Đọc truyện: Sự tích đình làng Đa Hòa (tóm tắt, thể loại, bố cục, tìm hiểu chi tiết câu chuyện)

Dưới đây là nội dung truyện cổ tích Sự tích đình làng Đa Hòa, mời bạn đọc đón xem:

1 349 25/06/2025


TRUYỆN CỔ TÍCH SỰ TÍCH ĐÌNH LÀNG ĐA HÒA


I. Đọc truyện

SỰ TÍCH ĐÌNH LÀNG ĐA HÒA

Dọng là một thầy phù thủy yêu thương dân nghèo đã tìm cách giúp họ bằng việc xây đình với số tiền quyên góp từ các tên nhà giàu. Sau khi số tiền ấy được cho đi, các tên nhà giàu luôn hối thúc ông khi chưa thấy đình. Với mưu mẹo của mình ông đã cướp được đình từ làng Vạn Phước.


Ngày xưa ở làng Đa-hòa có một ông thầy phù thủy cao tay, tên là Dọng. Không những ông có nhiều phép lạ mà còn có lòng thương người. Từ lâu, ông được bầu làm hương trưởng, và được dân trong vùng kính phục.

Hồi ấy làng Đa-hòa gặp mấy năm hạn hán, mùa mất liên tiếp, dân tình cơ cực. Nhiều người phải đem vườn ruộng đi cầm đi bán. Nhưng giá gạo ngày một cao, ruộng ngày một hạ. Cuối cùng ruộng đất của dân đều vào tay mấy tên trọc phú. Thấy vậy, ông Dọng nghĩ cách để cứu giúp người nghèo. Ông bảo bọn nhà giàu:

– Thần thánh phù hộ cho các người, bao nhiêu ruộng nhà nghèo đều lấy về ban cho một số người có của. Đó là lộc thánh. Nhưng nếu không biết tạ ơn thì rồi có lúc sẽ bị thánh phạt đấy.

Biết ông là người có thể thông được với thần, bọn nhà giàu lo sợ, hỏi ông:

– Muốn tạ ơn thánh thì phải làm gì?

Ông Dọng đáp:

– Làng ta vốn không có đình. Thánh ngự về không có cái mà ở. Vậy phải mau mau dựng một cái đình.

– Dựng đình tốn kém lắm sao có thể làm nổi.

– Nhà giàu bỏ của, nhà nghèo bỏ công, mỗi người vun đắp một tý thì việc lớn không mấy chốc mà thành. Nếu được như vậy, tôi tuy bất tài cũng xin đứng ra đốc công.

Bọn nhà giàu nghe lời ông. Chúng bèn họp làng quyết định dựng đình: những người có của thì quyên tiền, còn người nghèo thì gánh đất gánh cát. Ông Dọng thân hành thu góp tiền nong và làm người đôn đốc. Ông bảo bọn trọc phú:

– Thần thánh đều có con mắt, “sởi lởi trời gởi của cho, quăn co trời gò của lại”. Hằng tâm hằng sản ai bỏ nhiều thì được phúc nhiều.

Chúng nghe nói đều thi nhau quyên những món tiền lớn và góp lại trao cho ông. Nhưng thu được bao nhiêu ông phân phát cho dân đói bấy nhiêu. Ông bảo họ gánh đất đắp thành nền đình, xung quanh trồng bờ giậu cho kín, ở sân đình trồng các thứ cây cối kể cả các loại cây dây như cây bìm hìm, v.v… Đoạn, ông hẹn với bọn trọc phú ba tháng nữa đình sẽ hoàn thành. Bọn trọc phú thấy ông phân phát hết tiền thì sinh nghi, nhưng thấy ông nói cứng, thì lại nửa tin, nửa ngờ. Vả xưa nay ông chưa từng thất hẹn với ai, nên cũng không dám hỏi.

Thời gian trôi qua, nền đình đã đắp xong, tiền quyên góp đã nhiều, hạn cũng sắp hết mà chưa thấy động tĩnh gì cả. Thấy gỗ lạt không có một que, gạch ngói chẳng có nửa mảnh, bọn nhà giàu đến thúc ông Dọng. Ông chỉ đáp gọn lỏn: -“Đình khắc có đình! Ai sinh sinh sự sẽ sự sự sinh!”.

Một số phú thương ở làng bên cạnh là làng Vạn-phước trước đây cũng bỏ những số tiền lớn quyên vào công việc làm đình ở Đa-hòa để mong được thánh ban lộc, nay đợi mãi không thấy đình, chúng lấy làm nóng ruột, liền đến vặn ông Dọng:

– Chúng tao qua đây buôn bán thấy việc phúc đức, nên cũng vón tay vào để vo tròn quả phúc. Không ngờ mày “nhũng lạm” đi mất cả rồi, chỉ ngồi trơ thổ địa nói phét.

Nói rồi chúng xúm lại thượng cẳng chân hạ cẳng tay, đánh ông sưng cả mặt mũi. Ông Dọng đáp:

– Đình khắc có đình! Nhưng đánh người là có tội, đánh bậc “cao niên” tội lại càng nặng. Kẻ nào đánh ta thì phải đền tội. Ta không nói chơi đâu!

Đoạn ông mang gậy nón đi sang làng Vạn-phước để bắt đền. Tới nơi, ông vào đình Vạn-phước, ngả gậy nón ngay ở gian giữa mà ngồi.

Rồi ông cởi áo giở chỗ bị đánh phân vua với những người dân Vạn-phước có mặt:

– Các ông các bà xem. Đánh người không phải là chuyện chơi. Bọn những tên Giáp tên Ất ở làng này vô cớ gây sự đánh ta. Kẻ nào sinh sinh sự thì sự sự sinh! Sẽ phải đền đình!

Nói thế rồi ông cứ ngồi ở giữa gian vót đũa và xe chỉ. Có ai hỏi làm thế để làm gì thì ông trả lời “đính nèo” (tức nói lái là néo đình).

Bọn lý hào làng Vạn-phước được bọn phú thương xúi giục, ra đình đuổi ông Dọng đi. Ông không đi, nói:

– Các ông phải trả lời cho tôi cái chuyện người làng này, những tên Giáp tên Ất, tự dưng vô cớ đánh tôi. Tôi được rửa nhục rồi thì sẽ đi ngay!

Chúng hỏi:

– Ông muốn rửa nhục thế nào?

– Kẻ nào đánh tôi thì phải làm đình để đền.

– Không làm đình thì sao?

– Không làm đình thì vay tạm đình này rồi sẽ đền sau.

Cho đòi hỏi của ông là vô lý nên chúng không chịu xử. Cuối cùng chúng lấy thế đông đến đuổi ông đi. Ông đợi cho họ tập hợp đông đủ, rồi mới thủng thỉnh nói:

– Bây giờ tôi sẽ cắm cái gậy này xuống trước sân đình. Nếu làng ta nhổ được gậy lên thì tôi xin đi ngay.

– Nếu không nhổ được thì sao?

– Thì mất đình.

Họ bảo “được”. Hai bên làm giấy ký kết.

Rồi đó, ông Dọng ung dung bước ra sân cầm cây gậy trúc của mình cắm phập xuống sân đình, và nói: – “Nhổ đi! Cho các người nhổ đi!”.

Vừa thấy thế, một tên hào cường trẻ tuổi xắp tay áo lên hùng hổ:

– Cần gì phải nhiều người mất công. Xin mời các quan viên hãy ngồi nghỉ, chỉ một mình tôi nhổ cũng đủ. Này này, lão già hãy trông đây, rồi có đường có nẻo cút ngay!

Và hắn chạy tới, dùng một bàn tay nắm lấy cây gậy để nhổ, nhưng không được. Sau đó, hắn lôi bằng cả hai tay, nhưng cũng không nổi. Sau, hắn ôm cả người vào rán sức lắc mà cũng không chuyển. Mồ hôi nhể nhại, hắn gọi những người xung quanh vào giúp sức. Ông Dọng nói:

– Ta thách tất cả bọn bất nhân chúng mày!

Mọi người liền xúm xít lại quanh tên hào cường, một người, hai người tới hàng chục người; nhưng lạ thay dù có đến hàng chục bàn tay, chiếc gậy vẫn không nhúc nhích. Bọn lý hào mệt nhoài. Chúng đánh mõ cho trai làng đổ ra buộc thừng mà kéo, song cũng chẳng ăn thua. Cuối cùng, chúng bàn buộc thừng vào cổ trâu, ra roi cho trâu kéo, tuy vậy chúng chỉ làm một công việc vô ích: mọi dây thừng đều đứt, còn gậy của ông vẫn vững như trời trồng.

Ông Dọng phá lên cười:

– Thế là thua cuộc rồi nhé!

Rồi ngoảnh mặt về phía dân, ông nói:

– Xin đồng dân nhớ cho, nếu làng ta có mất đình, chẳng phải tại tôi. Đó là do bọn tên Giáp tên Ất nó sinh sự sự sinh. Bắt chúng nó làm lại đình khác để đền!

Nửa đêm hôm ấy, trời bồng nổi phong ba, sẩm chớp đùng đùng, gió rít từng cơn rất dữ. Giữa lúc ấy người ta nghe xen vào những tiếng như tiếng kèn trống cùng những tiếng truyền lệnh của ông Dọng: – “Nâng lên!… Hạ xuống…Xích về bên trái…”. Đình làng Vạn-phước thốt nhiên bay bổng lên không trung cùng với cả những hòn đá tảng kê chân cột; đình vượt qua các lũy tre rồi tiến đến bờ sông lối sang làng Đa-hòa.

Ông Dọng đã đợi ở đấy từ lâu. Ông ngồi lên chiếc nón tu lờ bơi sang sông theo đình để điều khiển. Đình vượt qua sông là là mặt nước. Sau đó đình bay bổng về Đa-hòa rồi hạ xuống một cách êm thấm trên cái nền mới đắp. Lại có những tiếng hô của ông Dọng và tiếng ồn ào dội lên ở đây, được một chốc thì vắng lặng như tờ. Soát lại mọi chỗ, ông Dọng chỉ thấy có một viên đá tảng bị rơi lúc vượt sông, còn mọi thứ đều không hề suy suyển. Cuộc chuyển đình hoàn thành một cách chu đáo.

Sáng hôm sau, dân làng Vạn-phước nhìn đến đình thì thấy chỉ còn một cái nền trơ trọi. Họ đến nhà của mấy tên phú thương đòi đình.

Mấy tên này lo lắng, bèn họp bọn hào lý bắt đệ đơn lên quan tố cáo ông Dọng ăn trộm đình. Quan huyện đòi ông Dọng lên hỏi:

– Sao mày dùng phép ma thuật quỷ ăn trộm đình của người?

Ông Dọng làm bộ ngơ ngác. Quan lại nói:

– Làng Vạn-phước tố cáo mày ăn trộm đình về cho làng Đa-hòa. Có thế nào cứ thực tường khai để khỏi phải tra khảo.

– Bẩm quan, ông Dọng nói, chuyện bên nguyên đưa ra “thậm ư vô lý”. Vậy xin phép hỏi, đình mất từ bao lâu?

– Mới hôm kia chứ đâu?

Ông Dọng cười ha hả:

– Quan lớn nhân danh “dân chi phụ mẫu” phụ họa với bọn không đặt làm có, mà cũng nghe được.

Quan huyện đập bàn quát lên:

– Lính đâu, hãy đóng gông tên này lại cho ta.

Ông Dọng thong thả đáp:

– Xin quan lớn bớt cơn thịnh nộ cho kẻ hạ dân hỏi bên nguyên: Nền đình làng Vạn-phước có dấu tích gì để biết đình mất đã bao lâu?

Bọn lý hào Vạn-phước nói:

– Cải đã lên lá.

Ông Dọng cười:

– Bẩm quan, một bên mất đình chỉ nói cải vừa trổ lá, còn đình làng tôi thì bìm bìm đã mọc lên tận nóc. Xin mời quan về khám hư thực.

Quan về khám đình làng Đa-hòa thì quả thấy xung quanh đình, bờ giậu đã mọc xanh kín, ở sân đình cây cối um tùm: đặc biệt là dây bìm bìm đã leo lên tới nóc. Thấy vậy, quan đành xử cho ông thắng cuộc.

Bọn hào lý làng Vạn-phước chịu thua kiện, cắm cổ ra về. Sau đó, do dân làng buộc tội, mấy tên phú thương đã đánh ông Dọng ngày xưa tức là bọn tên Giáp tên Ất phải ngửa cổ đền cho làng Vạn-phước một cái đình khác.

Người ta nói đình làng Đa-hòa cho đến nay vẫn còn, một cột cái của nó vẫn để lơ lửng vì thiếu mất một hòn đá tảng lúc vượt sông.

II. Tìm hiểu thêm

1. Thể loại

Truyện Sự tích đình làng Đa Hòa thuộc thể loại truyện cổ tích.

2. Tóm tắt truyện cổ tích

Truyện kể về ông thầy phù thủy Dọng ở làng Đa-hòa, người có phép thuật và lòng thương dân nghèo. Khi làng bị hạn hán, ruộng đất người nghèo mất dần vào tay nhà giàu, ông Dọng đề xuất dựng đình làng để thánh thần có chỗ ngự, huy động tiền của nhà giàu và công sức người nghèo. Nhưng ông lại dùng tiền để giúp dân nghèo và dựng nền đình tạm. Bọn nhà giàu nghi ngờ và đến gây gổ, đánh ông. Ông Dọng sang làng Vạn-phước đòi đền bù, mượn đình của họ để làm đình cho làng mình bằng cách dùng phép thuật “cướp” đình bay về Đa-hòa. Sau cùng, khi kiện ra quan huyện, nhờ bằng chứng cây cối mọc xanh um tùm, ông thắng kiện và giữ lại đình. Làng Vạn-phước phải làm lại đình mới.

3. Bố cục truyện

+ Phần 1 (Từ đầu đến "thu góp tiền nong và làm người đôn đố"): Giới thiệu ông Dọng và hoàn cảnh làng Đa-hòa

+ Phần 2 (Tiếp đến "Ta không nói chơi đâu!"): Ông Dọng dùng tiền quyên góp giúp dân nghèo và làm nền đình tạm, nhà giàu nghi ngờ, gây gổ đánh ông

+ Phần 3 (Còn lại): Ông Dọng sang làng Vạn-phước đòi đền, mượn đình bằng cách đặt cây gậy và làm giấy ký kết, gây ra cuộc tranh chấp đình. Ông Dọng dùng phép thuật “cướp” đình bay về Đa-hòa, kiện tụng với quan huyện và thắng kiện

III. Tìm hiểu chi tiết

1. Tại sao ông Dọng lại dùng số tiền quyên góp dựng đình để giúp dân nghèo thay vì xây dựng đình ngay lập tức?

  • Ông Dọng là người có lòng thương dân nghèo, nhìn thấy cảnh họ mất đất, thiếu ăn nên ưu tiên giúp đỡ họ trước hết.

  • Ông ý thức được rằng bọn nhà giàu chỉ góp tiền cho mục đích dựng đình để được thánh phù hộ và giữ quyền lợi của mình, không thật sự quan tâm đến dân nghèo.

  • Việc phân phát tiền giúp dân nghèo và xây nền đình tạm là cách ông phản kháng ngầm trước sự bất công, dùng sự khôn ngoan để “lấy lòng” dân nghèo.

  • Đồng thời, ông cũng giữ lời hứa với dân nghèo và không để họ bị lừa đảo, cho thấy sự chính trực và lòng nhân ái trong con người ông.

2. Phép thuật của ông Dọng thể hiện điều gì trong câu chuyện và ý nghĩa của việc “cướp” đình từ làng Vạn-phước?

  • Phép thuật là biểu tượng cho sự thông minh, mưu mẹo và sức mạnh phi thường của ông Dọng để bảo vệ quyền lợi cho dân nghèo và chống lại bọn nhà giàu tham lam.

  • Việc “cướp” đình từ làng Vạn-phước là hành động tượng trưng cho việc giành lại công bằng và sự công bằng xã hội, lấy lại những gì thuộc về dân làng Đa-hòa.

  • Qua đó, câu chuyện khẳng định người có lòng tốt, trí tuệ và quyết tâm có thể vượt qua nghịch cảnh, đòi lại công lý dù phải chống lại thế lực cường quyền.

  • Phép thuật cũng làm tăng yếu tố kỳ ảo, tạo nên sự hấp dẫn và kịch tính cho câu chuyện dân gian.

3. Giá trị nội dung

  • Truyện ca ngợi lòng thương dân, tinh thần nhân đạo của ông Dọng, người thầy phù thủy vừa có phép thuật vừa có đạo đức, biết dùng trí tuệ và sức mạnh của mình để bảo vệ dân nghèo, chống lại sự bất công và tham lam của bọn nhà giàu.

  • Phản ánh thực trạng xã hội xưa có sự bất bình đẳng, người nghèo bị mất đất, bị chèn ép, đồng thời lên án thái độ tham lam, ích kỷ của các thế lực cường hào, phú hộ.

  • Truyện truyền tải thông điệp về sự đoàn kết, ý chí kiên cường và trí thông minh của người dân trong việc bảo vệ quyền lợi chính đáng.

  • Khẳng định vai trò của người lãnh đạo có đức, có tài trong việc dẫn dắt cộng đồng vượt qua khó khăn.

4. Giá trị nghệ thuật

  • Truyện sử dụng yếu tố kỳ ảo và mưu mẹo đặc sắc tạo nên sự hấp dẫn và kịch tính, giúp người đọc dễ nhớ và truyền miệng qua nhiều thế hệ.

  • Ngôn ngữ giản dị, gần gũi, đậm đà chất dân gian, dễ hiểu, thể hiện tính giáo dục và tính giải trí cao.

  • Cấu trúc truyện chặt chẽ, phân đoạn rõ ràng với các tình tiết đấu trí, đối thoại sắc sảo giữa ông Dọng và các thế lực nhà giàu, tạo nên sự đối lập giữa thiện - ác, công bằng - bất công.

  • Việc lồng ghép các yếu tố truyền thống như đình làng, tín ngưỡng thờ thần, thể hiện nét văn hóa đặc trưng của làng xã Việt Nam xưa.

  • Tính nhân văn và khát vọng công lý được thể hiện rõ nét, làm cho câu chuyện vừa mang tính sử thi vừa có chiều sâu tư tưởng.

1 349 25/06/2025


Xem thêm các chương trình khác: