Đọc hiểu Không có gì tự đến đâu con (Nguyễn Đăng Tấn) có đáp án

Đọc hiểu Không có gì tự đến đâu con (Nguyễn Đăng Tấn) có đáp án chi tiết nhất giúp bạn ôn luyện và nắm vững cách làm bài của dạng bài đọc - hiểu trong các đề thi.

1 75,944 01/04/2025


Đọc hiểu Không có gì tự đến đâu con

TOP 10 mẫu Phân tích Không có gì tự đến đâu con của Nguyễn Đăng Tấn (2025) SIÊU HAY (ảnh 1)

I. Bài thơ Không có gì tự đến đâu con

Không có gì tự đến đâu Con..

Quả muốn ngọt phải tháng ngày tích nhựa

Hoa sẽ thơm khi trải qua nắng lửa.

Mùa bội thu phải một nắng hai sương,

Không có gì tự đến dẫu bình thường.

Phải bằng cả bàn tay và nghị lực!

Như con chim suốt ngày chọn hạt,

Năm tháng bao dung khắc nghiệt lạ kỳ.

Dẫu bây giờ Cha Mẹ đôi khi,

Có nặng nhẹ yêu thương và giận dỗi.

Có roi vọt khi con hư và có lỗi

Thương yêu Con, đâu đồng nghĩa với nuông chiều!

Đường Con đi dài rộng biết bao nhiêu..

Năm tháng nụ xanh giữ cây vươn thẳng,

Trời cao đó nhưng chẳng bao giờ lặng,

Chỉ có Con mới nâng nổi chính mình..

(Không có gì tự đến đâu Con – Nguyễn Đăng Tấn)

II. Đọc - hiểu Không có gì tự đến đâu con

1. Đề số 1

Đọc văn bản sau:

Không có gì tự đến đâu Con..

Quả muốn ngọt phải tháng ngày tích nhựa

Hoa sẽ thơm khi trải qua nắng lửa.

Mùa bội thu phải một nắng hai sương,

Không có gì tự đến dẫu bình thường.

Phải bằng cả bàn tay và nghị lực!

Như con chim suốt ngày chọn hạt,

Năm tháng bao dung khắc nghiệt lạ kỳ.

Dẫu bây giờ Cha Mẹ đôi khi,

Có nặng nhẹ yêu thương và giận dỗi.

Có roi vọt khi con hư và có lỗi

Thương yêu Con, đâu đồng nghĩa với nuông chiều!

Đường Con đi dài rộng biết bao nhiêu..

Năm tháng nụ xanh giữ cây vươn thẳng,

Trời cao đó nhưng chẳng bao giờ lặng,

Chỉ có Con mới nâng nổi chính mình..

(Không có gì tự đến đâu Con – Nguyễn Đăng Tấn)

Thực hiện các yêu cầu:

Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản.

Thể thơ: Tự do.

Câu 2. Chỉ ra và phân tích tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong hai câu thơ:

Như con chim suốt ngày chọn hạt,

Năm tháng bao dung khắc nghiệt lạ kỳ.

Biện pháp tu từ: so sánh.

Việc so sánh với chú chim chăm chỉ cần mẫn chọn hạt là lời của cha mẹ muốn dạy cho con cái sự kiên trì, tỉ mỉ, cần mẫn trong cuộc sống thì sau này mới gặt hái được quả ngọt.

Biện pháp tu từ nhân hóa: bao dung.

Nhấn mạnh sự khắc nghiệt của thời gian. Thời gian vẫn trôi theo dòng chảy của cuộc sống, nhưng chính thời gian cũng sẽ tạo nên những điều kì diệu của cuộc sống.

Câu 3. Anh/chị hiểu như thế nào về nội dung những dòng thơ sau:

Quả muốn ngọt phải tháng ngày tích nhựa

Hoa sẽ thơm khi trải qua nắng lửa.

Mùa bội thu phải một nắng hai sương.

Ba dòng thơ trên trước hết cho ta hiểu: Muốn có được trái ngọt, hoa thơm, mùa màng bội thu phải trải qua quá trình tích lũy, trải qua những khắc nghiệt của cuộc đời, trải qua những tháng ngày vất vả, cực nhọc chăm sóc, vun trồng.. Qua đó, tác giả muốn nhấn mạnh: Sự cần mẫn kiên trì, quyết tâm vượt gian khổ sẽ mang đến những thành quả tốt đẹp.

Câu 4. Anh/chị có suy nghĩ gì về lời khuyên của cha mẹ được thể hiện trong bài thơ?

Bài thơ Không có gì tự đến đâu Con là những lời khuyên chân thành của cha mẹ về đức tính kiên trì, bền bỉ, giàu nghị lực để vượt qua những khó khăn thử thách trong hành trình khôn lớn. Những đức tính đó sẽ trui rèn cho con trở thành một con người mạnh mẽ, trưởng thành và đạt được những thành quả trong cuộc sống sau này.

Câu 5. Từ nội dung hai câu thơ "Không có gì tự đến dẫu bình thường - Phải bằng cả bàn tay và nghị lực", hãy viết một đoạn văn khoảng 200 chữ trình bày suy nghĩ của anh/chị về vai trò của nghị lực trong cuộc sống.

Gợi ý

Nghị lực giống như những nấc thang, đưa ta đến gần hơn với đỉnh cao của thành công. Không có nghị lực, thầy Kí sao có thể viết được bằng chân và trở thành thầy giáo? Không có nghị lực, Bác có dám tay không sang Pháp tìm đường cứu nước? Không có nghị lực, anh Nguyễn Công Hùng khuyết tật bốn chi vẫn trở thành hiệp sĩ công nghệ thông tin? Nghị lực sống làm nên giá trị con người, khẳng định vị thế của con người. Người càng giàu nghị lực, càng có được cuộc sống tốt đẹp, ý nghĩa và được xã hội ghi nhận. Người không có nghị lực, sẽ rất khó có được thành quả lớn lao. Vì vậy, dù trong nghịch cảnh, con người có thể đánh mất tất cả, nhưng còn nghị lực thì còn tất cả.

2. Đề số 2

Đọc đoạn thơ sau:

Không có gì tự đến đâu con

Quả muốn ngọt phải tháng ngày tích nhựa

Hoa sẽ thơm khi trải qua nắng lửa

Mùa bội thu trải một nắng hai sương.

Không có gì tự đến, dẫu bình thường

Phải bằng cả đôi tay và nghị lực.

Như con chim suốt ngày chọn hạt

Năm tháng bao dung nhưng khắc nghiệt lạ kỳ.

(Không có gì tự đến đâu con - Nguyễn Đăng Tấn)

Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ và xác định biện pháp tu từ và nêu tác dụng

Câu 2: Em cảm nhận gì về tấm lòng của cha mẹ

Câu 3: Em hiểu như thế nào về câu thơ: Quả muốn ngọt phải tháng ngày tích nhựa?

Câu 4: Em có cảm nhận gì về nỗi lòng của cha mẹ được gửi gắm qua đoạn thơ?

Câu 5: Bài học rút ra từ lời dặn của cha

Câu 6: Lời dặn của cha

Câu 7: Nghị luận về nghị lực của con người trong cuộc sống (Từ 5 đến 7 câu).

Gợi ý

Câu 1: Phương thức biểu đạt chính: biểu cảm

Biện pháp tu từ :

+ Điệp ngữ: Không có gì tự đến

=> Nhấn mạnh một chân lí phải trả qua bao nhiêu khổ cực, khó khăn thì chúng ta mới gặp hái được thành công trong cuộc sống .

+ Nhân hóa: Con chim chọn hạt.

=> Làm sinh động hình ảnh chú chim cần ,mẫn , kiên trì

Câu 2: Tâm lòng của cha mẹ luôn bao dung đối với những đứa con, cha mẹ luôn mang đến cho chúng ta những gì tốt nhất. Cha mẹ dạy ta nhiều thứ, dạy ta cách ăn, cách nói và quan trọng nhất là cách làm người. Cha mẹ mong con sẽ sống thật tốt và có ý nghĩa.

Câu 3: Quả muốn ngọt phải tháng ngày tích nhựa.

=> Quả không ngọt ngay từ lúc tạo thành mà nó phải ngày ngày cố gắng tích nhựa, tích góp những gì tinh túy nhất vào trong nó để tạo ra hương vị ngọt ngào đặc sắc. Cũng giống như con người chúng ta phải trãi qua rất nhiều gian lao, khổ cực, phải trải qua nhiều thử thách thì mới thành công.

Câu 4: Nỗi lòng của cha mẹ được gửi gắm qua bài thơ, cha mẹ mong con:

+ Phải sống nghị lực, không được khuất phục trước khó khăn và bố mẹ đã dậy con một chân lí đúng đắn đó chính là "không có gì tự đến đâu con" nếu muốn thành công thì con phải trải qua nhiều gian khổ và phải tự biết hoàn thiện, rèn luyện bản thân hằng ngày. Cha mẹ mong muốn con nên người, sống thật tốt.

Câu 5: Bài học rút ra từ đoạn văn: Luôn phải kiên trì, mạnh mẽ, không được khuất phục trước khó khăn, thử thách và phải làm việc cực lực, dựa trên sức lực chính bản thân để thành công.

Câu 6: Lời dăn của cha: sẽ là hành trang cho con bước trên đường đời, đó sẽ là động lực để con cố gắng không ngừng.

Câu 7: Nghị lực - đức tính đáng quý và cần thiết trong xã hội hiện đại. Nghị lực là cố gắng, dũng cảm, không chịu khuất phục trước khó khăn, thử thách, người có tinh thần nghị lực sẽ được mọi người tôn trọng và quý mến. Nghị lực mang lại cho ta sự lạc quan trong cuộc sống, giúp ta cố gắng hàng ngày dù cuộc đời có khó khăn, gian lao, nghị lực giúp ta tìm ra được bản thân ta, giúp ta không khuất phục trước khó khăn, thử thách. Nghị lực còn là bàn đạp để chạm đến những đức tính khác như dũng cảm, tự tin, .. Người có nghị lực sẽ làm được tất cả, những trong cuộc sống hiện tại có nhiều người khuất phục trước khó khăn, họ nghĩ nghị lực chỉ mang lại những gì vô bổ và khiến họ hy vọng một cách mù quán, họ thật dáng trách. Con người chúng ta ai cũng cần có nghị lực vì chỉ khi ta có nghị lực ta mới vượt qua được khó khăn, thử thách để chạm đên thành công.

3. Đề số 3

Đọc đoạn trích:

Không có gì tự đến đâu con.
Quả muốn ngọt phải tháng ngày tích nhựa
Hoa sẽ thơm khi trải qua nắng lửa.
Mùa bội thu phải một nắng hai sương,
Không có gì tự đến dẫu bình thường.
Phải bằng cả bàn tay và nghị lực
Như con chim suốt ngày chọn hạt,
Năm tháng bao dung, khắc nghiệt lạ kỳ.
Dẫu bây giờ cha mẹ đôi khi,

Có nặng nhẹ yêu thương và giận dỗi.
Có roi vọt khi con hư và có lỗi
Thương yêu con, đâu đồng nghĩa với nuông chiều!
Đường con đi dài rộng biết bao nhiêu.
Năm tháng nụ xanh giữ cây vươn thẳng,
Trời xanh đó nhưng chẳng bao giờ lặng,
Chỉ có con mới nâng nổi chính mình

(Không có gì tự đến đâu con, Nguyễn Đăng Tấn, Lời ru vầng trăng,
NXB Lao Động, 2000, Tr 42)

Câu 1. Đoạn trích trên được viết theo thể thơ nào?

Câu 2. Chỉ ra những hình ảnh cho thấy “không có gì tự đến” trong đoạn thơ:

Không có gì tự đến đâu con.

Quả muốn ngọt phải tháng ngày tích nhựa

Hoa sẽ thơm khi trải qua nắng lửa.

Mùa bội thu phải một nắng hai sương

Câu 3. Nêu tác dụng của biện pháp tu từ so sánh được sử dụng trong đoạn thơ

Không có gì tự đến dẫu bình thường.

Phải bằng cả bàn tay và nghị lực

Như con chim suốt ngày chọn hạt

Câu 4. Nội dung những dòng thơ sau có ý nghĩa gì đối với anh/chị?

Đường con đi dài rộng biết bao nhiêu.

Năm tháng nụ xanh giữ cây vươn thẳng,

Trời cao đó nhưng chẳng bao giờ lặng

Đáp án

Câu 1. Không có gì tự đến đâu con được viết theo thể thơ tự do.

Câu 2.

Những hình ảnh cho thấy “không có gì tự đến” trong đoạn thơ:

Quả muốn ngọt phải tháng ngày tích nhựa

Hoa sẽ thơm khi trải qua nắng lửa.

Mùa bội thu phải một nắng hai sương

Câu 3

So sánh việc con người nỗ lực tự mình làm ra thành quả như con chim suốt ngày chọn hạt.

- Hiệu quả:

+ Quá trình chọn hạt của con chim tỉ mỉ, chăm chỉ, cần cù, nhẫn nại như quá trình làm ra thành quả của con người. Nó khó khăn nhọc nhằn đòi hỏi con người phải có sự kiên trì, nỗ lực mới tự mình tạo ra giá trị tốt đẹp cho cuộc đời.

+ Câu thơ sinh động, gợi hình, biểu cảm.

Câu 4

Đoạn thơ có ý nghĩa: Những năm tháng của tuổi trẻ còn rất dài rộng ở phía trước. Cuộc sống luôn có những lớp sóng ngầm. Khuyên con người biết lường trước, chấp nhận những khó khăn. Cần giữ cho lòng mình luôn trẻ trung, tràn đầy sức sống và sống có tự trọng, kiêu hãnh làm người; bản lĩnh, nỗ lực vươn lên trong cuộc sống

4. Đề số 4

Đọc đoạn thơ sau:

Không có gì tự đến đâu con

Quả muốn ngọt phải tháng ngày tích nhựa

Hoa sẽ thơm khi trải qua nắng lửa

Mùa bội thu trải một nắng hai sương.

Không có gì tự đến, dẫu bình thường

Phải bằng cả đôi tay và nghị lực.

Như con chim suốt ngày chọn hạt

Năm tháng bao dung nhưng khắc nghiệt lạ kỳ.

(Không có gì tự đến đâu con - Nguyễn Đăng Tấn)

Thực hiện các yêu cầu:

Câu 1 (0,5 điểm). Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ.

Câu 2 (0,5 điểm). Chỉ ra biện pháp tu từ so sánh được sử dụng trong đoạn thơ.

Câu 3 (1,0 điểm). Em hiểu như thế nào về câu thơ: Quả muốn ngọt phải tháng ngày tích nhựa?

Câu 4 (1,0 điểm). Em có cảm nhận gì về nỗi lòng của cha mẹ được gửi gắm qua đoạn thơ?

Gợi ý

Câu 1. Phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm

Câu 2. biện pháp tu từ so sánh: "Như con chim suốt ngày chọn hạt "

Câu 3.. Muốn có được quả ngon, ngọt thì cần phải trải qua những ngày tháng vất cả, chăm sóc cây mới có được thành quả. Ở đây muốn nói đến sự kiên trì và quyết tâm.

Câu 4.

Qua những lời thơ nhẹ nhàng như một bài hát du dương, gợn chạm vào tâm hồn người đọc để qua đó cũng là những lời răn dạy con, nhẹ nhàng và sâu lắng của cha mẹ.

III. Phân tích Không có gì tự đến đâu con

Dàn ý

I. Mở bài

- Nguyễn Đăng Tấn là một nhà báo, một nhà thơ với phong cách thơ bình dị nhưng giàu chất triết lí, thể hiện những suy ngẫm, trăn trở về tình yêu thương, về lẽ sống của con người.

- Bài thơ “Không có gì tự đến đâu con”, được nhà thơ Nguyễn Đăng Tấn viết tặng con là Nguyễn Đăng Tiến vào khoảng năm 1995, khi Tiến đang học lớp 3. Bài thơ được in trong tập thơ “Lời ru vầng trăng”, xuất bản năm 2000. Bài thơ là lời tâm tình, nhắn nhủ của người cha dạy con phải biết tự mình nỗ lực vươn lên, dũng cảm đối diện với khó khăn, thử thách để đạt được mục tiêu của mình.

II. Thân bài

Tập trung phân tích nội dung và nghệ thuật của bài thơ.

- Nội dung:

Luận điểm 1: Bài thơ “Không có gì tự đến đâu con” là lời tâm tình, nhắn nhủ của người cha với đứa con yêu thương của mình.

- Cha nói với con về quy luật của tự nhiên và quy luật khách quan của cuộc sống: Mọi thành quả không tự nhiên mà có, các sự vật trong tự nhiên phải trải qua thử thách khắc nghiệt cũng như con người phải có ý chí nghị lực, sự kiên trì mới dành được những điều tốt đẹp.

+ Điệp ngữ “Không có gì tự đến” xuất hiện nhiều lần ở đầu các khổ thơ, nhấn mạnh và khắc sâu tư tưởng xuyên suốt toàn bài. Mọi việc trên đời đều có nhân quả, lý do riêng của nó.

+ Tác giả dùng lối điệp cấu trúc câu, mỗi câu thơ đậm tính triết lý gồm hai vế: Vế trước là kết quả, mục đích, vế sau là nguyên nhân. Để có mùa màng bội thu “quả muốn ngọt”, “hoa sẽ thơm”, “mùa bội thu” … con người phải trải qua bao vất vả, một nắng hai sương. Điệp từ “trải”, hình ảnh biểu tượng “nắng lửa” nhấn mạnh những khó khăn, khắc nghiệt mà thế giới tự nhiên hay con người phải trải qua. (HS lấy dẫn chứng).

+ Để thành công, dẫu chỉ là công việc bình thường, con người cũng phải đánh đổi bằng sức lao động và nỗ lực của bản thân. Phép so sánh giàu sức gợi hình, gợi cảm “Như con chim suốt ngày chọn hạt” cụ thể hóa sự cần mẫn, tỉ mỉ của loài chim. Từ đó, người cha khuyên con cũng phải có sự chăm chỉ, kiên trì như vậy mới đạt thành quả. Với nghệ thuật nhân hóa, nhà thơ thể hiện cách nhìn đa chiều “Năm tháng bao dung nhưng khắc nghiệt lạ kỳ”, cuộc sống vốn bao dung nhưng cũng chứa đầy thử thách (HS lấy dẫn chứng).

- Cha nói với con về tình cảm gia đình, mong con hiểu được tâm tình của cha mẹ.

+ Độ tuổi của con còn thơ trẻ, hồn nhiên, có lúc còn ham chơi “hư và dối”, chưa hiểu hết được những qui luật của cuộc sống. Vì thế, bổn phận người làm cha mẹ phải biết linh hoạt, cương nhu trong uốn nắn, dạy bảo con:

“nặng nhẹ”, “yêu thương”, “roi vọt” …

+ Cha mẹ tin rằng con sẽ hiểu được tấm lòng và tình yêu thương của cha mẹ. Cha yêu thương con, là chỗ dựa vững chắc cho con nhưng không nuông chiều. (HS lấy dẫn chứng).

- Cha nhắn nhủ: con hãy giữ vững tinh thần, ý chí và nghị lực, hãy luôn tin vào bản thân mình và không ngừng nỗ lực vươn lên.

+ Cha vạch rõ con đường phía trước của con “dài rộng rất nhiều” nhưng điều quan trọng là con phải biết “giữ cây vươn thẳng”, tự giác và nghiêm khắc với bản thân. Các hình ảnh ẩn dụ “Đường con đi dài rộng”, “năm tháng nụ xanh giữ cây vươn thẳng”, ‘Trời xanh chẳng bao giờ lặng” nhằm khẳng định đường đời lắm gian nan, con phải có ý chí, bản lĩnh, không được cúi đầu trước khó khăn, cám dỗ của cuộc đời. Ý thơ là lời răn dạy: Không ai có thể sống thay con, chỉ có con mới quyết định được tương lai cuộc đời của mình.

+ Khổ thơ cuối đặc biệt bởi chỉ có một dòng thơ ngắn kết hợp dấu gạch ngang gợi suy ngẫm về những điều cha dạy mà con cần khắc cốt ghi tâm. Từ láy “đinh ninh” như một lời trao gửi thiêng liêng của thế hệ cha anh, nhẹ nhàng mà vô cùng sâu sắc, thấm thía. (HS lấy dẫn chứng).

=> Qua bài thơ người đọc cảm nhận được tình yêu thương con sâu nặng của người cha, sự trân trọng, tin yêu của nhà thơ vào tình cảm gia đình- một tình cảm thiêng liêng, cao đẹp.

* Luận điểm 2: Bài thơ “Không có gì tự đến đâu con” của Nguyễn Đăng Tấn còn được thể hiện qua hình thức nghệ thuật đặc sắc.

+ Sử dụng thể thơ tự do phù hợp với việc diễn tả những lời thủ thỉ, tâm tình và dặn dò thiết tha, sâu lắng của người cha dành cho con.

+Hình ảnh bình dị, gần gũi nhưng giàu ý nghĩa biểu tượng, mang tính khái quát cao, phù hợp những suy tư, cách nhìn có chiều sâu về cuộc sống của người cha.

+ Ngôn ngữ trong sáng, biểu cảm, giọng điệu tha thiết, sâu lắng nhưng trang nghiêm, tự hào ...

+ Các phép tu từ ẩn dụ, so sánh, nhân hóa, điệp ngữ… được sử dụng khéo léo, phát huy hiệu quả trong diễn đạt.

III. Kết bài

- Khẳng định lại giá trị của đoạn thơ.

- Cảm xúc hoặc lời nhắn gửi tới mọi người.

Bài làm

Bài thơ “Không có gì tự đến đâu con”, được nhà thơ Nguyễn Đăng Tấn viết tặng con là Nguyễn Đăng Tiến vào khoảng năm 1995, khi Tiến đang học lớp 3. Bài thơ được in trong tập thơ “Lời ru Vầng trăng”, xuất bản năm 2000. Những lời thơ thắm đượm tình phụ tử sâu nặng đã khái quát nên những bài học minh triết về cuộc sống làm xúc động lòng người.

Thơ của Nguyễn Đăng Tấn thường là những dòng cảm xúc chân thành về những gì diễn ra trong đời sống thường ngày. Gia đình là chiếc nôi, nơi bồi dưỡng nhân cách, đạo đức cho đứa con trước tiên. Bởi vậy, khuyên dạy con trai, ông như người đi trước tâm sự với người đi sau những bước đi trên con đường đời vốn lắm đèo dốc và thác ghềnh ở thời điểm đứa con bước đầu biết cảm nhận về cuộc sống. Mở đầu là những câu:

“Không có gì tự đến đâu con.

Quả muốn ngọt phải tháng ngày tích nhựa

Hoa sẽ thơm khi trải qua nắng lửa.

Mùa bội thu phải một nắng hai sương”.

Câu thơ đầu nhắc lại nhan đề của bài, điệp ngữ “Không có gì tự đến” xuất hiện nhiều lần ở đầu các khổ thơ, nhấn mạnh và khắc sâu tư tưởng xuyên suốt toàn bài. Mọi việc trên đời đều có nhân quả, lý do riêng của nó.

Những câu thơ tiếp là các dẫn chứng minh họa, cũng là lời nhận xét khách quan về quy luật cuộc sống.

Tác giả dùng lối diễn đạt điệp cấu trúc câu, mỗi câu thơ đậm tính triết lý đều gồm hai vế. Vế trước là kết quả, mục đích, vế sau là nguyên nhân. Dù là thiên nhiên hay con người, một khi hướng tới mục tiêu đạt được: Quả muốn ngọt, hoa sẽ thơm, mùa bội thu đều phải có sự trả giá. Còn vế sau là cách thức, phương tiện đạt tới. Cây có tích nhựa đủ mới tạo nên quả ngọt. Hoa có trải qua “nắng lửa” mới có được hương thơm. Để có mùa màng bội thu, con người phải trải qua vất vả nhiều ngày một nắng hai sương.

Quy luật tất yếu đó ở đời không phải ai cũng hiểu. Để thành công, dẫu chỉ là công việc bình thường, con người cũng phải đánh đổi bằng sức lao động và nỗ lực của bản thân: “Phải bằng cả bàn tay và nghị lực”, chăm chỉ cần cù như kiến tha mồi mới dần xây được tổ, ong hút nhụy từ nhiều hoa mới làm nên mật.

Trong bài, tác giả so sánh: “Như con chim suốt ngày chọn hạt” để tích tiểu thành đại, góp nhỏ thành lớn. Phép so sánh giàu gợi hình, gợi cảm này nhằm cụ thể hóa ý nghĩa sự cần mẫn, tỉ mỉ của loài chim. Từ đó, người cha khuyên con trai cũng phải có sự chăm chỉ, kiên trì như vậy mới đạt thành quả.

Bên cạnh đó, nghệ thuật nhân hóa chứng tỏ nhà thơ có cách nhìn đa chiều “Năm tháng bao dung khắc nghiệt lạ kỳ”. Cuộc sống vốn bao dung nhưng cũng đầy thử thách, đúng như ông cha xưa từng dạy: “Có làm thì mới có ăn/Không dưng ai dễ mang phần đến cho”.

Đứa con độ tuổi còn thơ trẻ, hồn nhiên, chưa hiểu được điều ấy, có lúc còn ham chơi. Bổn phận người làm cha mẹ phải biết linh hoạt cương nhu trong uốn nắn, dạy bảo con:

“Có nặng nhẹ yêu thương và giận dỗi

Có roi vọt khi con hư và có lỗi”.

Sự nghiêm khắc và mềm mỏng hợp lý của cha mẹ khiến người con dần lớn khôn. Khổ thơ áp cuối người cha vạch rõ con đường phía trước của con “dài rộng biết bao nhiêu…”, điều quan trọng là con phải biết “giữ cây vươn thẳng”, tự giác và nghiêm khắc với bản thân. Cuộc sống vốn không dễ dàng:

“Trời cao đó nhưng chẳng bao giờ lặng,

Chỉ có con mới nâng nổi chính mình”.

Hai câu thơ vừa là lời dạy, vừa là cha giao trách nhiệm cho con: Không ai có thể sống thay con, chỉ có con mới quyết định được tương lai cuộc đời của mình. Khổ thơ kết chốt lại cô đọng chỉ bằng một dòng gồm hai câu thơ ngắn, dạng câu đặc biệt, người cha muốn con hãy khắc cốt ghi tâm: “Chẳng có gì tự đến… Hãy đinh ninh”. Lời răn dạy đó nhẹ nhàng mà vô cùng sâu sắc.

Theo nhà thơ, nền tảng gia đình có vai trò rất quan trọng trong việc dạy dỗ để hình thành nhân cách con cái. Những bài thơ ông viết cho con, cũng là để viết cho chính mình, tự khuyên mình.

Tính đến nay, gần ba mươi năm đã đi qua kể từ khi bài thơ ra đời nhưng lời khuyên của nhà thơ vẫn còn những giá trị sâu sắc. Nhà thơ đã nói hộ bao người làm cha lời dạy chí tình, chí nghĩa rất hữu ích với các con của mình, với lớp trẻ hôm nay và cả mai sau.

1 75,944 01/04/2025


Xem thêm các chương trình khác: