Đọc truyện: Sự tích con Dã Tràng (tóm tắt, thể loại, bố cục, tìm hiểu chi tiết câu chuyện)

Dưới đây là nội dung truyện cổ tích Sự tích con Dã Tràng, mời bạn đọc đón xem:

1 1,082 26/06/2025


TRUYỆN CỔ TÍCH SỰ TÍCH CON DÃ TRÀNG

I. Đọc truyện

SỰ TÍCH CON DÃ TRÀNG

Ông Dã Tràng vì công cứu rắn và đôi ngỗng mà đã được hậu tạ bằng 2 viên ngọc quý mà ông luôn mang theo bên mình. Trong một lần vì vội đã để quên ở nhà đã bị vợ mang xuống Thủy Cung. Vì tức giận ông quyết tâm dùng cát lấp biển để có đường xuống Thủy Cung đòi ngọc. Cuối cùng khi ông chết đi biến thành con còng vẫn ngày ngày xe cát.


Ngày xửa ngày xưa, có hai vợ chồng một ông già tên là Dã Tràng . Trong vườn họ có một hang rắn. Thường ngày làm cỏ gần đấy, ông già vẫn thấy có một cặp vợ chồng rắn hổ mang ra vào trong hang .

Một hôm, con rắn chồng bò ra khỏi hang một mình. Ông nhìn vào, thấy rắn vợ nằm cuộn ở trong. Vì mới lột nên mình mẩy của nó yếu ớt không cựa quậy được. Một lúc lâu rắn chồng bò trở về, miệng tha một con nhái đút cho vợ ăn .

Ít lâu sau, Dã Tràng lại thấy rắn vợ bò ra khỏi hang một mình. Lần này rắn chồng đến kỳ lột, nằm im thiêm thiếp, lốt da cũ còn bỏ lại bên hang. Hồi lâu, rắn vợ trở về, theo sau một con rắn đực khác khá lớn. Dã Tràng thấy hai con bò đến cửa hang thì dừng lại rồi quấn lấy nhau như bện dây thừng. Một lát sau, con rắn đực một mình bò vào hang. Dã Tràng biết con rắn đực này toan làm gì rồi. Ông cảm thấy tức giận, muốn trừ bỏ con rắn đó đi để cứu con rắn chồng đang lúc suy nhược. Lúc đó bên mình không có cái gì cả, ông bèn rút một mũi tên nhằm con rắn đực mới đến, bắn ngay một phát. Không ngờ mũi tên lại trúng vào đầu con rắn vợ chết tươi, còn con kia hoảng hồn chạy mất. Dã Tràng nghĩ cũng thương con rắn cái, nhưng trong cái thương có lẫn cả giận, nên ông chán nản bỏ đi về nhà. Từ đó ông không thèm để ý đến hang rắn nữa. Chừng dăm bảy ngày sau, một hôm Dã Tràng nằm võng thuật chuyện vợ chồng con rắn cho vợ nghe và vui miệng, ông kể luôn những việc mình đã thấy và đã làm. Ông kể vừa dứt lời thì bỗng nghe trên máng nhà có tiếng phì phì. Cả hai người hốt hoảng nhìn lên thì thấy có một con rắn hổ mang rất lớn, đuôi quấn lấy xà nhà, đầu vươn gần chỗ ông nằm, miệng nhả một viên ngọc. Ông vừa cầm lấy thì bỗng nghe được tiếng rắn nói :

– Ông là ân nhân mà tôi cứ ngỡ là kẻ thù. Mấy hôm nay tôi đợi ông trên máng này chỉ chực mổ chết để báo thù cho vợ tôi . Nhưng hồi nãy nghe ông kể chuyện rõ ràng, tôi mới biết là lầm. Xin biếu ông viên ngọc nghe này. Đeo nó vào mình thì có thể nghe được mọi tiếng muông chim ở thế gian.

Từ kinh ngạc đến sung sướng, Dã Tràng nhận viên ngọc quý và từ đó không bao giờ rời.

Một hôm, Dã Tràng đang hái rau, tự dưng có một bầy quạ đến đậu ở mấy ngọn cau nói chuyện lao xao. Chúng nó bảo Dã Tràng như thế này : “Ở núi Nam có một con dê bị hổ vồ. Hãy lên đó lấy về mà ăn nhưng nhớ để lòng lại cho chúng tôi với”. Dã Tràng làm theo lời quạ, quả thấy xác một con dê trên núi Nam. Ông xẻo lấy một ít thịt xâu lại xách về. Đến nhà, ông vội mách cho xóm giềng biết mà đi lấy, không quên dặn họ để bộ ruột dê lại cho bầy quạ. Nhưng ông không ngờ người trong xóm nghe tin ấy, đua nhau đi đông quá, thành ra họ lấy tất cả, chẳng chừa một tí gì.

Lũ quạ không thấy ruột dê, cho là Dã Tràng đánh lừa, bèn đổ xô đến vườn ông réo om sòm. Thấy vậy ông biết là người trong xóm đã làm hại mình, không giữ chữ tín với bầy quạ. Ông phân trần mấy lần nhưng bầy quạ không nghe, cứ đứng đó chửi mãi.

Tức mình, ông bèn lấy cung tên ra bắn vào chúng. Chủ ý là để đuổi chúng đi chứ không định giết. Chẳng ngờ bầy quạ thấy vậy cho là ông lấy oán trả ân, liền cắp mũi tên có tên Dã Tràng ở đuôi, tìm dịp báo thù. Lúc bay qua sông, thấy một cái xác chết trôi, đàn quạ bèn đem mũi tên ấy cắm vào yết hầu xác chết. Khi quan sở tại đến làm biên bản, thấy mũi tên, liền đoán Dã Tràng là thủ phạm, sai lính bắt ông, hạ ngục.

Dã Tràng bị bắt bất ngờ, hết sức kêu oan, nhưng mũi tên là một chứng cớ sờ sờ làm cho ông đuối lý, đành chịu chui đầu vào gông . Tuy nhiên, ông vẫn một mực xin quan xét giải ông về kinh để vua phân xử.

Từ đề lao tỉnh, ông bị điệu đi. Dọc đường trời tối, bọn lính dừng lại quán ăn uống và nghỉ ngơi. Dã Tràng cổ bị gông, chân bị xiềng nằm trên đống rơm buồn rầu không ngủ được. Lúc trời gần rạng, ông nghe có một đàn chim sẻ bay ngang đầu nói chuyện với nhau :

– Nhanh lên ! Chuyến này sẽ không lo đói nữa mà cũng chả sợ ai đánh đuổi cả.

Một con khác hỏi :

– Của ai mang đến bỏ vương vãi như thế ?

Con nọ trả lời :

– Của Vua nước bên kia. Họ toan kéo sang đánh úp bên này. Ngày hôm qua, quân đội giáo mác kéo đi liên miên không ngớt. Nhưng xe thóc vừa sắp đến biên giới thì bị sụp hầm đổ hết. Họ đang trở về lấy thứ khác cho nên chúng ta tha hồ chén.

Nghe đoạn, chờ lúc bọn lính thúc dục lên đường, Dã Tràng bảo họ :

– Xin các ông bẩm lại với quan rằng việc oan uổng và nhỏ mọn, không nên bận tâm, mà giờ đây chỉ nên lo việc quốc gia trọng đại thôi, và còn cấp bách nữa là khác.

Bọn lính tra gạn ông mãi nhưng ông không nói gì thêm, chỉ nài rằng hễ có mặt quan, mình mới tỏ bày rõ ràng.

Khi gặp mấy vị quan đầu tỉnh, Dã Tràng liền cho họ biết rằng Hiến Đế ở phương bắc đã sai tướng cầm quân sang đánh úp nước mình. Hiện họ đang đóng quân đầy ở biên giới, chỉ vì bị sụp hầm, xe lương đổ hết, chưa tấn công được. Bây giờ họ đang vận thêm lương, chờ đầy đủ sẽ vượt cửa ải sang Nam. Bọn quan tỉnh lấy làm lo lắng nhưng cũng cố hỏi ông có dám chắc như vậy không. Dã Tràng chỉ vào đầu mình mà đoan rằng nếu có sai, ông sẽ xin chịu chết. Nhưng nếu lời của ông đúng thì xin bề trên thả ra cho. Ngay lúc đó, những tên quân do thám được tung đi tới tấp mọi ngõ để lấy tin. Và nội ngày hôm sau, Dã Tràng được thả vì lời mách của ông quả không sai và vừa vặn đúng lúc để chuẩn bị đối phó với địch.

Được tha, Dã Tràng đi bộ lần về quê nhà. Bóng chiều vừa ngả, ông mới đến vùng Hồng Hoa. Ông tìm vào nhà người bạn rất thân là Trần Anh nghỉ chân.

Gặp lại bạn cũ, vợ chồng Trần Anh vui mừng khôn xiết. Nghe tin ông bị tra tấn giam cùm và suýt mất đầu, hai vợ chồng rất cảm thương bạn. Thấy bữa ăn tối thết bạn không có gì, Trần Anh xuống bếp bảo vợ :

– Bạn ta đến, lại gặp lúc trong nhà chả có gì ăn. Sẵn có cặp ngỗng, con nó đã khôn, ta làm thịt một con, ngày mai đãi bạn lên đường.

Người vợ bằng lòng nhưng dặn chồng sáng sớm bắt ngỗng và cắt tiết vặt lông giúp mình một tay.

Trong khi hai vợ chồng bàn tính thì cặp ngỗng ở ngoài chuồng nghe được câu chuyện. Ngỗng trống bảo ngỗng mái :

– Mình ơi ! Mình hãy ở lại nuôi con, tôi sẽ đứng sẵn cho chủ nó bắt. Ngỗng mái không nghe, xin chết thay cho chồng. Nhưng ngỗng trống nhất quyết hy sinh, nên chạy ra sân từ giã đàn con :

– Con ơi ! Các con ở lại với mẹ nghe. Cha sẽ không bao giờ gặp lại các con nữa.

Song ngỗng mái vẫn lạch bạch chạy theo, đòi chết thay chồng cho bằng được.

Lúc bấy giờ Dã Tràng nằm trên bộ ván đặt kề cửa sổ nên nghe được tiếng ngỗng than thở. Ông bỗng thấy thương con vật vô tội chỉ vì mình mà phải lìa đàn con bé bỏng. Ông toan nói trước với bạn, nhưng thấy bất tiện. Ông đành nghe ngóng ở chỗ chuồng ngỗng chờ lúc bạn ra bắt thì sẽ cản lại.

Suốt đêm hôm đó tuy mệt mà ông không dám ngủ. Quả nhiên, vào khoảng canh tư, Trần Anh thức dậy bước ra chuồng. Ngỗng trống xua ngỗng mái chạy rồi vươn cổ để cho bắt. Trần Anh sắp cắt cổ ngỗng thì Dã Tràng đã lật đật chạy xuống bếp nắm lấy đao. Ông nói :

– Xin bạn thả nó ra. Tính tôi không hay sát sinh. Tình thân của đôi ta lọ phải cỗ bàn mới thân. Nếu bạn giết nó thì tôi lập tức đi khỏi chỗ này.

Thấy bạn có vẻ quả quyết, Trần Anh đành thả ngỗng ra, rồi giục vợ chạy đi mua tép về đãi bạn.

Cơm nước xong, Dã Tràng từ giã bạn lên đường về nhà. Đến ao, ông đã thấy vợ chồng ngỗng cùng với bầy con đứng chực ở đấy. Ngỗng đực tặng Dã Tràng một viên ngọc và nói :

– Đa tạ ân nhân cứu mạng. Không biết lấy gì báo đền, chúng tôi xin tặng người viên ngọc này, mang nó vào người có thể đi được dưới nước dễ dàng không khác gì trên bộ. Nếu đem ngọc này xuống nước mà khoắng thì sẽ rung động đến tận đáy biển.

Ngỗng lại nói tiếp :

– Còn như con tép là vật đã thế mạng chúng tôi thì từ nay, dòng dõi chúng tôi sẽ xin chừa tép ra không ăn, để tỏ lòng nhớ ơn !

Dã Tràng không ngờ có sự báo đáp quá hậu như thế, sung sướng nhận lấy ngọc rồi về.

Khi đến bờ sông, Dã Tràng muốn thử xem công hiệu của viên ngọc mới, liền cứ để nguyên áo quần đi xuống nước. Thì lạ thay, nước rẽ ra thành một lối cho ông đi thẳng xuống đáy sông . Ông dạo cảnh hồi lâu rồi cầm viên ngọc khoắng vào nước nhiều lần để thử xem thế nào.

Hôm đó, Long Vương và các triều thần đang hội họp ở thủy phủ bỗng thấy nhà cửa lâu đài và mọi kiến trúc khác bỗng nhiên rung động, cơ hồ muốn đổ. Ai nấy đều nháo nhác không hiểu duyên cớ. Vua lập tức truyền cho bộ hạ đi dò la sự tình.

Bộ hạ Long Vương theo con đường sóng ngầm lọt vào cửa sông thì thấy Dã Tràng đang cầm ngọc khoắng vào nước. Mỗi lần khoắng như thế, họ cảm thấu xiêu người nhức óc. Tuy biết đích là thủ phạm, họ cũng không dám làm gì, chỉ tiến đến dùng lời nói khéo mời ông xuống chơi thủy phủ.

Gặp Long Vương, Dã Tràng cho biết đó là mình chỉ mới làm thử để xem phép có hiệu nghiệm chăng. Long Vương và triều thần nghe nói, ai nấy đều xanh mặt. Nếu hắn làm thật thì thế giới thủy phủ sẽ còn gì nữa ! Vì thế, Long Vương đãi Dã Tràng rất hậu. Ông muốn gì có nấy. Cho đến lúc ông ra về, Long Vương còn đem vàng bạc tống tiễn rất nhiều để mong nể mặt.

Dã Tràng lên khỏi nước có bộ hạ của Long Vương tiễn chân về tới tận nhà mới trở lại. Bà con xóm giềng thấy ông đã không việc gì mà lại trở nên giàu có thì ai cũng lấy làm mừng cho ông . Từ đó Dã Tràng rất quý hai viên ngọc. Ông may một cái túi đựng chúng và luôn luôn đeo ở cổ.

Một hôm Dã Tràng đi bộ nửa ngày đường đến nhà một người bà con ăn giỗ. Lúc đến nơi Dã Tràng sờ lên cổ giật mình mới nhớ ra vì vội vàng quá nên ông đã bỏ quên mất túi ngọc ở nhà. Ông thấy không thể nào an tâm ngồi ăn được. Mọi người đều lấy làm ngạc nhiên thấy ông vừa chân ướt chân ráo đến nơi đã vội cáo từ về ngay.

Nhưng khi về đến nhà, ông tìm mãi vẫn không thấy túi ngọc đâu cả. Ông rụng rời cả người. Đi tìm vợ, vợ cũng không thấy nốt. Nóng ruột, ông lục lọi khắp nơi. Cuối cùng ông bắt được một mảnh giấy do vợ ông viết để lại gài ở chỗ treo áo. Trong đó, vợ ông nói rằng có người của Long Vương lên bảo cho biết hễ ai bắt được túi ngọc đưa xuống dâng Long Vương thì sẽ được phong làm hoàng hậu. Bởi vậy bà ta đã trộm phép ông, đưa túi ngọc xuống thủy phủ rồi, không nên tìm làm gì cho mệt. Đọc xong thư vợ. Dã Tràng ngất đi. Ông không ngờ vợ ông lại có thể như thế được. Ông cũng không ngờ âm mưu của Long Vương thâm độc đến nước ấy. Nghĩ đến hai thứ bảo vật, ông tức điên ruột. Sau cùng, ông dự tính chở cát lấp biển thành một con đường đi xuống thủy phủ để lấy lại túi ngọc vì ông còn nhớ cả đường lối đến cung điện của Long Vương. Mặc dầu mọi người can ngăn, ông cũng không nghe, bèn dọn nhà ra bờ biển làm công việc đó. Ngày ngày ông xe cát chở đến bờ quyết lấp cho bằng được. Cho tận đến chết, Dã Tràng vẫn không chịu bỏ dở công việc. Chết rồi ông hóa thành con còng còng hay cũng gọi là con Dã Tràng ngày ngày xe cát để lấp biển. Tục ngữ có câu :

Dã Tràng xe cát biển Đông .
Nhọc lòng mà chẳng nên công cán gì.

Hay là :

Công Dã Tràng hàng ngày xe cát,
Sóng biển dồn tan tác còn chi .

Hay là :

Con còng còng dại lắm không khôn .
Luống công xe cát sóng dồn lại tan .

Người ta nói ngày nay loài ngỗng sở dĩ không bao giờ ăn tép là vì chúng nó nhớ ơn loài tép đã thế mạng cho tổ tiên mình ngày xưa. Họ còn nói loài ngỗng có một cái mào trắng trên đầu là dấu hiệu để tang cho Dã Tràng để nhớ ơn cứu mạng.

II. Tìm hiểu thêm

1. Thể loại

Truyện Sự tích con Dã Tràng thuộc thể loại truyện cổ tích.

2. Tóm tắt truyện cổ tích

Truyện kể về ông Dã Tràng – một người tốt bụng, thích giúp đỡ muôn loài, từng cứu rắn và vợ chồng ngỗng, nhờ vậy mà được tặng hai viên ngọc quý có phép thần kỳ. Một viên giúp nghe hiểu tiếng muông thú, viên còn lại giúp đi lại dưới nước và rung động được thủy phủ. Nhờ những viên ngọc này, ông nhiều lần tránh được hoạn nạn và còn cứu cả đất nước thoát khỏi nguy cơ xâm lược. Nhưng trong một lần đi ăn giỗ, ông sơ ý để quên túi ngọc ở nhà, bị vợ tham lam lấy đem dâng Long Vương. Phẫn uất và đau khổ, Dã Tràng quyết tâm chở cát lấp biển để lấy lại bảo vật. Cuối cùng ông chết đi hóa thành con còng (còn gọi là Dã Tràng), ngày ngày xe cát bên bờ biển. Từ đó, thành ngữ "Dã Tràng xe cát biển Đông" được dùng để chỉ công việc vất vả nhưng vô ích.

3. Bố cục truyện

+ Phần 1 (Từ đầu đến " viên ngọc quý và từ đó không bao giờ rời"): Dã Tràng tình cờ cứu rắn đực khỏi rắn đực khác, không may lại làm chết rắn cái. Rắn đực hiểu lầm, định báo thù nhưng sau khi nghe được câu chuyện thì hối hận và tặng Dã Tràng viên ngọc giúp nghe hiểu tiếng loài vật.

+ Phần 2 (Tiếp đến "vừa vặn đúng lúc để chuẩn bị đối phó với địch"): Dã Tràng nhờ viên ngọc mà biết chuyện quốc gia nguy biến, giúp đất nước thoát khỏi âm mưu xâm lược. Ông được minh oan và thả tự do.

+ Phần 3 (Tiếp đến "Ông may một cái túi đựng chúng và luôn luôn đeo ở cổ"): Trên đường về nhà, Dã Tràng cứu vợ chồng ngỗng khỏi bị giết, được tặng viên ngọc thứ hai có khả năng đi lại và điều khiển nước. Sau đó ông thử ngọc, bị rung động thủy cung nên được Long Vương mời xuống, đãi hậu, tặng nhiều châu báu.

+ Phần 4 (Còn lại): Dã Tràng để quên túi ngọc, vợ ông vì lòng tham nghe lời dụ của thủy cung nên mang xuống dâng Long Vương. Ông tức giận, quyết tâm chở cát lấp biển để xuống tìm lại, nhưng không thành công. Ông chết đi hóa thành con còng – Dã Tràng, vẫn ngày ngày xe cát bên bờ biển.

III. Tìm hiểu chi tiết

1. Vì sao Dã Tràng lại được tặng hai viên ngọc quý?

– Viên ngọc đầu tiên được tặng sau khi ông vô tình cứu được rắn đực trong lúc bị kẻ khác định giết. Dù ban đầu rắn đực hiểu lầm và định báo thù, nhưng sau khi nghe ông kể rõ đầu đuôi câu chuyện thì nhận ra ông là ân nhân, liền tặng viên ngọc có khả năng nghe hiểu tiếng loài vật.

– Viên ngọc thứ hai là nhờ ông cứu vợ chồng ngỗng khỏi bị người bạn giết thịt đãi mình. Vợ chồng ngỗng cảm kích, tặng viên ngọc có phép thần thông giúp đi lại dưới nước như trên cạn, thậm chí rung động được cả thủy phủ nếu khuấy vào nước.

– Hai viên ngọc là phần thưởng xứng đáng cho lòng nhân hậu, trắc ẩn và tình thương của Dã Tràng với mọi sinh vật – dù là rắn, chim, hay ngỗng. Nhưng chính sự nhân đức ấy cũng khiến ông gặp rắc rối sau này – do lòng tham của người vợ và sự thâm độc của Long Vương.

2. Hành động chở cát lấp biển của Dã Tràng thể hiện điều gì?

– Việc Dã Tràng quyết chở cát lấp biển để đòi lại túi ngọc là hình ảnh biểu trưng cho sự kiên trì nhưng cũng rất vô vọng, bất lực trước những mất mát không thể lấy lại được. Đó là phản ứng tiêu cực vì quá đau khổ, bị phản bội niềm tin (bởi chính vợ mình).

– Dù nhiều người can ngăn, ông vẫn không từ bỏ, thể hiện một sự cố chấp cực đoan nhưng cũng rất đáng thương. Khi ông chết đi hóa thành con còng, người đời cảm thương gọi là “Dã Tràng xe cát”, và từ đó thành ngữ ra đời, mang ý nghĩa chỉ những nỗ lực không mang lại kết quả.

– Đồng thời, hành động này cũng cho thấy ông không cam chịu trước bất công, dù đối phương là thủy cung quyền lực. Nhưng tiếc rằng nỗ lực này lại không được định hướng đúng, và kết quả chỉ là sự lặp lại vô vọng.

3. Giá trị nội dung

– Ca ngợi phẩm chất nhân hậu: Dã Tràng là hình ảnh đẹp của người nhân từ, có lòng thương loài vật, luôn sẵn sàng cứu giúp kể cả rắn độc hay chim muông.

– Phê phán lòng tham và sự phản bội: Người vợ vì tin lời dụ dỗ, tham quyền lực mà phản bội chồng, gây ra hậu quả lớn. Câu chuyện là lời cảnh tỉnh với những ai dễ bị dụ dỗ bởi danh lợi.

– Bài học về sự cố chấp và giới hạn của con người: Hành động xe cát của Dã Tràng, dù xuất phát từ sự quyết tâm, lại dẫn đến kết cục vô vọng. Điều đó cho thấy con người có những giới hạn, không thể chống lại tự nhiên hay số phận chỉ bằng ý chí đơn thuần.

4. Giá trị nghệ thuật

– Yếu tố kỳ ảo: Truyện sử dụng nhiều yếu tố kỳ ảo như rắn biết nói, ngọc thần, ngỗng biết suy nghĩ, thủy phủ… tạo nên không gian hấp dẫn và kích thích trí tưởng tượng của người đọc.

– Kết cấu lớp lang, logic: Truyện có kết cấu hợp lý, theo từng lớp sự kiện phát triển: từ cứu rắn → cứu ngỗng → thử ngọc → mất ngọc → hành trình đi đòi lại.

– Ngôn ngữ dân gian, giàu hình ảnh: Ngôn từ bình dị, dễ hiểu, phù hợp với truyện cổ tích truyền miệng, kết hợp với hình ảnh tượng trưng sâu sắc (con còng – xe cát – biển cả).

– Biểu tượng giàu ý nghĩa: Hình ảnh Dã Tràng xe cát là biểu tượng giàu chất triết lý về kiếp người, về công sức, sự mất mát và tính hữu hạn của con người trước thiên nhiên, số phận.

1 1,082 26/06/2025


Xem thêm các chương trình khác: