Đọc hiểu Nhà mẹ Lê (Thạch Lam) có đáp án

Đọc hiểu Nhà mẹ Lê (có đáp án) chi tiết nhất giúp bạn ôn luyện và nắm vững cách làm bài của dạng bài đọc - hiểu trong các đề thi.

1 54,324 11/04/2025


Đọc hiểu Nhà mẹ Lê (có đáp án)

Đọc hiểu Nhà mẹ Lê (có đáp án) (ảnh 1)

I. Đọc tác phẩm Nhà mẹ Lê

NHÀ MẸ LÊ

(Tác giả: Thạch Lam)

(Lược phần đầu: Đoàn Thôn là một cái phố chợ tồi tàn gần ngay một huyện lị nhỏ ở trung châu. Người ở phố chợ là bảy tám gia đình nghèo khổ không biết ở đâu, mà người dân trong huyện thường gọi một cách khinh bỉ: những kẻ ngụ cư. Những gia đình này giống nhau ở chỗ cùng nghèo nàn như nhau cả.)

Nhà mẹ Lê là một gia đình một người mẹ với mười một người con. Bác Lê là một người đàn bà quê chắc chắn và thấp bé, da mặt và chân tay nhăn nheo như một quả trám khô. Khi bác mới đến phố, ai ai cũng chú ý đến đám con của bác: mười một đứa, mà đứa lớn mới có mười bảy tuổi! Đứa bé nhất hãy còn bế trên tay.

Mẹ con bác ta ở một căn nhà lá. Chừng ấy người chen chúc trong một khoảng rộng độ bằng hai chiếc chiếu, có mỗi một chiếc giường nan gãy nát. Mùa rét thì trải ổ rơm đầy nhà, mẹ con cùng nằm ngủ trên đó, trông như một cái ổ chó, chó mẹ và chó con lúc nhúc. Đối với người nghèo như bác một chỗ ở như thế cũng tươm tất lắm rồi. Nhưng còn cách kiếm ăn? Bác Lê chật vật, khó khăn suốt ngày cũng không đủ nuôi từng ấy đứa con. Từ buổi sáng tinh sương, mùa nực cũng như mùa rét, bác ta đã phải trở dậy để đi làm mướn cho những người trong làng. Những ngày có người mướn ấy, tuy bác phải làm vất vả, nhưng chắc chắn buổi tối được mấy bát gạo và mấy đồng xu về nuôi lũ con đói đợi ở nhà.

[…] Mùa rét năm ấy đến, giá lạnh và mưa gió lầy lội. Đàn con bác Lê ôm chặt lấy nhau rét run trong căn nhà ẩm ướt và tối tăm vì đèn đuốc không có nữa. Mấy gia đình ở phố chợ đều đói rét và khổ sở. Nhưng mỗi nhà đều lặng lẽ, âm thầm và chịu khổ một mình, không than thở với láng giềng hàng xóm lời gì, ai nấy đều biết cũng nghèo khốn như nhau.

Một buổi chiều, mà đàn con đã nhịn đói suốt buổi, bác Lê vá lại manh áo rét, gọi đứa cả đến rồi bảo:

- Ở nhà trông các em, tao vào ông Bá xem có xin được ít gạo nào không?

- Ban sáng u đã vào nhà người ta có cho đâu, cậu Phúc lại còn bảo hễ u vào nữa thì cậu ấy thả chó ra cắn.

Bác Lê đáp:

- Nhưng biết làm thế nào! Không có thì lấy gạo đâu ra mà ăn? Thôi tao cứ liều vào lần nữa xem sao.

Nói xong, bác Lê mở cửa liếp ra đi. Trong lòng bác vẫn có chút hy vọng trong buổi sáng lúc vào xin gạo. Ông Bá đã đuổi mắng không cho. Bác nhớ lại cải cảnh sang trọng, ấm cúng trong nhà ông Bá. Những chậu sứ, câu đối thếp vàng sáng chói. Không lẽ ông Bá giầu có thế mà không thí cho mẹ con bác được bát gạo hay sao?

Ở nhà, đàn con bác ngồi nhìn nhau đợi trong ổ rơm. Bác đi đâu không thấy về. Thằng Hy lắng tai nghe tiếng chó cắn trong làng rồi bảo chị nó:

- Hình như u về đấy chị ạ.

Thằng cả đi lại bên cửa bếp nhìn ra ngoài. Bỗng có tiếng chân người rầm rập, đến tiếng gọi, rồi lũ trẻ thấy bác Đối và một người nữa khiêng bác Lê vào trong nhà. Trên bắp chân người mẹ, máu đỏ chảy ròng ròng.

Thằng cả hiểu ngay mẹ nó bị chó ông Bá cắn. Bác đặt người bị thương xuống chiếu rồi ra đi sau khi dặn:

- Bây giờ, bác lấy lá lốt mà dịt cho nó cầm máu. Chó tây cắn thì độc lắm đấy.

Khi bác đi khỏi, lũ trẻ xúm quanh lấy mẹ. Thằng Hy vừa mếu máo vừa hỏi:

- U làm sao thế, u?

Bác Lê nén cái đau, giảng cho con biết:

- Thật cậu Phúc ác quá! Đã không cho thì thôi lại còn thả chó ra đuổi, tao đã chạy mà không kịp, nên nó cắn phải. May gặp bác Đối, chứ không biết bao giờ mới lê được về đến nhà.

Bác ngừng lại nhìn đàn con ốm yếu, rồi thở dài:

- Thế là mẹ con lấy gì ăn cho đỡ đói bây giờ.

Thằng Hy òa lên khóc, con Tý cũng khóc theo. Bác Lê giơ tay ôm chúng nó vào lòng nghĩ thân phận mình, bác cũng ứa nước mắt.

(Lược một đoạn: Đêm ấy, bác Lê lên cơn sốt. Trong lúc mê sảng, bác Lê tưởng nhớ lại cả cuộc đời mình, từ lúc còn bé đến bây giờ, chỉ toàn những ngày khổ sở nhọc nhằn. Hai hôm sau, bác Lê lại lên cơn mê sảng rồi chết. Người trong phố chợ gom góp nhau mua cho bác một cỗ ván mọt, rồi đưa giúp bác ra cánh đồng, chôn vùi dưới bãi tha ma nhỏ ở đầu làng.)

Khi trở về, qua căn nhà lạnh lẽo âm u, họ thấy mấy đứa con nhỏ con bác Lê ngồi ở vỉa hè. Con Tý đang dỗ cho thằng Hy nín khóc, nói dối rằng mẹ nó đi chợ một lát rồi sẽ về. Nhưng họ biết rằng bác Lê không trở về nữa và họ thấy một cái cảm giác lo sợ đè nén lấy tâm can họ, những người ở lại, những người còn sống mà cái nghèo khổ cứ theo đuổi mãi không biết bao giờ hết.

(Trích “Gió đầu mùa”, Thạch Lam, NXB Thạch Ngữ, 1974, trang 29 – 37)

II. Đọc - hiểu Nhà mẹ Lê

1. Đề số 1

Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi đã cho:

Nhà mẹ Lê là một gia đình một người mẹ với mười một người con. Bác Lê là một người đàn bà nhà quê chắc chắn và thấp bé, da mặt và chân tay răn reo như một quả trám khô. Khi bác mới đến phố, ai ai cũng chú ý đến đám con của bác: mười một đứa, mà đứa nhớn mới có mười bảy tuổi! Đứa bé nhất hãy còn bế trên tay.

Mẹ con bác ta ở một căn nhà cuối phố, cái nhà cũng lụp xụp như những căn nhà khác. Chừng ấy người chen chúc trong một khỏang rộng độ bằng hai chiếc chiếu, có mỗi một chiếc giường nan đã gẫy nát. Mùa rét thì giải ổ rơm đầy nhà, mẹ con cùng nằm ngủ trên đó, trông như một cái ổ chó, chó mẹ và chó con lúc nhúc. Đối với những người nghèo như bác, một chỗ ở như thế cũng tươm tất lắm rồi. Nhưng còn cách kiếm ăn? Bác Lê chật vật, khó khăn suốt ngày cũng không đủ nuôi chừng ấy đứa con. Từ buổi sáng tinh sương, mùa nực cũng như mùa rét, bác ta đã phải trở dậy để đi làm mướn cho những người có ruộng trong làng. Những ngày có người mướn ấy, tuy bác phải làm vất vả, nhưng chắc chắn buổi tối được mấy bát gạo và mấy đồng xu về nuôi lũ con đói đợi ở nhà. Đó là những ngày sung sướng. Nhưng đến mùa rét, khi các ruộng lúa đã gặt rồi, cánh đồng chỉ còn trơ cuống rạ dưới gió bấc lạnh như lưỡi dao sắc khía vào da, bác Lê lo sợ, vì không ai mướn bác làm việc gì nữa. Thế là cả nhà nhịn đói. Mấy đứa nhỏ nhất, con Tý, con Phún, thằng Hy mà con chị nó bế, chúng nó khóc lả đi mà không có cái ăn. Dưới manh áo rách nát, thịt chúng nó thâm tím lại vì rét, như thịt con trâu chết. Bác Lê ôm ấp lấy con trong ổ rơm, để mong lấy cái ấm của mình ấp ủ cho nó.

(Trích Nhà mẹ Lê – Thạch Lam)

Câu 1: Theo anh/chị, nhà văn đã thể hiện tình cảm gì đối với nhân vật? Anh/chị hãy nhận xét về tình cảm đó.

Câu 2: Tìm và phân tích tác dụng của một biện pháp tu từ bất kì được tác giả sử dụng trong văn bản trên.

Câu 3: Nhân vật chính trong văn bản trên là ai? Anh/chị cảm nhận như thế nào về nhân vật đó?

Câu 4: Nêu nội dung chính của văn bản trên?

Câu 5: Văn bản trên có sự kết hợp giữa các phương thức biểu đạt nào? Tác dụng của việc kết hợp đó là gì?

Gợi ý

Câu 1: Tình cảm của nhà văn: Yêu thương, xót xa, ái ngại cho cảnh ngộ nghèo khổ của nhà bác Lê. Đó là tình cảm nhân đạo sâu sắc.

Câu 2: Nhân vật chính trong văn bản là bác Lê. Đó là một người phụ nữ cực khổ đông con, nghèo đói, phải đi làm thuê làm mướn song giàu tình thương con, chịu thương chịu khó dậy sớm đi làm thuê suốt 4 mùa, bất kể nắng mưa, rét mướt; ủ ấm cho đàn con.

Câu 3: Nội dung văn bản: Gia cảnh nghèo túng, đói khổ của nhà mẹ Lê.

Câu 4: BPTT so sánh “Dưới manh áo nát, thịt chúng nó thâm tím lại vì rét, như thịt con trâu chết” [so sánh con người với con vật, lại là con vật chết] → Đây là 1 hình ảnh đầy ám ảnh, khắc sâu sự nghèo khổ, tội nghiệp, đáng thương của nhà bác Lê.

Câu 5: VB sử dụng kết hợp phương thức biểu đạt tự sự và miêu tả để khắc họa một cách chân thực và làm nổi bật gia cảnh nhà mẹ Lê.

2. Đề số 2

Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi đã cho:

Nhà mẹ Lê là một gia đình một người mẹ với mười một người con. Bác Lê là một người đàn bà nhà quê chắc chắn và thấp bé, da mặt và chân tay răn reo như một quả trám khô. Khi bác mới đến phố, ai ai cũng chú ý đến đám con của bác: mười một đứa, mà đứa nhớn mới có mười bảy tuổi! Đứa bé nhất hãy còn bế trên tay.

Mẹ con bác ta ở một căn nhà cuối phố, cái nhà cũng lụp xụp như những căn nhà khác. Chừng ấy người chen chúc trong một khỏang rộng độ bằng hai chiếc chiếu, có mỗi một chiếc giường nan đã gẫy nát. Mùa rét thì giải ổ rơm đầy nhà, mẹ con cùng nằm ngủ trên đó, trông như một cái ổ chó, chó mẹ và chó con lúc nhúc. Đối với những người nghèo như bác, một chỗ ở như thế cũng tươm tất lắm rồi. Nhưng còn cách kiếm ăn? Bác Lê chật vật, khó khăn suốt ngày cũng không đủ nuôi chừng ấy đứa con. Từ buổi sáng tinh sương, mùa nực cũng như mùa rét, bác ta đã phải trở dậy để đi làm mướn cho những người có ruộng trong làng. Những ngày có người mướn ấy, tuy bác phải làm vất vả, nhưng chắc chắn buổi tối được mấy bát gạo và mấy đồng xu về nuôi lũ con đói đợi ở nhà. Đó là những ngày sung sướng. Nhưng đến mùa rét, khi các ruộng lúa đã gặt rồi, cánh đồng chỉ còn trơ cuống rạ dưới gió bấc lạnh như lưỡi dao sắc khía vào da, bác Lê lo sợ, vì không ai mướn bác làm việc gì nữa. Thế là cả nhà nhịn đói. Mấy đứa nhỏ nhất, con Tý, con Phún, thằng Hy mà con chị nó bế, chúng nó khóc lả đi mà không có cái ăn. Dưới manh áo rách nát, thịt chúng nó thâm tím lại vì rét, như thịt con trâu chết. Bác Lê ôm ấp lấy con trong ổ rơm, để mong lấy cái ấm của mình ấp ủ cho nó.

(Trích Nhà mẹ Lê – Thạch Lam)

Câu 1: Văn bản trên có sự kết hợp giữa các phương thức biểu đạt nào? Tác dụng của việc kết hợp đó là gì?

Câu 2: Nêu nội dung chính của văn bản trên?

Câu 3: Nhân vật chính trong văn bản trên là ai? Anh/chị cảm nhận như thế nào về nhân vật đó?

Câu 4: Tìm và phân tích tác dụng của một biện pháp tu từ bất kì được tác giả sử dụng trong văn bản trên.

Câu 5: Theo anh/chị, nhà văn đã thể hiện tình cảm gì đối với nhân vật? Anh/chị hãy nhận xét về tình cảm đó.

Lời giải chi tiết

Câu 1: Văn bản sử dụng kết hợp phương thức biểu đạt tự sự và miêu tả để khắc họa một cách chân thực và làm nổi bật gia cảnh nhà mẹ Lê.

Câu 2: Nội dung văn bản: Gia cảnh nghèo túng, đói khổ của nhà mẹ Lê.

Câu 3: Nhân vật chính trong văn bản là bác Lê. Đó là một người phụ nữ cực khổ [đông con, nghèo đói, phải đi làm thuê làm mướn] song giàu tình thương con, chịu thương chịu khó [dậy sớm đi làm thuê suốt 4 mùa, bất kể nắng mưa, rét mướt; ủ ấm cho đàn con].

Câu 4: Biện pháp tu từ so sánh “Dưới manh áo nát, thịt chúng nó thâm tím lại vì rét, như thịt con trâu chết” [so sánh con người với con vật, lại là con vật chết]⟶ Đây là 1 hình ảnh đầy ám ảnh, khắc sâu sự nghèo khổ, tội nghiệp, đáng thương của nhà bác Lê.

Câu 5: Tình cảm của nhà văn: Yêu thương, xót xa, ái ngại cho cảnh ngộ nghèo khổ của nhà bác Lê. Đó là tình cảm nhân đạo sâu sắc.

3. Đề số 3

"Bác Lê sống ở căn nhà cuối phố, một tổ ấm rách nát như bao ngôi nhà khác. Gia đình chật chội, nhà cửa chỉ là những chiếc chiếu vuột, giường nan một góc đau đớn. Mùa đông, ổ rơm trở thành giường ngủ, nơi mẹ con chật chội nằm, tạo nên bức tranh giống như ổ chó, với chó mẹ và chó con lúc nhúc. Đối với những người nghèo như bác, nơi ở như vậy cũng là niềm hạnh phúc. Nhưng làm thế nào để kiếm ăn? Bác Lê vất vả, khó khăn suốt ngày cũng không đủ nuôi đủ đám con. Từ sáng sớm, mùa nắng hay mùa rét, bác ta phải đứng dậy làm việc mướn cho những người có ruộng trong làng. Những ngày có việc, mặc dù vất vả, nhưng chắc chắn tối về sẽ có một ít gạo và vài đồng xu để mang về nuôi lũ con đói đang đợi ở nhà".

"Những ngày ấy là những ngày hạnh phúc. Nhưng đến mùa đông, khi ruộng lúa đã gặt xong, cánh đồng chỉ còn lại bỏng rơm cô quạnh bay trong gió rét như lưỡi dao sắc khéo vào làn da, bác Lê lo sợ, vì không có ai mướn bác làm việc nữa. Thế là cả nhà phải trải qua những ngày đói kém. Đứa con nhỏ nhất, là Tý, Phún, và Hy, những đứa trẻ mà mẹ chúng bế trên tay, chúng khóc lóc không có thức ăn. Dưới lớp áo rách nát, da thịt chúng thâm tím vì cảm lạnh, như thịt con trâu chết. Bác Lê ôm con trong ổ rơm, để con ấm áp dưới cõi lòng của mình. Đứa con lớn nhất, từ sáng sớm đã đi cùng bố ra đồng kiếm ốc, con ốc, hay sau mùa gặt, đi hái những bông lúa còn sót lại. Đó là những ngày may mắn nếu chúng mang về được ít lúa, trong những ngày tốt lành. Bác Lê nhanh chóng đẩy con ra để lấy bó lúa, đổ xuống dưới chân đồng vò nát, vét gạt hạt thóc giã lấy hạt gạo. Sau đó là một bữa tối ấm áp vào buổi tối lạnh giá, mẹ con hòa mình xung quanh nồi cơm hấp hơi, trong khi bên ngoài trời rét buốt, tiếng gió rít qua mái lá trận trạch".

(Trích 'Nhà mẹ Lê' - Thạch Lam)

Câu 1: Xác định phương tiện diễn đạt có trong đoạn trích trên.

Câu 2: Tìm một câu sử dụng biện pháp so sánh trong đoạn trích và mô tả tác dụng của nó.

Câu 3: Nội dung của đoạn trích là gì?

Câu 4: Viết đoạn văn từ 5-7 câu bày tỏ suy nghĩ của bạn về đoạn trích trên.

Gợi ý

Câu 1: Phương pháp diễn đạt: Tự thuật, mô tả chi tiết

Câu 2: Học sinh mô tả và làm rõ ý nghĩa của biện pháp so sánh trong một trong những câu sau:

- "Trời đông lạnh như lưỡi dao sắc bén vào da, cánh đồng chỉ còn trơ cuống rạ cưới gió bấc".

  • So sánh trạng thái lạnh lẽo của trời đông với lưỡi dao sắc, cánh đồng trơ cuống rạ cưới gió bấc.
  • Tác dụng: Mô tả hình ảnh tê tái của trời đông và cánh đồng để tăng cường cảm xúc và tạo hình ảnh rõ ràng cho độc giả.

- "Dưới chiếc áo rách nát, thịt chúng nó tái tê vì cái lạnh rét, giống như thịt con trâu chết".

  • So sánh màu da người với da con trâu chết.

  • Hiệu ứng: Hình ảnh gợi lên sự tử thần như một biểu tượng của đau đớn, nghèo đói trong cuộc sống của gia đình nhà mẹ Lê.

- "Gió bấc lạnh như lưỡi dao sắc đâm vào da".

  • So sánh hơi gió lạnh như lưỡi dao sắc châm vào da.

  • Tác dụng: Làm nổi bật thời tiết khắc nghiệt, lạnh leo của mùa đông, nhấn mạnh sự khó khăn của gia đình nhà mẹ Lê.

Câu 3:

Đoạn trích nói về cuộc sống khó khăn, cơ cực của gia đình nhà mẹ Lê. Trong những ngày rét, khi không có người thuê, mẹ Lê phải đi làm mướn để kiếm gạo cho đàn con đói. Cảnh đàn con khóc đói, vài đứa đi mót lúa để có chút thức ăn khiến cho nỗi đau nghèo khổ hiện rõ.

Câu 4:

Bài viết của học sinh cần chứa những ý sau:

- Mô tả cuộc sống hàng ngày đầy khó khăn, vất vả của gia đình nhà mẹ Lê.

- Phân tích chi tiết nội dung chính của đoạn trích:

  • Mẹ Lê tận tụy yêu thương đứa con đông đảo: Bằng cách nỗ lực lao động, mẹ Lê luôn đảm bảo con cái có đủ ăn. Những ngày rét buốt, mẹ ôm ấp, sưởi ấm cho con, truyền đạt tình thương mẹ dành cho gia đình.

  • Trong những ngày khó khăn, đám con lớn của mẹ Lê đi mót lúa về để mẹ nấu cơm.

=> Mặc dù đối mặt với đói khốc liệt, gia đình nhà mẹ Lê vẫn tỏ ra quan tâm và yêu thương lẫn nhau.

- Suy nghĩ cá nhân về nội dung đoạn trích: Ngưỡng mộ tinh thần và ý chí kiên cường của người mẹ trong hoàn cảnh khó khăn.

III. Tổng hợp các câu hỏi khác

Câu 1. Xác định người kể chuyện của truyện ngắn trên?

A. Người kể chuyện là nhân vật mẹ Lê, ngôi thứ nhất.

B. Người kể chuyện là nhân vật bác Đối, ngôi thứ ba.

C. Người kể chuyện là nhân vật ẩn mình, ngôi thứ ba.

D. Người kể chuyện là nhân vật ẩn mình, ngôi thứ nhất.

Câu 2. Chi tiết nào sau đây diễn đạt chính xác về gia cảnh nghèo khổ của gia đình bác Lê?

A. Mẹ con bác ta ở một căn nhà lá. Chừng ấy người chen chúc trong một khoảng rộng độ bằng hai chiếc chiếu, có mỗi một chiếc giường nan gãy nát.

B. Bác Lê là một người đàn bà quê chắc chắn và thấp bé, da mặt và chân tay nhăn nheo như một quả trám khô.

C. Người ở phố chợ là bảy tám gia đình nghèo khổ không biết ở đâu, mà người dân trong huyện thường gọi một cách khinh bỉ: những kẻ ngụ cư.

D. Khi bác mới đến phố, ai ai cũng chú ý đến đám con của bác: mười một đứa, mà đứa lớn mới có mười bảy tuổi! Đứa bé nhất hãy còn bế trên tay.

Câu 3. Trong truyện, bác Lê đã đến nhà ông Bá để làm gì?

A. Xin gạo

C. Vay gạo

B. Vay tiền.

D. Xin tiền.

Câu 4. Đâu là lời thoại của nhân vật trong các câu sau:

A. “Mùa rét năm ấy đến, giá lạnh và mưa gió lầy lội. Đàn con bác Lê ôm chặt lấy nhau rét run trong căn nhà ẩm ướt và tối tăm vì đèn đuốc không có nữa.”

B. “Ban sáng u đã vào nhà người ta có cho đâu, cậu Phúc lại còn bảo hễ u vào nữa thì cậu ấy thả chó ra cắn.”

C. “Một buổi chiều, mà đàn con đã nhịn đói suốt buổi, bác Lê vá lại manh áo rét, gọi đứa cả đến rồi bảo”

D. “Đêm ấy, bác Lê lên cơn sốt. Trong lúc mê sảng, bác Lê tưởng nhớ lại cả cuộc đời mình, từ lúc còn bé đến bây giờ, chỉ toàn những ngày khổ sở nhọc nhằn.”

Câu 5. Nhận định nào sau đây là chính xác khi nói về cái chết của bác Lê?

A. Cái chết của bác Lê đã kết quả của một việc làm nông nổi, không cân nhắc kỹ khi đưa ra quyết định đến nhà ông Bá.

B. Cái chết của bác Lê như một sự giải thoát nhẹ nhàng chấm dứt cuộc đời bi kịch của bác.

C. Cái chết của bác Lê đã đem đến sự kinh hãi cho ông Bá, cậu Phúc và những gia đình nghèo trong xóm ngụ cư.

D. Cái chết của bác Lê là hiện thực bi kịch của người lao động nghèo trước Cách mạng Tháng Tám.

Câu 6. Dòng nào sau đây nhận xét chính xác nhất về tình cảm của tác giả đối với số phận người lao động nghèo thông qua câu chuyện của bác Lê?

A. Xót xa, đồng cảm.

C. Bình thản, dửng dưng.

B. Bất bình, căm hờn.

D. Phấn chấn, ngợi ca.

Câu 7. Chủ đề của truyện ngắn “Nhà mẹ Lê” là gì?

A. Lối sống, sinh hoạt của một gia đình nông thôn trước sự đói nghèo, lạc hậu.

B. Tình cảnh thê thảm của người lao động nghèo trước Cách mạng tháng Tám.

C. Phản ánh hậu quả của việc sinh con quá đông.

D. Phản ánh sự ích kỷ, nhẫn tâm của những người giàu sang.

Trả lời các câu hỏi:

Câu 8. Trong truyện, tấm lòng thương con của bác Lê được thể hiện qua những chi tiết, sự việc nào?

Một số chi tiết thể hiện lòng thương con của bác Lê:

- Từ buổi sáng tinh sương, mùa nực cũng như mùa rét, bác ta đã phải trở dậy để đi làm mướn cho những người trong làng.

- Dù đã bị đuổi khỏi nhà cụ Bá một lần và còn bị dọa thả chó ra cắn bác Lê vẫn liều mình sang nhà cụ Bá xin gạo để nuôi đàn con thơ.

- Cho đến khi bị chó cắn đau đớn trong lòng bác vẫn chỉ lo lắng xót xa khi các con không có gì để ăn “Thế là mẹ con lấy gì ăn cho đỡ đói bây giờ.”

Câu 9. Hình ảnh kết thúc truyện: “Khi trở về, qua căn nhà lạnh lẽo âm u, họ thấy mấy đứa con nhỏ con bác Lê ngồi ở vỉa hè.” gợi đến anh/chị những dự cảm gì về số phận các con bác Lê sau khi mất mẹ?

Số phận các con bác Lê sau khi mất mẹ càng trở nên u tối xám xịt thê thảm hơn vì cái đói nghèo.

Và những đứa con đã mất đi tình cảm yêu thương của người mẹ, giờ đã không còn ai che chở lo lắng cho chúng ở trên đời.

Câu 10. Khi chúng ta giờ đây được sống trong thời bình, điều kiện sống tốt hơn rất nhiều, câu chuyện về gia đình bác Lê có ý nghĩa gì với anh/chị?

Câu chuyện về gia đình bác Lê mang lại ý nghĩa:

- Trân trọng cuộc sống hiện tại, tạo động lực cho bản thân phấn đấu, cố gắng.

- Yêu thương, chia sẻ giúp đỡ những người có hoàn cảnh khó khăn trong cuộc sống.

- Phải biết tiết kiệm, không nên tiêu xài hoang phí, có những thứ tuy không là gì với ta lại có ý nghĩa rất lớn lao với người khác trong hoàn cảnh khó khăn.

IV. Phân tích Nhà mẹ Lê

Dàn ý

I. Mở bài

- Giới thiệu về tác giả

- Khái quát nội dung tác phẩm

II. Thân bài

1. Giới thiệu về nhân vật Bà Lê

- Bác Lê là một người đàn bà quê chắc chắn và thấp bé, da mặt và chân tay nhăn nheo như một quả trám khô.

- Đám con của bác: mười một đứa, mà đứa lớn mới có mười bảy tuổi! Đứa bé nhất hãy còn bế trên tay.

- Mẹ con bác ta ở một căn nhà lá, chen chúc trong một khoảng rộng độ bằng hai chiếc chiếu, có mỗi một chiếc giường nan gãy nát.

2. Hoàn cảnh của gia đình nhà Bà Lê

- Bác Lê chật vật, khó khăn suốt ngày cũng không đủ nuôi từng ấy đứa con.

- Những ngày có người mướn ấy, tuy bác phải làm vất vả, nhưng chắc chắn buổi tối được mấy bát gạo và mấy đồng xu về nuôi lũ con đói đợi ở nhà.

- Mùa rét, khi các ruộng lúa đã gặt rồi, không ai mướn bác làm việc gì

3. Tâm trạng

- Lo lắng

- Bồn chồn

- Cố gắng tìm việc

- Hạnh phúc khi như đứa con của mình ăn no.

⇒ Nhưng mà cũng hoàn cảnh đó bác Lê lại lên cơn mê sảng rồi chết.

III. Kết bài

- Đánh giá chung

- Nêu cảm nhận

Bài làm

Thạch Lam nổi tiếng với những tác phẩm ngắn nhẹ nhàng, tinh tế, tràn đầy chất thơ như “Dưới bóng hoàng lan”, “Hai đứa trẻ”, “Gió lạnh đầu mùa”,... Tuy nhiên, “Nhà mẹ Lê” lại là tác phẩm phản ánh hiện thực xã hội đầy bất công vào thời điểm đó. Với phong cách viết nhẹ nhàng, giàu cảm xúc, Thạch Lam đã khắc sâu vào lòng độc giả sự thương cảm và cái nhìn trân trọng đối với bác Lê - người phụ nữ tảo tần, yêu thương con cái.

Trong những dòng văn mở đầu, tác giả miêu tả hoàn cảnh gia đình mẹ Lê sống trong khu phố chợ nghèo nàn, nơi có “bảy tám gia đình nghèo khổ”, bị gọi khinh bỉ là “những kẻ ngụ cư”. Gia đình mẹ có đến mười một đứa con, tất cả sống trong “một căn nhà lá”, “rộng độ bằng hai chiếc chiếu”, và chỉ có “một chiếc giường nan gãy nát”. Tác giả so sánh nơi ở của họ với ổ chó có “chó mẹ và chó con lúc nhúc”. Từ đó, ta nhận ra rằng gia đình mẹ Lê thuộc tầng lớp thấp kém trong xã hội, bị mọi người ruồng rẫy, thậm chí không được coi là con người. Vị trí của họ phản ánh sự phân chia giai cấp bất công trong xã hội lúc bấy giờ. Dù bác Lê vất vả thức khuya dậy sớm, cũng chỉ kiếm được mấy bát gạo và đồng xu để nuôi lũ con đói. Đến mùa rét, cả nhà phải nhịn đói, mấy đứa trẻ “khóc lả đi mà không có cái ăn”, “Dưới manh áo rách, thịt chúng nó thâm tím lại vì rét như thịt con trâu chết”. Trong hoàn cảnh nghèo khổ, bác Lê và các con vẫn giữ được tình yêu thương và sự gắn bó. Những đêm lạnh, “mẹ con ngồi chung quanh nồi cơm bốc hơi, trong khi bên ngoài gió lạnh rít qua mái tranh”. Những ngày nắng ấm, “mẹ con bác Lê cùng nhau ngồi chơi trước cửa nhà”. Dù cuộc sống còn nhiều thiếu thốn, nhưng nhờ những giây phút ấm áp quý giá, họ vẫn giữ được tinh thần lạc quan, hướng tới tương lai.

Bác Lê, người mẹ của mười một đứa con, là trụ cột trong gia đình. Bác được mô tả là “người đàn bà quê chắc chắn và thấp bé, da mặt và chân tay nhăn nheo như một quả trám khô”. Qua những nét phác họa ngoại hình, ta thấy rõ hình ảnh điển hình của người lao động làm công việc chân tay vất vả. Hàng ngày, bác dậy sớm để làm mướn cho những người cần lao. Dù ngày nắng hay mưa, bác luôn chăm chỉ, tần tảo để nuôi con. Tình mẫu tử trong “Nhà mẹ Lê” được thể hiện qua những chi tiết như khi có thức ăn cho con, bác Lê cảm thấy “sung sướng”, và luôn quý con. Bác không ngần ngại bất chấp nguy hiểm để xin gạo cho con. Trong những giây phút cuối đời, hình ảnh con cái vẫn hiện hữu trong tâm trí bác. Tình yêu thương của bác dành cho đàn con là vô bờ, nhưng trước thực tại khó khăn, bác chỉ có thể ôm con vào lòng để sưởi ấm. Cuối cùng, bác Lê đã mất mạng khi đi xin gạo cho con, điều này thể hiện số phận bi thảm của những người nông dân nghèo: họ gặp khó khăn, nghèo đói và phải đối mặt với bất hạnh.

“Nhà mẹ Lê” là câu chuyện về người mẹ nghèo khổ cùng mười một đứa con đói khát. Qua việc sử dụng ngôi kể thứ ba đầy khái quát và chân thực, bức tranh xã hội mà nhà văn vẽ nên không kém phần sắc sảo so với các tác phẩm hiện thực phê phán. Cái chết của bác Lê không chỉ là nỗi bất hạnh của đàn con thơ, mà còn phản ánh thực tế tàn nhẫn đã đè bẹp những con người lương thiện. Tuy nhiên, cái chết cũng là một sự giải thoát cho kiếp sống đầy khổ ải. Với lời văn nhẹ nhàng, ấm áp, tinh tế, giàu cảm xúc và ngôn ngữ gần gũi, nhà văn đã ca ngợi bác Lê - người phụ nữ Việt Nam chăm chỉ, yêu thương con cái, và khắc họa tình mẫu tử, tình cảm gia đình gắn bó trong hoàn cảnh nghèo khó, đầy rối ren.

Trong tác phẩm của Thạch Lam, những cảnh vật và con người được khắc họa bằng những nét vẽ đơn giản nhưng chân thực. Chính vì vậy, văn của ông không mạnh mẽ hay khắc khoải như của Nam Cao, Ngô Tất Tố hay Kim Lân, mà lại giữ được sự nhẹ nhàng, hòa nhã, đi sâu vào lòng trắc ẩn của biết bao thế hệ độc giả sau này.

1 54,324 11/04/2025


Xem thêm các chương trình khác: