Đọc hiểu Hơi ấm ổ rơm (Nguyễn Duy) có đáp án
Đọc hiểu Hơi ấm ổ rơm (Nguyễn Duy) có đáp án chi tiết nhất giúp bạn ôn luyện và nắm vững cách làm bài của dạng bài đọc - hiểu trong các đề thi.
Đọc hiểu Hơi ấm ổ rơm

I. Đọc văn bản Hơi ấm ổ rơm
HƠI ẤM Ổ RƠM
Nguyễn Duy
Tôi gõ cửa ngôi nhà tranh nhỏ bé ven đồng chiêm
Bà mẹ đón tôi trong gió đêm
"Nhà mẹ hẹp, nhưng còn mê(1) chỗ ngủ"
Mẹ chỉ phàn nàn chiếu chăn chả đủ
Rồi mẹ ôm rơm lót ổ tôi nằm.
Rơm vàng bọc tôi như kén bọc tằm,
Tôi thao thức trong hương mật ong của ruộng,
Trong hơi ấm hơn ngàn chăn đệm
Của những cọng rơm xơ xác, gầy gò.
Hạt gạo nuôi tất thảy chúng ta no,
Riêng cái ấm nồng nàn như lửa
Cái dịu ngọt lên hương của lúa
Đâu dễ chia cho tất cả mọi người.
(In trong tập Cát trắng, NXB Quân đội nhân dân, 1973)
II. Đọc - hiểu Hơi ấm ổ rơm
1. Đề số 1
Câu 1 (0,5 điểm): Nêu hoàn cảnh của nhân vật trữ tình trong văn bản?
Hoàn cảnh của nhân vật trữ tình trong văn bản là đêm khuya, bị lỡ đường, xin ngủ nhờ. Gặp bà cụ nghèo sẵn sàng cho ngủ qua đêm. Nhân vật trữ tình đã rất cảm động trước tấm lòng của bà cụ.
Câu 2 (2,0 điểm). Vì sao trong hơi ấm hơn nhiều chăn đệm, nhân vật trữ tình lại thao thức? Hình ảnh hương mật ong của ruộng thể hiện cảm nhận gì của tác giả khi nằm trong hơn ấm ổ rơm?
Nhân vật trữ tình thao thức vì:
- Xúc động khi nhận được sự giúp đỡ, đùm bọc của bà cụ nghèo; cảm thấy hạnh phúc khi được trở che, yêu thương.
- Hương mật ong của ruộng là hương vị dịu ngọt, thanh đằm, thơm mát mà nhân vật trữ tình cảm nhận từ mùi thơm rơm rạ, ruộng đồng; đó còn là hương vị ngọt ngào của lòng yêu thương bình dị, chân thành mà bà mẹ quê dành cho đứa con – người lính qua đường.
Câu 3 (2,0 điểm): Chỉ ra và phân tích tác dụng của các biện pháp tu từ trong khổ thơ thứ ba?
- Biện pháp nghệ thuật: nhân hóa hạt gạo nuôi (tất cả chúng ta no), so sánh cái ấm nồng nàn như lửa. Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác: cái ấm nồng nàn, cái dịu ngọt.
- Tác dụng: Khẳng định hạt gạo nuôi dưỡng sự sống con người mỗi ngày nhưng hơi ấm rơm rạ từ lòng người sẽ cho con người một giá trị khác: lòng yêu thương bồi đắp tâm hồn người.
+ Biện pháp so sánh, ẩn dụ diễn tả gợi cảm niềm xúc động mãnh liệt của người lính khi nhận được tình yêu thương của người mẹ nghèo. Ôm rơm kia vốn chỉ là một thứ phụ phẩm được tận dụng thay cho chăn đệm, nhưng lại trở thành biểu tượng của tình yêu thương giản dị, mộc mạc, chân thành, nồng ấm, thiêng liêng.
Câu 4 (1,5 điểm): Em có cảm nhận gì về hình ảnh người mẹ trong bài thơ?
Hình ảnh người mẹ nghèo trong bài thơ hiện lên với cả một tấm lòng cao cả, nhân hậu, bình dị mộc mạc, dân dã mà đầy chu đáo ân tình…
Người mẹ ấy sẵn sàng nhường cơm sẻ áo, dù hoàn cảnh của mình cũng khó khăn. Mỗi hành động, lời nói của mẹ đầy tình yêu thương như ruột thịt.
2. Đề số 2
Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản. Xác định thể thơ?
Câu 2. Ngôi nhà của người mẹ hiện lên như thế nào trong đoạn thơ?
Câu 3. Chỉ ra và phân tích hiệu quả nghệ thuật của một biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn thơ trên.
Câu 4. Cảm xúc của tác giả trong đoạn thơ hiện lên như thế nào?
Gợi ý
Câu 1.
– Phương thức biểu đạt chính: biểu cảm
– Thể thơ: tự do
Câu 2.
– Ngôi nhà của người mẹ hiện lên:
+ ngôi nhà tranh nhỏ bé ven đồng chiêm
+ Nhà mẹ hẹp; chiếu chăn chả đủ
+ mẹ ôm rơm lót ổ tôi nằm
– Những hình ảnh trên cho thấy: nhà mẹ nghèo, vất vả nhưng gần gũi, quen thuộc, yêu thương.
Câu 3.
– Phép tu từ: liệt kê. Tác giả liệt kê các hình ảnh: đồng chiêm, nhà tranh, ổ rơm, bà mẹ, hơi ấm, lửa, lúa…
– Tác dụng: phép liệt kê làm hiện lên thật sống động hình ảnh một ngôi nhà thân thương, bình dị. Nơi đó có người mẹ yêu thương hết lòng lo lắng, yêu thương người chiến sĩ. Căn nhà chỉ có ổ rơm mẹ lót con nằm nhưng trong cái nghèo khó vất vả, nhà thơ cảm nhận được hơi ấm ổ rơm, hơi ấm tình mẹ, hơi ấm quê hương, ruộng đồng quanh mình.
Câu 4.
Cảm xúc của tác giả: xúc động, yêu thương trước sự chăm sóc bình dị của mẹ; thao thức trong hơi ấm ổ rơm vì nhận ra mùi đồng ruộng quê hương mộc mạc, ân tình.
3. Đề số 3
Câu 1. Xác định thể thơ của bài thơ trên.
Câu 2. Nhân vật trữ tình trong bài thơ là ai?
Câu 3. Phân tích hiệu quả của biện pháp tu từ được sử dụng trong thơ sau: Rơm vàng bọc tôi như kén bọc tằm?
Câu 4. Nhận xét tình cảm của nhân trữ tình trong bài thơ.
Câu 5. Bài học sâu sắc nhất anh/chị nhận được qua bài thơ trên là gì?
Trả lời
Câu 1. Bài thơ trên được viết theo thể thơ tự do.
Câu 2. Nhân vật trữ tình trong bài thơ trên: Nhân vật "tôi" (nhà thơ).
Câu 3.
- Biện pháp tu từ so sánh: rơm vàng bọc tôi được so sánh với kén bọc tằm qua từ như.
- Hiệu quả:
+ Giúp câu thơ giàu hình ảnh, sinh động, hấp dẫn, tăng sức gợi hình, gợi cảm.
+ Nhấn mạnh những cảm nhận của nhân vật tôi về người mẹ: ấm áp, an toàn, được chở che, bao bọc. Qua đó thể hiện lòng biết ơn, trân trọng của nhân vật tôi trước tấm lòng yêu thương người mẹ.
Câu 4.
- Tình cảm của nhân vật nhân vật trữ tình trong bài thơ là tình cảm biết ơn, trân trọng với người mẹ nhân dân đã cưu mang, chở che, bao bọc cho những người lính, dù đó không phải là con đẻ của mình.
- Đó là những tình cảm giản dị, mộc mạc, có ý nghĩa hình thành nhân cách và giáo dục lối sống đẹp cho thế hệ trẻ.
Câu 5.
- Bài học sâu sắc nhất em nhận được qua bài thơ trên là phải ghi nhớ công lao của những người đã giúp đỡ mình trong cuộc sống.
- Sở dĩ em nhận ra bài học trên vì:
+ Những người giúp đỡ mình trong lúc khó khăn là những người thực sự tử tế, nhân hậu, quan tâm đến mình.
+ Khi ghi nhớ công ơn đó, bản thân mình sẽ sống tốt hơn, có động lực để vươn lên.
+ Nếu không biết ghi nhớ công ơn của những người đã giúp đỡ mình, ta sẽ trở thành kẻ vô ơn, sống ích kỉ, cuộc sống trở nên vô nghĩa.
4. Đề số 4
Câu 1: Nêu nội dung và ý nghĩa của bài Hơi ấm ổ rơm.
Bài thơ là dòng suy nghĩ của nhân vật trữ tình về tấm lòng thơm thảo, ấm áp, cao cả của người mẹ nghèo, quê hương nghèo đã nuôi dưỡng sự sống và tâm hồn biết bao con người con người mà không phải ai cũng thấy được.
Câu 2: Em hiểu sao về nhan đề Hơi ấm ổ rơm là như thế nào?
Nhan đề thể hiện tình thương của bà mẹ đồng chiêm dành cho nhân vật trữ tình ( ở đây là người lính lỡ đường) tuy hoàn cảnh có túng thiếu nhưng ấm áp tình người.
Câu 3: Em hiểu sao về người mẹ trong bài thơ Hơi ấm ổ rơm.
Người mẹ trong bài thơ hiện lên với bao ấm áp, thân thương, người mẹ ấy mang trong mình đức hy sinh cao cả.
Câu 4: Chỉ ra tác dụng của biện pháp nghệ thuật trong câu thơ :"rơm vàng bọc tôi như kén bọc tằm " trong bài Hơi ấm ổ rơm.
Biện pháp so sánh "rơm vàng bọc tôi như kén bọc tằm" thể hiện sự ấm áp, hạnh phúc, cảm động về nghĩa tình người mẹ đồng chiêm dành cho nhân vật trữ tình.
III. Các câu hỏi khác
Câu 1. Văn bản trên viết theo thể thơ nào?
A. Bảy chữ
B. Tám chữ
C. Tự do
D. Thất ngôn Đường luật
Câu 2. Nhân vật trữ tình trong bài thơ là ai?
A. Nhân vật tôi
B. Nhân vật người mẹ
C. Tác giả, xuất hiện trực tiếp, xưng tên riêng
D. Chủ thể ẩn
Câu 3. Ý nào không nói đúng hoàn cảnh mà nhân vật tôi gõ cửa nhà bà mẹ?
A. Đêm khuya bị lỡ đường
B. Ngoài trời lạnh
C. Đi qua một vùng đồng chiêm
D. Gặp ngôi nhà tranh rộng rãi
Câu 4. Đâu là lời nói của người mẹ trong bài thơ?
A. Nhà mẹ hẹp nhưng còn mê chỗ ngủ
B. Mẹ chỉ phàn nàn chiếu chăn chả đủ
C. Hạt gạo nuôi hết thảy chúng ta no
D. Cả 3 đáp án trên đều sai
Câu 5. Câu thơ Rơm vàng bọc tôi như kén bọc tằm sử dụng biện pháp tu từ nào?
A. Nhân hóa
B. So sánh
C. Ẩn dụ
D. Nhân hoá và So sánh
Câu 6. Dòng thơ nào nói lên trực tiếp tâm trạng của nhân vật tôi khi được nằm trong hơi ấm ổ rơm?
A. Rơm vàng bọc tôi như kén bọc tằm
B. Tôi thao thức trong hương mật ong của ruộng
C. Riêng cái ấm nồng nàn như lửa
D. Cái mộc mạc lên hương của lúa
Câu 7. Ý nào khái quát nội dung chính của bài thơ?
A. Đề cập đến ý nghĩa hơi ấm ổ rơm của người mẹ cưu mang người chiến sĩ trong đêm khuya lỡ đường.
B. Đề cập đến hình bóng người mẹ nghèo vùng đồng chiêm đã cưu mang người chiến sĩ.
C. Đề cập đến kỉ niệm về đêm lỡ đường của người chiến sĩ.
D. Đề cập đến tấm lòng người mẹ nghèo cưu mang người chiến sĩ và lòng biết ơn của người chiến sĩ.
Câu 8. Anh/chị hiểu như thế nào về hình ảnh hương mật ong của ruộng?
Trong bài thơ "Hơi Ấm Ổ Rơm" của nhà thơ Nguyễn Khuyến, hình ảnh "hương mật ong của ruộng" được sử dụng để miêu tả sự tươi mát, ngọt ngào và thân thiện của một không gian quen thuộc, mang đến cảm giác an lành và ấm áp cho người đọc.
Câu 9. Nêu cảm nhận về hình ảnh người mẹ trong bài thơ
Trong bài thơ "Hơi ấm ổ rơm" của nhà thơ Tố Hữu, hình ảnh người mẹ được miêu tả rất chân thực và đầy tình cảm. Người mẹ trong bài thơ được tác giả tả dưới hình ảnh một người phụ nữ nghèo khổ, sống trong một ổ rơm nhỏ bé, nhưng lại toát lên một tình yêu thương vô bờ bến dành cho con cái. Người mẹ trong bài thơ được miêu tả là người luôn chăm sóc, nuôi dưỡng và che chở cho con cái trong mọi hoàn cảnh. Dù cuộc sống khó khăn, người mẹ vẫn luôn cố gắng tạo ra một không gian ấm áp, an lành cho con cái. Hình ảnh "hơi ấm ổ rơm" chính là biểu tượng cho tình mẫu tử vô điều kiện của người mẹ, nơi mà con cái luôn cảm thấy được yên bình và an toàn. Hơn nữa, người mẹ trong bài thơ còn được miêu tả là người biết chia sẻ, nhân hậu và luôn sẵn lòng giúp đỡ người khác. Dù cuộc sống của mình còn thiếu thốn, người mẹ vẫn không ngại hy sinh và chia sẻ những gì mình có với những người xung quanh. Hình ảnh này thể hiện tình yêu thương và lòng nhân ái của người mẹ, làm cho người đọc cảm nhận được sự cao cả và đáng quý của tình mẫu tử.
IV. Phân tích Hơi ấm ổ rơm
DÀN Ý
1. Mở bài
– Giới thiệu tác giả:
+ Nguyễn Duy là một trong những nhà thơ tiêu biểu trong kháng chiến chống Mỹ.
+ Ông viết thơ từ rất sớm, khi còn là học sinh trường cấp 3.
+ Thơ Nguyễn Duy có sự đặc sắc trong cách khám phá, cảm nhận và thể cuộc sống. Nhiều bài thơ của tác giả toát lên vẻ đẹp dân tộc – hiện đại, vừa giản dị, gần gũi mới lạ trong nội dung và hình thức thể hiện
– Giới thiệu tác phẩm:
+ Hơi ấm ổ rơm là một bài thơ đặc sắc của ông, là một trong những bài thơ giúp Nguyễn Duy đạt giải nhất cuộc thi thơ tuần báo Văn nghệ vào năm 1973.
+ Bài thơ thể hiện được tấm lòng nhân hậu, tràn đầy tình yêu thương và sẻ chia của người mẹ vùng đồng chiêm dành cho một người khách lỡ đường và sự trân trọng, biết ơn của nhà thơ với tình cảm, tấm lòng lớn lao, cao cả của người mẹ, của nhân dân, đất nước.
2. Thân bài
2.1 Nội dung
*Khổ thơ đầu: Tấm lòng nhân hậu, cởi mở của người mẹ đồng chiêm – dù trong hoàn cảnh khó khăn, thiếu thốn, mẹ vẫn ân cần chuẩn bị những gì tốt nhất cho người khách lỡ đường.
– Hoàn cảnh của nhân vật trữ tình: người lính lỡ đường trong đêm khuya gió lạnh
– Hình ảnh: ngôi nhà tranh nhỏ bé – đồng chiêm=> không gian mênh mông, rộng lớn, đồng thời làm nổi bật ngôi nhà nhỏ bé, đơn sơ.
– Cách gọi “bà mẹ”: cách gọi đặc biệt => nhân vật trữ tình dường như xúc động khi nhìn thấy người mẹ đón mình trong đêm gió lạnh, người mẹ ấy khiến anh nhớ đến người mẹ thân thương, ruột thịt của mình.
– Hoàn cảnh nghèo khó của mẹ: căn nhà nhỏ bé, chật hẹp, thiếu thốn: nhà mẹ hẹp, chiếu chăn chả đủ.
– Tình cảm của người mẹ dành cho vị khách xa lạ:
+ “- Nhà mẹ hẹp nhưng còn mê chỗ ngủ”: Sự vui vẻ, hồ hởi của người mẹ, bà mẹ xưng “mẹ” với người khách lỡ đường => bà coi anh như con của mình.
+ Phàn nàn: bà mẹ tự trách vì sự thiếu thốn của mình, không có được những thứ tốt nhất cho người khách lạ.
+ Rồi mẹ ôm rơm lót ổ tôi nằm: Sự ân cần, chu đáo của người mẹ.
=> Tình cảm chân thành, lớn lao của người mẹ dành cho “người con xa lạ” , tình cảm ấy đã xóa nhòa đi sự chật hẹp, thiếu thốn tiện nghi của căn nhà nhỏ bé. Sự đón tiếp của người mẹ khiến cho nhân vật trữ trình vô cùng xúc động và biết ơn.
* Khổ thơ thứ hai: Cảm xúc của người lính khi được nằm trong hơi ấm, hương thơm của ổ rơm
– Hình ảnh so sánh: Rơm vàng bọc tôi như kén bọc tằm
– Điệp ngữ: bọc
=> Người lính cảm thấy vô cùng ấm áp, an toàn khi được ở trong căn nhà của người mẹ, được nằm trong ổ rơm thơm tho, sạch sẽ mà mẹ đã ân cần chuẩn bị cho anh.
– Nằm trong hơi ấm ổ rơm, người lính có những cảm xúc mới mẻ, đó là sự xúc động, sự biết ơn với những người nông dân trên những cánh đồng chiêm, với nhân dân, với đất nước.
+ Động từ “thao thức” kết hợp với phép liệt kê: trong hương mật ong của ruộng, trong hơi ấm… của những cọng rơm xơ xác gầy gò.
+ Phép so sánh: Trong hơi ấm hơn nhiều chăn đệm/ Của những cọng rơm xơ xác gầy gò + Phép nhân hóa “xơ xác, gầy gò” => Căn nhà nhỏ bé của mẹ dù thiếu thốn, chật hẹp nhưng tình cảm, hơi ấm mà người lính nhận được từ người mẹ ấy thì không có thứ chăn đệm nào có thể sánh bằng.
=> Người lính xúc động mãnh liệt và cảm động sâu sắc trước vẻ đẹp bình dị mà lớn lao của nhân dân. Những sợi rơm “xơ xác gầy gò” là sự kết tinh lao động của nhân dân, nó mang lại hơi ấm cho anh trong đêm giá lạnh và bao bọc anh trong tình thương chân thành, ấm áp.
* Khổ thơ cuối: Thể hiện sâu sắc, mạnh mẽ hơn tình cảm trân trọng và biết ơn sâu sắc của người khách lỡ đường dành cho người mẹ vùng đồng chiêm và lời nhắc về sự biết ơn.
– Hình ảnh tương phản “hạt gạo” nhỏ bé với “nuôi hết thảy chúng ta no” => Hạt gạo nuôi dưỡng tâm hồn con người, nó thấm thía tình yêu, lòng biết ơn, sự thủy chung, lòng nhân hậu của biết bao người dân Việt Nam, đã vun đắp cho những tình cảm tốt đẹp trong tâm hồn người dân Việt Nam.
– Phép so sánh: “Nồng nàn như lửa” => gợi lên ánh lửa, bếp lửa, ngọn lửa của gia đình => hơi ẩm của tình thân.
– Hai câu thơ cuối như một lời nhắc nhở nhẹ nhàng, chân thành: “Hạt gạo nuôi hết thảy chúng ta no” nhưng không phải “tất cả mọi người” đều có thể nhận ra và hiểu được và trân trọng, nâng niu ý nghĩa thiêng liêng của hạt gạo, của ổ rơm, của người mẹ nhân dân => Cần phải biết phát hiện và trân trọng những vẻ đẹp giản dị xung quanh ta, kính trọng, biết ơn sự hy sinh thầm lặng và cao cả của nhân dân muôn đời.
2.2 Nghệ thuật
– Thể thơ tự do => dễ dàng bộc lộ cảm xúc.
– Sử dụng từ ngữ, hình ảnh đời thường, giản dị, mộc mạc.
– Phép tu từ: so sánh, nhân hóa, liệt kê,…
– Giọng điệu tâm tình, tha thiết mang màu sắc tự sự
3. Kết bài
– Khẳng định lại giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ
BÀI LÀM
Nguyễn Duy là một trong những nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ. Ngoài thơ, Nguyễn Duy còn viết tiểu thuyết, bút kí những thơ vẫn là thể loại mà ông được bạn đọc đón nhận nhiều nhất. Thơ Nguyễn Duy có sự đặc sắc trong cách khám phá, cảm nhận và thể hiện cuộc sống. Nhiều bài thơ của tác giả toát lên vẻ đẹp dân tộc – hiện đại, vừa giản dị, gần gũi mới lạ trong nội dung và hình thức thể hiện. Bài thơ Hơi ấm ổ rơm là một bài thơ đặc sắc của Nguyễn Duy. Bài thơ cùng với các bài thơ Bầu trời vuông, Giọt nước mắt và nụ cười, Tre Việt Nam trong tập thơ Cát trắng đã giúp nhà thơ Nguyễn Duy đạt giải nhất cuộc thi thơ tuần báo Văn nghệ vào năm 1973. Tác phẩm Hơi ấm ổ rơm với những hình ảnh mộc mạc, giản dị, giọng thơ tâm tình đã làm nổi bật lên tấm lòng nhân hậu, tràn đầy tình yêu thương và sẻ chia của người mẹ vùng đồng chiêm dành cho một người khách lỡ đường, bên cạnh đó là sự trân trọng, biết ơn của nhà thơ với tình cảm, tấm lòng lớn lao, cao cả của người mẹ, của nhân dân, đất nước.
Bài thơ mở đầu hết sức giản dị, tự nhiên như một lời kể chuyện, bộc bạch, tâm tình:
Tôi gõ cửa ngôi nhà tranh nhỏ bé ven đồng chiêm
Bà mẹ đón tôi trong gió đêm:
– Nhà mẹ hẹp nhưng còn mê chỗ ngủ
Mẹ chỉ phàn nàn chiếu chăn chả đủ
Rồi mẹ ôm rơm lót ổ tôi nằm.
Khổ thơ thứ nhất mở ra khung cảnh gặp gỡ của người khách lỡ đường (có thể là một người lính) với “bà mẹ”. Đó là không gian đêm khuya tĩnh lặng, hình ảnh “nhà tranh nhỏ bé” đặt bên cạnh “đồng chiêm” rộng lớn gợi ra sự mênh mông, bao la của đất trời. Sự mênh mông bao la, rộng lớn của trời đêm và những cánh đồng bát ngát cũng làm nổi bật hình ảnh “ngôi nhà tranh nhỏ bé ven đồng chiêm” – hình ảnh rất gần gũi, quen thuộc mà ta có thể bắt gặp ở những vùng thôn quê của đất nước vào rất nhiều năm trước.
Nhà tre, mái rạ, vách bùn rơm
Cửa chắn con song mở gió vườn
Chum nước mưa vần bên cạnh chái
Dưới giàn thiên lý tỏa hương thơm
(Nhà tranh – Đoàn Văn Cừ)
Trong đêm khuya tăm tối và gió đêm lạnh giá, giữa không gian vắng lặng, rộng lớn, ngôi nhà đơn sơ, nhỏ bé ấy đã thành một niềm an ủi, một chốn dừng chân. Đón người lính là một “bà mẹ” Giây phút gặp gỡ đầu tiên với chủ nhân của căn nhà nhỏ bé ấy khiến tác giả vô cùng xúc động, nhà thơ cảm tưởng như được gặp lại người mẹ thân thương, ruột thịt của mình. Chữ “đón” đã thể hiện niềm vui, sự hồ hởi chân thành và cảm động, bà mẹ đã chào đón một người lính, một người khách xa lạ như chính đứa con của mình. Trước sự ấm áp của người mẹ ấy, mọi sự cô đơn, vắng lặng, gió rét của một đêm khuya hoàn toàn tan biến. Ba câu thơ tiếp theo nói lên tấm lòng nhân hậu, bao dung, sự quan tâm chu đáo, ân cần của người mẹ với “người con xa lạ”, tình thương yêu bao la ấy đã làm lu mờ đi sự thiếu thốn, chật hẹp của ngôi nhà nhỏ bé. Nhà mẹ có thể bé nhỏ, đơn sơ, thiếu thốn đủ thứ nhưng lòng mẹ thì luôn rộng lớn, bao la, tình thương của mẹ là vô bờ bến. Hình người mẹ cẩn thận, tự tay chuẩn bị chỗ ngủ sạch sẽ, thơm tho, ấm áp cho mình không khỏi khiến nhân vật trữ tình xúc động và biết ơn.
Nhà mẹ hẹp nhưng còn mê chỗ ngủ
Mẹ chỉ phàn nàn chiếu chăn chả đủ
Rồi mẹ ôm rơm lót ổ tôi nằm”
Nếu như khổ thơ đầu khép lại trong sự xúc động sâu sắc và biết ơn của người lính với “người mẹ mới gặp” thì ở khổ thơ thứ hai mở ra những cảm nhận mới mẻ của người lính đối với nhân dân:
Rơm vàng bọc tôi như kén bọc tằm
Tôi thao thức trong hương mật ong của ruộng
Trong hơi ấm hơn nhiều chăn đệm
Của những cọng rơm xơ xác gầy gò.
Hình ảnh so sánh “Rơm vàng bọc tôi như kén bọc tằm” kết hợp với điệp từ “bọc” đã thể hiện những cảm xúc tinh tế, thi vị của nhân vật trữ tình. Người lính vô cùng trân trọng, cảm động khi được nằm trong những sợi “rơm vàng” – thứ chứa đựng sức lao động của những người nông dân. Phép tu từ so sánh “bọc tôi như kén bọc tằm” là một hình ảnh rất ấm áp, an toàn, người lính đã đắm mình trong tình cảm gắn bó với “rơm vàng”, với nhân dân, cộng đồng. Điệp từ “bọc” nhấn mạnh sự biết ơn, trân trọng của anh với tấm lòng nhân ái của nhân dân. Nằm trong hơi ấm ổ rơm, cảm nhận hương thơm và sự xơ xác của những sợi rơm vàng, người khánh lơ đường “thao thức” xúc động mãnh liệt và cảm động sâu sắc trước vẻ đẹp bình dị mà lớn lao của nhân dân. Nhân vật trữ tình “tôi” cảm nhận được hương thơm ngọt ngào kết tinh của đồng ruộng, cảm nhận được nỗi vất vả, cực nhọc, khó khăn những người dân đồng chiêm, đặc biệt là những người mẹ tần tảo, chịu thương, chịu khó nhưng giàu tình yêu thương. Nhà thơ sử dụng phép so sánh “Hơi ấm hơn nhiều chăn đệm” đã cho thấy hơi ấm đặc biệt của tình yêu thương từ ổ rơm, không chăn đệm nào sánh bằng. Giống với “trong hương mật ong của ruộng”, một lần nữa ta thấy được “trong hơi ấm” là sự đắm mình của tác giả trong không khí gia đình yêu thương, sự đùm bọc, che chở của nhân dân. Nguyễn Duy đã dùng từ láy “xơ xác”, “gầy gò” để nhân hóa những cọng rơm. Một đời cây lúa đã hiến trọn cho những hạt lúa căng đầy, chỉ còn lại hình ảnh “xơ xác, gầy gò”, gợi lên hình ảnh những người mẹ một đời hy sinh hết mình vì con. Thân lúa dù xơ xác, gầy gò vẫn chắt chiu từng chút hơi ấm, truyền lại sự chở che, đó chính là hơi ấm của lòng mẹ, của những người mẹ nghèo khổ, vất vả nhưng luôn dành cho con những điều tốt đẹp, ngọt ngào nhất.
Tiếp nối tình cảm của nhân vật trữ tình – người lính trong đêm lỡ đường hay cũng chính là của tác giả dành cho người mẹ, cho nhân dân, đất nước ở khổ thơ hai thì kết thúc bài thơ, tác giả lại thể hiện sâu sắc hơn tình cảm ấy.
Hạt gạo nuôi hết thảy chúng ta no
Riêng cái ấm nồng nàn như lửa
Cái mộc mạc lên hương của lúa
Đâu dễ chia cho tất cả mọi người.
Hình ảnh tương phản “hạt gạo” nhỏ bé với “nuôi hết thảy chúng ta no” khẳng định mạnh mẽ về giá trị, ý nghĩa lớn lao của hạt gạo: hạt gạo ấy đã nuôi sống, vun đắp cho sự sống. Hạt gạo nuôi dưỡng tâm hồn con người, nó thấm thía tình yêu, lòng biết ơn, sự thủy chung, lòng nhân hậu của biết bao người dân Việt Nam, đã vun đắp cho những tình cảm tốt đẹp trong tâm hồn người dân Việt Nam.
Nhà thơ Nguyễn Duy lại một lần nữa nhắc đến hơi ấm. “Cái ấm nồng nàn như lửa” là hơi ấm từ ổ rơm, từ những sợi rơm “xơ xác, gầy gò”, đã hiến trọn đời mình cho hạt gạo. Giờ đây, vẫn vun vén, chắt chiu, ấp ủ hơi ấm cho con người, ấy là hơi ấm của tình đời, tình người, quân dân thắm thiết. “Nồng nàn” gợi lên một tình cảm đậm đà, sâu sắc, lúc nào cũng ấm áp, tràn ngập yêu thương. Tình cảm ấy là bất biến, trước sau như một. “Nồng nàn như lửa” – hình ảnh so sánh gợi lên ánh lửa, bếp lửa, ngọn lửa của gia đình nên hơi ấm ở đây là hơi ẩm của tình thân, và hơi ấm ấy thắp sáng cho tâm hồn con người, xua tan mọi bóng tối trên đường đời. Phép liệt kê: “cái ấm nồng nàn” và “cái mộc mạc lên hương của lúa” đã khẳng định sự vô tận của hình ảnh hạt gạo. Nếu chữ “mộc mạc” chỉ gợi sự đơn sơ, giản dị thì “lên hương” lại gợi lên sự thăng hoa, sự chắt chiu qua từng ngày tháng để lên hương cho rơm rạ. Đó là sự lên hương của không gian đồng nội, từ cả cỏ cây hoa lá, và đó cũng là sự ủ hương theo thời gian, cây rơm xa rời ruộng nhưng vẫn mang theo hương thơm. Kết thúc bài thơ giống như một lời nhắc nhở nhẹ nhàng mà sâu sắc, thấm thía: “Đâu dễ chia cho tất cả mọi người”. “Hạt gạo nuôi hết thảy chúng ta no” nhưng không phải “tất cả mọi người” đều có thể nhận ra và hiểu được và trân trọng, nâng niu ý nghĩa thiêng liêng của hạt gạo, của ổ rơm, của người mẹ nhân dân. Khép lại khổ thơ là một lời nhắn nhủ chân thành của Nguyễn Duy đối với độc giả, là sự suy ngẫm, chiêm nghiệm về một chân lí cuộc đời, đó là chúng ta cần phải biết phát hiện và trân trọng những vẻ đẹp giản dị xung quanh ta, kính trọng, biết ơn sự hy sinh thầm lặng và cao cả của nhân dân muôn đời.
Nguyễn Duy đã sử dụng thành công thể thơ tự do giúp nhà thơ tự do bộc lộ cảm xúc dào dạt của mình qua những ngôn từ đời thường, giản dị, mộc mạc. Bài thơ mang yếu tố tự sự, kể chuyện, tác giả xưng “tôi” khiến bài thơ giống như là lời tâm tình. Qua đó làm nổi bật hình ảnh lớn lao, cao cả của người mẹ, của nhân dân, đất nước bằng hình ảnh hết sức giản dị: hơi ấm ổ rơm, đồng thời cũng lời nhắc của tác giả về lòng biết ơn, về đạo lí “uống nước nhớ nguồn”.
Bài thơ “Hơi ấm ổ rơm” có lẽ được ra đời bởi sự xúc động của nhà thơ trước tình cảm chân thành ấm áp của một người mẹ đồng chiêm dành cho mình trong một đêm lỡ đường. Đọc bài thơ, người đọc xúc động với tình cảm bao la, rộng lớn của những người mẹ, tấm lòng nhân hậu, sự tần tảo, chu đáo của người mẹ ấy đã xóa đi sự thiếu thốn, chật hẹp của căn nhà nhỏ bé ven cánh đồng chiêm chỉ để lại tình cảm ấm áp, chân thành giữa hai người xa lạ. Vẫn với giọng thơ trữ tình đằm thắm, tha thiết, những hình ảnh, từ ngữ rất bình dị, thân thuộc, Nguyễn Duy đã làm nổi bật lên vẻ đẹp của tâm hồn người Việt Nam.
Xem thêm các chương trình khác:
- Các dạng bài tập Tiếng Anh thông dụng nhất
- 3000 câu hỏi ôn tập môn Tiếng Anh có đáp án
- Toàn bộ kiến thức về cụm động từ | Định nghĩa và cách dùng
- 500 đoạn văn Tiếng Anh thông dụng nhất và cách làm
- 1000 câu hỏi ôn tập môn Công nghệ có đáp án
- 1000 câu hỏi ôn tập Giáo dục công dân
- 15000 câu hỏi ôn tập môn Toán có đáp án
- Wiki Toán | Khái niệm, định lí, tính chất, dạng bài, công thức
- Tuyển tập đề thi + chuyên đề ôn thi Toán Kangaroo các cấp độ (có đáp án 2026)
- 3000 câu hỏi ôn tập môn Vật lí có đáp án
- Tổng hợp Dạng bài - Công thức môn Vật lí
- Phương trình hóa học | Tổng hợp PTHH của các chất hữu cơ, vô cơ chính xác nhất
- Đồng phân & Công thức cấu tạo của các chất hữu cơ
- Nhận biết các chất Hóa học
- Cấu hình electron
- So sánh bán kính nguyên tử và bán kính ion
- 1000 câu hỏi ôn tập môn Hóa có đáp án
- Wiki các chất hóa học | Định nghĩa, tính chất, nhận biết, điều chế, ứng dụng
- Cách đọc danh pháp hóa học (chương trình mới) đầy đủ nhất
- Công thức Lewis của một số chất thường gặp (chương trình mới)
- Công thức electron của một số chất thường gặp (chương trình mới)
- Công thức cấu tạo của một số chất thường gặp (chương trình mới)
- Công thức hợp chất khí với hidro của các nguyên tố (phổ biến) | Cách viết công thức hợp chất khí với hidro
- Công thức hidroxit cao nhất của các nguyên tố (phổ biến) | Cách viết công thức hidroxit cao nhất
- Công thức oxit cao nhất của các nguyên tố (phổ biến) | Cách viết công thức oxit cao nhất
- 2000 câu hỏi ôn tập môn Tin học có đáp án
- 3000 câu hỏi ôn tập môn Lịch sử có đáp án
- 3000 câu hỏi ôn tập môn Địa lí có đáp án
- 2000 câu hỏi ôn tập môn Sinh học có đáp án
- Tổng hợp Dạng bài - Công thức môn Sinh học
- Trò chơi Powerpoint | Game Powerpoint
- Tổng hợp bài thu hoạch BDTX Giáo viên mầm non (2025) theo Thông tư 12
- Tổng hợp bài thu hoạch BDTX Giáo viên tiểu học (2025)
- Tổng hợp bài thu hoạch BDTX Giáo viên THCS (2025)
- Tổng hợp bài thu hoạch BDTX Giáo viên THPT (2025)
- Tổng hợp thông tin, kiến thức chung
- Tiền tiểu học
