôm sau, thấy thành Việt “đồ sộ”, quân Chăm hoảng sợ rút lui. Đại Việt giữ vững đất đai mà không phải giao chiến.

3. Bố cục truyện

+ Phần 1 (Từ đầu đến "vượt qua muôn trùng sông nước mới tới kinh đô"): Giới thiệu bối cảnh lịch sử, nguyên nhân dẫn đến cuộc hôn nhân chính trị giữa Đại Việt và Chiêm Thành.

+ Phần 2 (Tiếp đến "một mạch dong buồm ra Bắc"): Cao trào bi kịch cá nhân và hành động khéo léo cứu công chúa khỏi hỏa đàn theo tục lệ Chiêm.

+ Phần 3 (Tiếp đến "bên kia sông"): Mâu thuẫn chính trị giữa hai nước sau vụ công chúa bỏ trốn, tình hình quân sự căng thẳng.

+ Phần 4 (Còn lại): Diễn biến cuộc đấu trí giữa hai bên, kết thúc bằng chiến thắng không cần đổ máu của quân Đại Việt.

III. Tìm hiểu chi tiết

1. Vì sao vua Chiêm dâng hai châu Ô, Rí để cầu hôn công chúa Đại Việt?

  • Vua Chiêm Thành say mê sắc đẹp và danh tiếng công chúa Huyền Trân của Đại Việt nên quyết tâm cầu hôn.

  • Dù có thể dâng vàng bạc, châu báu, voi ngựa, nhưng vua được cận thần khuyên rằng chỉ có hiến đất mới đủ để lay động triều đình Đại Việt.

  • Ngoài ra, vua cũng mong muốn dùng mối nhân duyên để hóa giải hận thù chiến tranh giữa hai nước, nên đã quyết định hiến hai châu Ô, Rí – vùng đất có giá trị chiến lược – làm sính lễ.

  • Việc dâng đất thể hiện tấm lòng tha thiết của vua Chiêm, đồng thời cho thấy mối quan hệ bang giao giữa các quốc gia thời phong kiến gắn chặt với hôn nhân chính trị.

2. Đoàn Nhữ Hài đã dùng mưu kế gì để đánh lừa quân Chăm? Mưu đó có ý nghĩa gì?

  • Trước thế trận bất lợi về quân số, Đoàn Nhữ Hài không chọn chiến đấu trực tiếp mà dùng kế nghi binh và xây thành giả.

  • Ông cho quân dựng trại la liệt, đốt đuốc rầm rộ về đêm, tạo ấn tượng là lực lượng đông đảo.

  • Trong cuộc thi đắp thành, ông chỉ huy quân dựng thành bằng phên tre, tô vẽ bằng màu sặc sỡ, bày voi ngựa bằng rơm rạ, cỏ khô, tạo nên một bức thành nguy nga đồ sộ chỉ trong một đêm.

  • Quân Chăm tưởng thành thật, hoảng sợ mà rút lui, Đại Việt giữ được đất mà không tổn binh.

Ý nghĩa:

  • Mưu kế thể hiện trí tuệ quân sự xuất sắc và bản lĩnh chính trị của tướng Đoàn Nhữ Hài.

  • Khẳng định sức mạnh của mưu trí trong chiến tranh, không phải lúc nào thắng lợi cũng nhờ sức mạnh cơ bắp.

  • Góp phần tôn vinh truyền thống “lấy trí thắng lực”, “lấy yếu chống mạnh” trong lịch sử dân tộc Việt Nam.

3. Giá trị nội dung

+ Khẳng định trí tuệ và bản lĩnh dân tộc Đại Việt: Thông qua hình tượng tướng Đoàn Nhữ Hài, câu chuyện đề cao trí tuệ, sự linh hoạt và bản lĩnh trong việc bảo vệ chủ quyền quốc gia.

+ Thể hiện tinh thần nhân đạo, hòa hiếu: Dù thắng lợi, quân Đại Việt vẫn tránh đổ máu. Truyện thể hiện ước vọng hòa bình và lòng nhân từ, không hiếu chiến.

+ Ca ngợi công chúa Huyền Trân: Dù chỉ gián tiếp, truyện cho thấy sự hy sinh của công chúa vì đất nước khi chấp nhận cuộc hôn nhân chính trị, và nỗi bất hạnh của người phụ nữ thời phong kiến.

+ Phản ánh mối quan hệ phức tạp giữa Đại Việt – Chiêm Thành: Có khi hòa hiếu, có khi căng thẳng. Nhưng cách giải quyết của người Việt luôn thiên về trí tuệ và mềm mỏng.

4. Giá trị nghệ thuật

+ Xây dựng tình huống kịch tính, logic: Cuộc giải cứu công chúa và đặc biệt là cuộc thi đắp thành giữa hai đạo quân rất sinh động và hấp dẫn.

+ Miêu tả mưu kế tinh vi, sáng tạo: Mưu “thành giả đánh lừa địch” là một điểm nhấn đầy trí tuệ, thể hiện lối tư duy sắc bén và đầy tính chiến thuật.

+ Ngôn ngữ sinh động, đậm chất dân gian: Sử dụng hình ảnh gợi cảm, kể chuyện mạch lạc, lôi cuốn, phù hợp với truyền thống kể chuyện dân gian.

+ Khắc họa nhân vật rõ nét: Đoàn Nhữ Hài thông minh, quyết đoán; tướng Lồi hung hăng nhưng sau trở nên khiếp sợ.

1 313 18/06/2025


Xem thêm các chương trình khác: