Đọc truyện: Sự tích sông Nhà Bè (tóm tắt, thể loại, bố cục, tìm hiểu chi tiết câu chuyện)

Dưới đây là nội dung truyện truyền thuyết Sự tích sông Nhà Bè, mời bạn đọc đón xem:

1 364 25/06/2025


TRUYỆN TRUYỀN THUYẾT SỰ TÍCH SÔNG NHÀ BÈ

I. Đọc truyện

SỰ TÍCH SÔNG NHÀ BÈ

Thủ Huồn là người làm thơ lại, trong suốt những năm làm thơ đã gây nên oan ức cho rất nhiều người. Trong một lần tham quan dưới Diêm Vương đã biết được tội lỗi mình sắp gánh nên quyết tâm quay về trần gian tìm đường hối cãi. Với những việc làm của mình, cuối cùng Thủ Huồn được đầu thai lại làm vua Trung Quốc.


Ngày xưa ở Gia-định có một người tên là Thủ Huồn. Hắn xuất thân làm thơ lại. Trong hơn hai mươi năm luồn lọt trong các nha các ti, hắn đã làm cho bao nhiêu gia đình tan nát, bao nhiêu người bị oan uổng; do đó hắn đã vơ vét được bao nhiêu là tiền của. Vợ hắn chết sớm lại không có con cho nên tiền bạc của hắn không biết tiêu đâu cho hết. Ngoài số chôn cất, hắn đem tiền tậu ruộng làm nhà. Ruộng của hắn cò bay thẳng cánh, mỗi mùa thu hoạch kể hàng ngàn “giạ” lúa.

Khi thấy cuộc sống quá thừa thãi, hắn bèn thôi việc về nhà, sống một cuộc đời trưởng giả.

Một hôm, có người mách cho Thủ Huồn biết chợ Mạnh-ma ở Quảng-yên là chỗ người sống và người chết có thể gặp nhau. Muốn gặp người chết, người sống phải chờ đến mồng một tháng Sáu, mang một món hàng vào chợ hồi nửa đêm mà đi tìm. Thủ Huồn là người rất yêu vợ. Tuy vợ chết đã ngoài mười năm nhưng hắn vẫn không lúc nào quên. Hắn bèn giao nhà lại cho người bà con rồi làm một chuyến du lịch ra Bắc, mong gặp lại mặt vợ cho thỏa lòng thương nhớ bấy lâu.

Khi gặp vợ, Thủ Huồn không dám hỏi vì thấy vợ ăn mặc rất đài các. Sau cùng người đàn bà ấy cũng nhận ra được. Thủ Huồn mừng quá vội dắt vợ ra một chỗ kể cho vợ nghe cảnh sống của mình từ lúc âm dương cách biệt. Rồi hắn hỏi vợ:

– Mình lâu nay làm gì?

– Tôi làm vú nuôi trong cung vua. Cuộc đời của tôi không có gì đáng phàn nàn. Tôi có một gian nhà riêng trong hoàng cung, cái ăn cái mặc được chu cấp đầy đủ.

Hắn nói:

– Tôi nhớ mình quá. Tôi muốn theo mình xuống dưới ấy ít lâu có được không?

– Đi được. Nhưng chỉ trong vài ngày là cùng, nếu quá hạn sẽ nguy hiểm .

Thủ Huồn và vợ cùng đi. Qua mấy dặm đường tối mịt, chả mấy chốc đã đến cõi âm. Hắn rùng mình khi lọt qua bao nhiêu cổng trước lúc vào thành nội, qua những tên quỷ gác cổng có những bộ mặt gớm ghiếc. Nhờ có vợ nên chỗ nào cũng vào được trót lọt. Đến một gian nhà thấp, vợ bảo chồng:

– Đây là nhà bếp, đằng kia là nhà ngục, trước mặt là cung hoàng hậu, chỗ tôi túc trực hàng ngày. Qua khỏi đấy là cung vua. Cứ ẩn tạm trong buồng vắng này vì không thể lên buồng tôi trên kia được. Tôi sẽ kiếm cách cho chàng đi xem một vài chỗ, nhưng rồi phải về ngay.

Chiều hôm đó người vợ về trao cho Thủ Huồn một mảnh giấy phép và nói:

– Chỉ có cung vua và cung hoàng hậu thì đừng có vào còn mọi nơi khác chàng cứ đi xem cho thỏa thích.

Hắn lượn mấy vòng xung quanhnhà bếp rồi tiện chân đến nhà ngục. Chưa lọt khỏi cổng mà những tiếng kêu khóc, tiếng la hét ở phía trong làm cho hắn bồn chồn. Qua mấy phòng chuyên mổ bụng, móc mắt, cắt tay, v.v… hắn thấy đây quả là nơi hành hạ tội nhân kinh khủng, đúng như lời đồn ở trên trần thế.

Sau cái bàn xẻo thịt là cả một kho gông. Trong đó có một cái gông đặc biệt: nó vừa to vừa dài, làm bằng những thanh gỗ nặng như sắt. Thủ Huồn lân la hỏi người cai ngục :

– Thứ gông này để làm gì?

– Để chờ một thằng ác nghiệt ở trần xuống đây. Bao nhiêu những cái gông trong này đều đã có chủ cả. Cứ xem gông to hay nhỏ thì biết tội ác của nó.

Thủ Huồn lại hỏi:

– Thế cái thằng sẽ đeo cái gông vừa to vừa dài đó là ai?

Lão cai ngục thủng thỉnh giở một cuốn sách vừa to vừa dày chỉ vào một hàng chữ, đọc: “Hắn là Võ Thủ Hoằng tức là Thủ Huồn”. Rồi nói tiếp:

– Thằng cha đó ở Đại-nam quốc, Gia-định tỉnh, Phúc-chính huyện…

Nghe nói thế, Thủ Huồn giật mình mặt xám ngắt. Nhưng hắn vẫn giữ được vẻ bình tĩnh. Hắn hỏi thêm:

– Thế nào? Hắn có tội gì?

Lão cai ngục mắt vẫn không rời quyển sách.

– Khi làm thơ lại hắn bẻ mặt ra trái làm bao nhiêu việc oan khốc đến nỗi tội ác của hắn đen kín cả mấy trang giấy đây. Này nghe tôi đọc này: năm Ất sửu hắn sửa hai chữ “ngộ sát” thành “cố sát” làm cho hai mẹ con thị Nhân bị chết để cho người anh họ chiếm đoạt gia tài. Việc này Thủ Huồn được mười nén vàng và mười nén bạc, một trăm quan tiền. Cũng năm đó, hắn làm cho ông Ngô Lai ở thôn Bình-ca bị hai mươi năm tội đồ chỉ vì trong nhà có cái áo vải vàng, để đoạt không của ông ta mười hai mẫu ruộng. Năm…

Thủ Huồn tái mặt, không ngờ mỗi một cái cất tay động chân của mình trên kia, dưới này đều rõ mồn một. Hắn ngắt lời đánh trống lảng.

– Thế vợ hắn có cùng đeo gông không hở ông?

– Ồ! Ai làm người ấy chịu chứ! Vợ hắn nghe đâu là người tốt đã xuống đây rồi.

Thủ Huồn lại hỏi gặng:

– Ví thử hắn muốn hối cải thì phải làm thế nào?

Lão cai ngục hạ sách xuống bàn, đáp:

– Đã vay thì phải trả! Nếu hắn muốn thì phải đem những thứ của cải cướp giật được đó bố thí và cúng lễ cho hết đi.

Từ biệt lão cai ngục và những hình cụ khủng khiếp, Thủ Huồn không còn bụng dạ nào để đi xem nơi khác nữa. Vợ thấy chồng đòi về, lại đưa chồng ra khỏi hoàng cung của Diêm vương và ra khỏi mấy dặm đường tối tăm mù mịt. Lúc sắp chia tay hắn bảo vợ:

– Tôi về trang trải công nợ có lẽ ba năm nữa tôi lại xuống. Mình nhớ lên chợ đón nghe!

Về tới Gia-định. Thủ Huồn mạnh tay bố thí. Hắn tập hợp những người nghèo khó trong vùng lại, phát cho họ tiền, lúa. Hắn đem ruộng đất của mình cúng cho làng, cho chùa, chia cho họ hàng thôn xóm. Hắn mời hầu hết sư, sãi các chùa gần vùng tới nhà mình cúng đơm, tốn kém kể tiền vạn. Người ta lấy làm lạ không hiểu tại sao một tay riết róng như hắn bây giờ trở nên hào phóng một cách lạ thường. Ai xin gì được nấy. Có những người trước chửi hắn bây giờ lại đâm ra thương hại hắn. Nhiều người bảo nhau: – “Thứ của vô nhân bất nghĩa ấy không trước thì sau thể nào cũng đội nón ra đi mà thôi!” hay là: – “Có lẽ hắn không con, biết để của cũng chả làm gì nên tự làm cho vợi bớt”. Thủ Huồn có nghe rất nhiều lời đàm tiếu về mình, nhưng hắn chẳng nói gì sất, cứ việc quẳng của không tiếc tay.

Cứ như thế sau ba năm, Thủ Huồn tính ra đã phá tán được ba phần tư cơ nghiệp. Nhớ lại lời hẹn, hắn lại khăn gói ra Bắc tìm đến chợ Mạnh-ma. Ở đây, hắn dỗ khéo được vợ cho hắn xuống thăm cõi âm một lần nữa.

Khi trở lại nhà ngục. Thủ Huồn thấy quang cảnh vẫn như cũ. Lão cai ngục vẫn là lão cai ngục ba năm về trước. Cách bố trí y hệt như xưa: cũng có nơi mổ bụng, nơi móc mắt, cắt tay: v.v… Duy chỗ để gông thì có ít nhiều thay đổi. Bên cạnh những cái vẫn còn nguyên hình như xưa thì lại có những cái trước bé nay đã lớn lên, có cái trước lớn, nay nhỏ hẳn đi. Đặc biệt cái gông mà Thủ Huồn chú ý nhất thì bây giờ đã rút ngắn lại tuy vẫn còn to và dài hơn các thứ gông thường một tý. Hắn lân la hỏi lão cai ngục:

– Cái gông để ở nơi này trước kia tôi nhớ hình như to lắm thì phải.

– Đúng đấy! Lão đáp. Có lẽ gần đây ở trên dương thế thằng cha ấy đã biết chuộc lỗi nên nó đã nhỏ lại. Nếu hắn gắng hơn nữa, thì rồi sẽ có phúc lớn.

Thủ Huồn lại lên đất, trở về Gia-định. Hắn lại làm tiếp công việc bố thí và cúng dàng. Lần này hắn bán hết tất cả những gì còn sót lại, kể cả nhà của của mình. Hắn đến Biên-hòa dựng một ngôi chùa lớn để cúng Phật. Hắn xuôi sông Đồng-nai để làm một việc nghĩa cuối cùng. Hồi đó ở ngã ba sông Đồng-nai và sông Gia-định việc đi lại rất bất tiện. Cũng vì thế mà bên kia sông Đồng-nai người ta còn ngần ngại chưa dám di cư sang để sinh cơ lập nghiệp.

Thủ Huồn liền quyết định ở lại đây. Hắn kết một cái bè lớn, trên bè có nhà ở, có đủ chỗ nghỉ, có sẵn nồi niêu, đồ dùng và tiền gạo. Những thứ ấy hắn dùng để tiếp rước những người qua lại, nhất là những người nghèo khó. Hắn cho họ trú ngụ tại bè của mình kẻ năm ba ngày, người một đôi tháng mà không lấy tiền. Hắn làm công việc đó mãi cho đến ngày xuống âm phủ thật sự.

Sau đó khá lâu, có lần một ông vua tên là Đạo Quang bên Trung-quốc lúc mới lên ngôi có cho sứ sang Việt-nam hỏi lai lịch một người ở Gia-định. Số là khi nhà vua mới sinh, người ta thấy trong lòng bàn tay vua có mấy chữ: “Đại-nam, Gia-định, Thủ Hoằng”, nên nhà vua cần biết rõ gốc gác Thủ Hoằng là ai. Sau khi sứ giả cho biết rõ lai lịch Thủ Huồn, vua Trung-quốc có cúng vào ngôi chùa Biên-hòa ba pho tượng vàng. Do việc đó người ta bảo Thủ Huồn nhờ thành thực hối lỗi, chẳng những làm tiêu mất cái gông chờ hắn ở coi âm, mà còn được Diêm vương cho đi đầu thai làm vua Trung-quốc.

Ngày nay, một ngôi chùa ở Biên-hòa còn mang tên là chùa Thủ Huồn: chỗ ngã ba sông Đồng-nai và Gia-định còn gọi là sông Nhà-bè để kỷ niệm lòng tốt của Thủ Huồn đối với khách hộ hành Nam Bắc qua con sông đó. Có câu tục ngữ:

Nhà bè nước chảy phân hai,

Ai về Gia Định Đồng Nai thì về.

II. Tìm hiểu thêm

1. Thể loại

Truyện Sự tích sông Nhà Bè thuộc thể loại truyện cổ tích.

2. Tóm tắt truyện cổ tích

Thủ Huồn là một người thơ lại tham nhũng, đã gây ra nhiều oan trái, làm giàu trên nỗi đau của người khác. Một ngày, ông đến chợ Mạnh-ma để gặp vợ quá cố và theo bà xuống âm phủ. Tại đây, ông phát hiện ra mình sẽ bị xử phạt nặng do những tội lỗi từng gây ra trên trần. Sợ hãi và ân hận, ông quyết tâm quay về trần gian để chuộc lỗi bằng cách bố thí, cúng dàng, chia của cải cho người nghèo, lập chùa, giúp dân. Sau khi chết, nhờ sự cải hóa thành tâm, ông được Diêm Vương cho đầu thai làm vua Trung Quốc. Chùa Thủ Huồn và địa danh Nhà Bè là những dấu tích còn lại của lòng thiện đã khởi từ sự ăn năn ấy.

3. Bố cục truyện

+ Phần 1 (Từ đầu đến "cho chàng đi xem một vài chỗ, nhưng rồi phải về ngay"): Cuộc đời làm thơ lại và nguyên nhân dẫn đến chuyến xuống âm phủ

+ Phần 2 (Tiếp đến "Mình nhớ lên chợ đón nghe!"): Cuộc gặp gỡ ở âm phủ và sự hối cải

+ Phần 3 (Còn lại): Sự chuộc lỗi triệt để và kết cục đầu thai làm vua

III. Tìm hiểu chi tiết

1. Vì sao Thủ Huồn lại thay đổi tâm tính và quyết tâm chuộc lỗi?

Sự thay đổi tâm tính của Thủ Huồn bắt đầu từ trải nghiệm mang tính cảnh tỉnh mạnh mẽ khi ông được theo vợ xuống âm phủ. Diễn biến tâm lý và hành động sau đó của ông có thể lý giải theo từng giai đoạn như sau:

* Trước khi xuống âm phủ – Thủ Huồn là người thế nào?

Thủ Huồn từng là một thơ lại (nhân viên văn thư trong bộ máy hành chính phong kiến), nổi tiếng tham lam và tàn nhẫn. Trong suốt hơn hai mươi năm làm việc, ông đã làm sai lệch giấy tờ, bóp méo sự thật, gây oan uổng cho nhiều người vô tội để nhận hối lộ, chiếm đoạt tài sản. Hệ quả là bao gia đình tan nát, người bị xử tử hoặc bị đày đọa oan. Tuy nhiên, lúc ấy Thủ Huồn không hề cảm thấy tội lỗi, mà còn tận hưởng cuộc sống giàu sang, quyền lực. Chỉ đến khi nghe tin về chợ Mạnh-ma – nơi người sống và chết có thể gặp nhau – ông mới khởi tâm muốn tìm lại người vợ đã khuất.

* Khi xuống âm phủ – Thủ Huồn đối diện với sự thật đáng sợ về tội lỗi của mình
Khi được vợ dẫn đi thăm nhà ngục âm phủ, Thủ Huồn mới thực sự "mở mắt". Tại đây, ông nghe và thấy:

  • Tiếng la hét, tra tấn rùng rợn của tội nhân.

  • Những phòng hành hình chuyên mổ bụng, móc mắt, cắt tay…

  • Một chiếc gông khổng lồ làm riêng cho ông – “to và dài hơn các cái gông khác”, thể hiện mức độ tội lỗi quá lớn.

  • Các chi tiết tội ác của ông được ghi chép rõ ràng trong sách tội: từ việc đổi tội danh “ngộ sát” thành “cố sát”, đến việc vu khống để cướp ruộng đất.

=> Những gì ông từng làm ở dương thế tưởng chừng đã trôi qua, nhưng ở âm phủ đều được ghi lại rõ ràng. Điều này khiến ông vừa kinh hoàng, xấu hổ, vừa bàng hoàng nhận ra rằng công lý cuối cùng vẫn luôn hiện hữu, dù là ở cõi nào. Cũng từ đó, nỗi sợ bị trừng phạt chuyển hóa thành sự thức tỉnh và ăn năn sâu sắc.

* Quyết định chuộc lỗi – từ sợ hãi đến hành động hướng thiện

Khi hỏi cai ngục về cách để chuộc lỗi, ông được khuyên rằng:

“Nếu hắn muốn thì phải đem những thứ của cải cướp giật được đó bố thí và cúng lễ cho hết đi.”

Câu trả lời đó vừa nghiêm khắc, vừa mở ra một cánh cửa hy vọng. Thủ Huồn không do dự mà bắt đầu hành trình chuộc lỗi, thể hiện qua:

  • Phát lúa, phát tiền cho người nghèo.

  • Chia ruộng đất, cúng chùa, bố thí khắp nơi.

  • Xây chùa, làm nhà bè giúp dân vượt sông.

  • Bán cả nhà cửa, tài sản cuối cùng để làm việc thiện.

=> Từ đó, ta thấy rõ đây không chỉ là sự ăn năn nhất thời vì sợ phạt, mà là sự chuyển hóa nội tâm sâu sắc – từ một con người tham lam thành người hoàn toàn vị tha.

2. Hành động bố thí và cúng dường của Thủ Huồn có ý nghĩa gì trong kết cấu truyện?

+ Các hành động thiện nguyện của Thủ Huồn không chỉ mang giá trị đạo đức mà còn là mắt xích quan trọng trong kết cấu truyện.

+ Đây là quá trình chuyển hóa từ một kẻ xấu xa trở thành người lương thiện, thậm chí đạt đến mức độ “công đức đủ lớn để hóa giải tội lỗi”.

+ Những hành động ấy có tính thực tế (giúp đỡ người nghèo, xây chùa, tạo điều kiện di cư) nhưng đồng thời cũng có tính biểu tượng rất rõ: đó là con đường “cải tà quy chính” – từ tội lỗi đến cứu rỗi.

+ Việc chiếc gông ở âm phủ nhỏ lại là chi tiết nghệ thuật tuyệt đẹp, cho thấy luật nhân quả linh ứng.

+ Chính sự chuộc lỗi đến tận cùng đã giúp ông có được kết cục tốt đẹp – không chỉ không bị trừng phạt mà còn được đầu thai làm vua, điều mà truyện dân gian dùng để nhấn mạnh tính công bằng và sức mạnh của sự hối cải.

3. Giá trị nội dung

- Giá trị đạo đức, nhân văn sâu sắc:

+ Truyện đề cao tinh thần hướng thiện, cho thấy mọi con người, dù từng lầm lỗi, vẫn có thể chuộc lỗi nếu biết ăn năn và hành động bằng tấm lòng chân thật.

+ Khẳng định luật nhân quả: làm ác phải chịu hậu quả, làm thiện sẽ được phúc báo. Đây là một tư tưởng quen thuộc trong văn hóa Phật giáo và truyền thống dân gian Việt Nam.

+ Gửi gắm niềm tin vào sự công bằng của thế giới, rằng không điều ác nào bị che giấu, cũng không điều thiện nào bị bỏ quên.

- Thể hiện lòng vị tha, khoan dung:

Dù Thủ Huồn từng gây bao tội ác, truyện vẫn mở cho ông con đường chuộc lỗi – điều đó phản ánh tư tưởng nhân đạo sâu sắc của dân gian.

4. Giá trị nghệ thuật

- Cốt truyện lôi cuốn, logic chặt chẽ:

+ Diễn biến theo trình tự hợp lý: từ kẻ làm điều ác → bị cảnh tỉnh → chuộc lỗi → được cứu rỗi.

+ Các yếu tố kỳ ảo như chợ Mạnh-ma, chuyến xuống âm phủ, chiếc gông kỳ lạ… góp phần tạo nên sự hấp dẫn và chiều sâu triết lý cho truyện.

- Sử dụng hình ảnh biểu tượng giàu ý nghĩa:

+ Chiếc gông là hình ảnh sinh động tượng trưng cho nghiệp báo.

+ Việc gông to ra hay nhỏ lại tương ứng với hành động thiện – ác trên dương gian, làm nổi bật quy luật nhân quả.

+ Chùa, bè nổi, tượng vàng… cũng là những biểu tượng của sự chuộc lỗi và lòng từ bi.

- Ngôn ngữ kể chuyện giản dị, đậm chất dân gian:

+ Lối kể chuyện mộc mạc, dí dỏm nhưng sâu sắc.

+ Câu văn có nhịp điệu, có tính truyền miệng, dễ nhớ, dễ cảm.

1 364 25/06/2025


Xem thêm các chương trình khác: