Đọc truyện: Nguyễn Khoa Đăng (tóm tắt, thể loại, bố cục, tìm hiểu chi tiết câu chuyện)

Dưới đây là nội dung truyện cổ tích Nguyễn Khoa Đăng, mời bạn đọc đón xem:

1 377 01/07/2025


TRUYỆN CỔ TÍCH NGUYỄN KHOA ĐĂNG

I. Đọc truyện

NGUYỄN KHOA ĐĂNG

Ngày xưa, có nội tán Nguyễn Khoa Đăng là người có tài xử đoán ngay từ khi còn làm chức quan nhỏ. Sau khi lên chức ở huyện ông càng được nhiều người dân mến phục hơn bởi những tình huống xử lý tài tình. Không chỉ vậy, ông còn được người dân yêu mến vì lòng tốt đối với mọi người lúc nào cũng lo trừ hại cho dân.


Có lần, ông đến nhậm chức ở một huyện, một hôm có người dân làng kia bị kẻ thù oán, đêm đến lẻn ra đồng phá hết cả một ruộng dưa. Đau xót cho công lao vun trồng, dưa sắp được ăn chỉ trong một đêm bị héo rụng hết cả, người ấy bèn đến kêu khóc với ông, xin ông minh xét. Ông Đăng theo ngay người ấy về tận ruộng dưa khám nghiệm. Tất cả dấu vết đều chứng tỏ kẻ gian đã dùng một cái thuổng xắn đứt ngọn dưa và dùng cán giẫm nát hầu hết các gốc dưa. Nhưng hắn rất khôn ngoan, bao nhiêu dấu chân, hắn đều cố ý xóa sạch. Ông hỏi người trồng dưa:

– Anh có ngờ ai thù oán mình không?

Người ấy kể cho quan nghe tên mấy người ở xóm, lập tức ông sai chức dịch đi thu hồi tất cả các thuổng trong xóm lại, thuổng của nhà nào đều có ghi tên nhà ấy vào cán. Đoạn, ông khám từng cán thuổng một, nhặt riêng mấy cái khả nghi ra một nơi. Rồi ông sai người thè lưỡi liếm trên mấy cái cán thuổng đó. Quả nhiên có một cái, người ta nhận thấy có vị đắng. Ông sai lấy một gốc dưa đập giập vắt nước ra nếm thử thì chất đắng của dưa cùng với chất đắng trên cán thuổng là một. Ông nhìn lại tên ghi ở thuổng thì đúng là thuổng của một trong số mấy người mà nguyên cáo ngờ là có thù oán với mình.

Lập tức ông sai lính bắt người kia giải đến. trước tang chứng và lý lẽ đanh thép của quan, hắn không còn chối vào đâu được, đành cúi đầu nhận tội. Ông bắt hắn phải đền hoa lợi ruộng dưa cho người kia và phạt thêm gấp hai lần để hắn chừa cái thói hại ngầm kẻ khác.

Một hôm khác, có một anh hàng dầu, gánh một gánh ra chợ bán. Trong khi đang bận đong dầu, có kẻ đã thừa dịp thò tay vào bị lấy trộm tiền. Đến khi anh hàng dầu biết thì tên ăn cắp đã chạy đi nơi khác. Anh ta nhớ tới một người mù hồi nãy quanh quẩn bên gánh của mình, đuổi mấy cũng không đi, đoán chắc là kẻ cắp, bèn gửi gánh hàng cho người quen rồi đi tìm người mù lúc nãy. Nhưng khi gặp, người mù hết sức chối cãi, rằng mình mù thì còn biết tiền của để ở đâu mà lấy. Hai bên xô xát, tuần bắt giải quan.

Khi họ dắt nhau đến công đường, ông Đăng bắt hai bên khai rõ sự tình. Người mù khăng khăng từ chối không nhận. Ông Đăng hỏi:

– Anh có tiền giắt đi theo đấy không?

Trả lời:

– Có, nhưng đây là tiền tôi mang đi chợ, không phải của nó.

– Được cứ đưa ra đây, của ai rồi sẽ biết.

Khi người mù móc tiền ra, ông Đăng sai người múc đến một chậu nước, rồi bỏ tất cả số tiền vào chậu. Một chốc tự nhiên thấy trên mặt nước có váng dầu nổi lên. Nghe quan sai bưng chậu nước cho mọi người chứng kiến, người mù hết đường chối, đành chịu tội ngay.

Nhưng quan còn nói thêm:

– Khoan đã, chưa hết đâu. Tội ăn cắp mới là một. Nếu mày mù tịt thì làm sao biết được tiền người hàng dầu bỏ trong bị, cất trong thúng khảo mà lấy được! Đúng là mày giả mù. Lính đâu. Bắt nó nọc ra đánh cho rõ đau, kỳ bao giờ nó mở hai mắt ra hãy thôi.

Người mù trước còn chối lấy chối để, nhưng chỉ qua ba roi là hắn mở ngay hai mắt nhận tội, đúng như lời quan truyền bảo[1].

Một hôm khác, có một người lái buôn giấy đến trình quan rằng mình nghỉ trọ ở làng Hồ-xá bị trộm lấy mất cả một gánh giấy. Ông Đăng hỏi rõ nguồn cơn, sai người do thám mấy ngày liền không có kết quả, bèn thân hành đến làng Hồ-xá nghĩ cách cứu xét. Đến nơi, ông cho triệu dân chúng sở tại và mấy làng xung quanh lại và bảo:

– Trên tỉnh vừa sức về bắt các xã thôn mỗi một người không kể nam phụ lão ấu phải làm ngay một tờ khai tên tuổi quê quán cho minh bạch.

Lệnh ban ra, mọi người đua nhau đi mua giấy. Vì thế giấy ở chợ lên giá vùn vụt.

Lại nói chuyện tên trộm trộm được gánh giấy nhưng chưa có nơi tiêu thụ còn giấu ở nhà. Nay nghe nói giá giấy lên cao bèn mang lẻn một số ra chợ bán. Hắn không ngờ người nhà của ông Đăng cũng đi rải ở các chợ để chờ hắn. Thế là bị bại lộ, tên trộm không những bị tội phải đền gánh giấy cho người lái buôn mà còn phải đền cho dân các làng mặt tiền mua giấy kê khai tên tuổi.

Một lần khác, ông được đổi đi một hạt miền núi. Khi ông mới đến, người ta cho ông biết là hạt ấy nổi tiếng có nhiều trộm cướp nhà nghề. Các quan trước bó tay không thể nào trị nổi. Ông chỉ cười nhạt không nói gì, nhưng sau đó ngầm sai người thân tín đi dò la hành tung và quê quán từng tên một. Thế rồi, ông vẫn cứ tảng lờ như là không hay biết gì hết.

Một hôm nhân đi hành hạt qua một làng nọ, ông thấy có một hòn đá lớn ở bên vệ đường. Hỏi dân sở tại, họ đáp:

– Đây là ông Mốc, ngài thiêng lắm, ai cầu khẩn việc gì cũng đều được linh ứng.

Ông nghe nói liền họa theo:

– Phải thế thì ta tới cầu ngài giúp ta trừ yên cướp trộm để bớt hại cho dân chúng mới được!

Nói rồi một mình bước tới khấn vái, hồi lại trở ra bảo mọi người rằng:

– Ngài bảo vài hôm nữa rước ngài về, ngài sẽ vạch mặt tất cả bọ gian phi trong toàn huyện.

Ít hôm sau, ông sai mấy người ban đêm bí mật đào hầm ở giữa sân công đường rồi cho người thân tín xuống nấp dưới đó. Tờ mờ sáng hôm sau, ông sai lính đi khiêng hòn đá về đặt lên trên hầm. Trước mặt mọi người đông đủ, ông dõng dạc hỏi đá:

– Ta nghe đồn thần rất thiêng, “hữu cầu tất ứng”. Nay ta vâng mệnh hoàng đế đến đây trấn nhậm, nhưng hiện nay trong huyện hạt có nhiều trộm cướp nhiễu hại dân cư. Vậy ta mời thần về đây để mách hộ ta truy tầm kẻ phạm pháp. Nếu có công, ta sẽ tâu triều đình phong tặng.

Đá không trả lời. Hỏi mãi, đá vẫn một mực làm thinh, ông nổi giận quát lớn:

– Hay là đá đồng lõa với kẻ phạm pháp. Lính đâu, hãy tra tấn nó cho đến lúc nó phải khai thực!

Bấy giờ, mọi người nghe tin đến xem đông như hội. Lệnh truyền xa, lính dùng roi đánh vào đá túi bụi, tự nhiên đá bật ra tiếng khóc, xin dừng tay lại để khai. Thế rồi, đá lần lượt khai và vạch tội từng tên một. Mỗi lần đá khai một tên nào, ông sai lại mục viết ngay trát, giao cho lính đã chực sẵn đi nã bắt lập tức. Cho đến suốt ngày hôm đó bắt được ba mươi tên cừ khôi. Khi giải cả một xốc về tra tấn, bọn trộm cướp nhìn nhau kinh ngạc, không ngờ lại có việc xảy ra như thế và bắt đúng tên như thế. Chúng cho là chỉ có thần đá linh thiêng mới biết một cách rành mạch tội trạng của mình, bèn không đợi khảo đả, thú nhận tất cả.

Trong thời kỳ làm nội tán, ông đã làm cho suốt một dọc truông nhà Hồ ở Quảng Trị không còn lấy một bóng gian phi. Trước đó, truông này là nơi rừng rậm, con đường Nam Bắc phải đi qua đây. Bọn gian phi đã dùng làm sào huyệt đón đường cướp của.

Nguyễn Khoa Đăng trước hết tìm cách lùng bắt trộm cướp. Ông sai chế ra một loại hòm gỗ kín có những lỗ thông khí, vừa một người ngồi lọt, có khóa trong, để người ngồi trong có thể mở tung ra được dễ dàng. Thế rồi, ông kén một số người giỏi võ, cho ngồi vào hòm có để sẵn vũ khí. Đoạn, ông sai quan sĩ của mình giả trang làm dân phu khiêng những hòm ấy qua truông nhà Hồ ra vẻ khiêng những hòm “của cải” nặng nề. Lại cho người đánh tiếng có một ông quan trấn ở ngoài Bắc sắp sửa trẩy về quê với những hòm tư trang quý giá sẽ đi qua truông. Bọn cướp đánh hơi thấy đây là một cơ hội kiếm ăn hiếm có, bèn rình lúc đoàn “dân phu” đi qua của truông, xông ra đánh đuổi, rồi hý hửng khiêng những cái hòm nặng ấy về tận sào huyệt.

Nhưng khi về đến nơi thì vừa đặt xuống thì những cái hòm tự nhiên mở toang, các võ sĩ ngồi trong đó cầm vũ khí xông ra đánh giết bọn cướp một cách bất ngờ. Đang lúc hoảng hốt chưa kịp đối phó thì bọn chúng nghe tin phục binh của triều đình ở phía ngoài ùn ùn kéo vào đông như kiến cỏ. Chúng đành chắp tay xin tha tội. Nhờ mẹo đó, Nguyễn Khoa Đăng đã tóm được cả lũ.

Ông cho phiên chế thành đội ngũ đi khai khẩn đất hoang ở nơi biên giới, lập thành những đồn điền lớn rộng. Sau đó, ông còn cho chiêu dân lập ấp ở dọc hai bên truông, làm cho một vùng trước kia là nơi vắng vẻ, trở nên những làng xóm dân cư đông đúc: tiếng xay lúa giã gạo, tiếng gà gáy chó sủa lấn dần tiếng vượn hú chim kêu. Từ đó, một vùng núi rừng thành ra yên ổn. Bọn trộm cướp còn lại đành phải giải nghệ.

Bởi vậy, người ta có câu: “Truông nhà Hồ nội tán cấm nghiêm” là thế.

II. Tìm hiểu thêm

1. Thể loại

Truyện Nguyễn Khoa Đăng thuộc thể loại truyện cổ tích.

2. Tóm tắt truyện cổ tích

Nguyễn Khoa Đăng là một vị quan nổi tiếng liêm khiết, thông minh và có tài xử án từ khi còn làm chức nhỏ. Khi lên làm quan lớn, ông càng được dân yêu mến bởi những cách xét xử tài tình, công bằng, luôn đặt lợi ích và sự an toàn của người dân lên trên hết.

Trong truyện, ông đã giải quyết nhiều vụ án oái oăm như: tìm ra kẻ phá ruộng dưa bằng cách phát hiện vị đắng trên cán thuổng; vạch mặt tên ăn trộm tiền giả mù bằng mẹo bỏ tiền vào nước để nhận ra vết dầu; dùng kế dụ tên trộm giấy ra chợ khi giá giấy tăng vọt; và đặc biệt là mẹo dùng “đá thần” để bắt hơn ba mươi tên trộm trong một ngày. Cuối cùng, để trị dứt điểm nạn cướp ở truông nhà Hồ, ông lập kế đóng người giỏi võ vào hòm gỗ, nhử cướp mang về hang ổ rồi đánh úp, bắt gọn cả bọn.

Sau đó, ông lập đồn điền, chiêu dân lập ấp, khiến vùng truông hoang vu thành nơi trù phú, yên ổn. Nhân dân kính phục và lưu truyền câu nói: “Truông nhà Hồ nội tán cấm nghiêm.”

3. Bố cục truyện

+ Phần 1 (Từ đầu đến "đành cúi đầu nhận tội"): Nguyễn Khoa Đăng xử lý khôn khéo vụ phá ruộng dưa và vụ ăn trộm tiền của anh hàng dầu.

+ Phần 2 (Tiếp đến "thú nhận tất cả"): Ông phá vụ trộm giấy bằng cách tăng giá thị trường và xử lý vụ trộm bằng mẹo “đá thần”.

+ Phần 3 (Còn lại): Nguyễn Khoa Đăng dẹp sạch bọn cướp ở truông nhà Hồ bằng mưu kế tài tình, biến vùng hoang vu thành nơi dân cư trù phú.

III. Tìm hiểu chi tiết

1. Qua các tình huống xử án, em nhận thấy Nguyễn Khoa Đăng là người như thế nào?

Nguyễn Khoa Đăng hiện lên là một vị quan mẫu mực, đáng kính, có nhiều phẩm chất nổi bật:

  • Thông minh, sắc sảo:
    Ông luôn nhìn ra được bản chất vấn đề qua các chi tiết nhỏ. Ví dụ: phát hiện vị đắng của dưa trên cán thuổng, dùng nước phát hiện dầu trên tiền, hay tăng giá giấy để dụ trộm.

  • Biết vận dụng mẹo mực hợp lý:
    Thay vì tra khảo, ông dùng kế hoạch và mẹo vặt để khiến kẻ gian tự lộ diện. Cách dùng “đá thần” hay võ sĩ trong hòm đều chứng minh tài dụng kế.

  • Luôn đặt lợi ích dân chúng lên hàng đầu:
    Ông không chỉ phá án, bắt cướp mà còn ổn định đời sống nhân dân: như ở truông nhà Hồ, ông lập đồn điền, xây dựng làng mạc để dân sống an cư lạc nghiệp.

  • Cứng rắn, nghiêm minh nhưng giàu lòng nhân đạo:
    Kẻ phạm pháp bị trừng trị xứng đáng, nhưng sau đó được cảm hóa và có thể cải tà quy chính, như việc lập đồn điền để họ lao động thay vì trừng phạt suốt đời.

=> Tóm lại, Nguyễn Khoa Đăng là biểu tượng của người quan thanh liêm, trí tuệ, biết thương dân, trị nước bằng mưu trí và lòng nhân ái.

2. Tính sáng tạo và hiệu quả của kế “đá thần” trong truyện.

Kế “đá thần” là một trong những chi tiết đặc sắc nhất truyện, thể hiện tư duy độc đáo của Nguyễn Khoa Đăng:

  • Tận dụng niềm tin dân gian:
    Ông không phủ nhận mà còn khai thác niềm tin vào thần linh của người dân. Từ đó, ông tạo ra “niềm tin” rằng đá có thể chỉ mặt kẻ xấu, khiến bọn cướp hoang mang.

  • Biến sự mê tín thành công cụ phá án:
    Dưới hòn đá là người thân tín của ông, bí mật vạch tên từng tên trộm. Đây là cách thức lợi dụng tâm lý tội phạm – càng tin đá linh, càng dễ sợ và khai ra.

  • Tạo hiệu ứng tâm lý đám đông:
    Trước đông đảo dân chúng, kẻ gian bị gọi đích danh, tưởng là “thần đá” biết rõ hành vi – khiến họ mất tinh thần, không dám chối cãi.

  • Kế hoạch tỉ mỉ, không tốn binh lực:
    Chỉ bằng một hòn đá, ông lần lượt bắt được ba mươi tên trộm mà không cần tra khảo. Điều đó cho thấy trí tuệ và tư duy xử lý tình huống cực kỳ hiệu quả.

=> Kế đá thần là minh chứng rõ ràng cho tài xử lý linh hoạt, biến hóa của Nguyễn Khoa Đăng – vừa có mưu mẹo, vừa thấu hiểu tâm lý con người.

3. Giá trị nội dung

  • Ca ngợi người quan thanh liêm, tài giỏi:
    Truyện tôn vinh hình ảnh Nguyễn Khoa Đăng – vị quan vì dân, thông minh, quyết đoán, lấy dân làm gốc.

  • Phản ánh khát vọng công lý của nhân dân:
    Qua những vụ xử án đúng người đúng tội, truyện thể hiện ước mơ của người dân về một xã hội công bằng, nơi cái ác bị trừng trị.

  • Gợi mở tư duy nhân văn:
    Không chỉ bắt cướp, ông còn tạo cơ hội làm lại cho họ. Đây là tư tưởng tiến bộ: giáo dục thay vì chỉ trừng trị.

4. Giá trị nghệ thuật

  • Kết hợp giữa yếu tố thực và kỳ ảo:
    Những chi tiết như “đá thần nói”, “dùng hòm nhử cướp” vừa thực tế vừa có màu sắc kỳ ảo, tạo hấp dẫn cho truyện.

  • Xây dựng nhân vật sinh động:
    Nhân vật Nguyễn Khoa Đăng không chỉ là người xử án mà còn là nhà quản lý giỏi, nhà giáo dục nhân dân – đầy chiều sâu.

  • Ngôn ngữ mạch lạc, dân gian:
    Cách kể chuyện gần gũi, rõ ràng, xen lẫn lời thoại, lời dẫn làm cho câu chuyện giàu sức truyền cảm và dễ tiếp nhận.

1 377 01/07/2025


Xem thêm các chương trình khác: