Cơ quan nào có thẩm quyền quản lý, sử dụng rừng đặc dụng hay không?
Cơ quan nào có thẩm quyền quản lý, sử dụng rừng đặc dụng hay không?

1. Cơ quan nào có thẩm quyền quản lý, sử dụng rừng đặc dụng hay không?

Từ quy định tại Luật Lâm nghiệp 2017 và các văn bản hướng dẫn thi hành, thẩm quyền quản lý, sử dụng rừng đặc dụng được phân cấp cụ thể như sau:

  • Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) là cơ quan có thẩm quyền quản lý rừng đặc dụng cấp quốc gia. Bộ trực tiếp quản lý các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên có giá trị tiêu biểu về đa dạng sinh học, quốc phòng hoặc khoa học, đồng thời chỉ đạo, hướng dẫn chuyên môn cho các địa phương trong bảo vệ và phát triển rừng đặc dụng.
  • UBND cấp tỉnh có thẩm quyền giao, cho thuê, thu hồi rừng đặc dụng nằm trong địa giới hành chính của mình. UBND tỉnh cũng là cơ quan quyết định thành lập các Ban quản lý rừng đặc dụng địa phương, tổ chức lập, điều chỉnh và phê duyệt quy hoạch rừng, giám sát việc thực hiện các kế hoạch bảo tồn trên địa bàn.
  • Ban quản lý rừng đặc dụng là tổ chức trực tiếp thực hiện việc quản lý, bảo vệ, khai thác hợp lý các giá trị của rừng đặc dụng. Đây thường là các đơn vị sự nghiệp công lập do Nhà nước thành lập, hoạt động theo chức năng bảo tồn sinh thái, giáo dục môi trường, nghiên cứu khoa học, và phát triển du lịch sinh thái dưới sự kiểm soát của Nhà nước.

Như vậy, rừng đặc dụng luôn được Nhà nước giao cho cơ quan hoặc tổ chức đủ điều kiện quản lý, sử dụng hợp pháp, nhằm bảo đảm mục tiêu bảo vệ hệ sinh thái tự nhiên và đa dạng sinh học quý hiếm.

2. Rừng là gì?

Theo khoản 3 Điều 2 Luật Lâm nghiệp 2017, Rừng là một hệ sinh thái bao gồm các loài thực vật rừng, động vật rừng, nấm, vi sinh vật, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó thành phần chính là một hoặc một số loài cây thân gỗ, tre, nứa, cây họ cau có chiều cao được xác định theo hệ thực vật trên núi đất, núi đá, đất ngập nước, đất cát hoặc hệ thực vật đặc trưng khác; diện tích liên vùng từ 0,3 ha trở lên; độ tàn che từ 0,1 trở lên.

Về vai trò của rừng: Rừng có vai trò rất quan trọng đối với cuộc sống của con người cũng như môi trường: cung cấp nguồn gỗ, củi, điều hòa, tạo ra oxy, điều hòa nước, là nơi cư trú động thực vật và tàng trữ các nguồn gen quý hiếm, bảo vệ và ngăn chặn gió bão, chống xói mòn đất, đảm bảo cho sự sống, bảo vệ sức khỏe của con người…

Cụ thể các vai trò của rừng như sau:

  • Rừng giữ không khí trong lành: Do chức năng quang hợp của cây xanh, rừng là một nhà máy sinh học tự nhiên thường xuyên thu nhận CO2 và cung cấp O2.. Đặc biệt ngày nay khi hiện tượng nóng dần lên của trái đất do hiệu ứng nhà kính, vai trò của rừng trong việc giảm lượng khí CO2 là rất quan trọng.
  • Rừng điều tiết nước, phòng chống lũ lụt, xói mòn: Rừng có vai trò điều hòa nguồn nước giảm dòng chảy bề mặt chuyển nó vào lượng nước ngấm xuống đất và vào tầng nước ngầm. Khắc phục được xói mòn đất, hạn chế lắng đọng lòng sông, lòng hồ, điều hòa được dòng chảy của các con sông, con suối (tăng lượng nước sông, nước suối vào mùa khô, giảm lượng nước sông suối vào mùa mưa).
  • Rừng bảo vệ độ phì nhiêu và bồi dưỡng tiềm năng của đất: ở vùng có đủ rừng thì dòng chảy bị chế ngự, ngăn chặn được nạn bào mòn, nhất là trên đồi núi dốc tác dụng ấy có hiệu quả lớn, nên lớp đất mặt không bị mỏng, mọi đặc tính lý hóa và vi sinh vật học của đất không bị phá hủy, độ phì nhiêu được duy trì. Rừng lại liên tục tạo chất hữu cơ. Điều này thể hiện ở qui luật phổ biến: rừng tốt tạo ra đất tốt, và đất tốt nuôi lại rừng tốt.

3. Phân loại rừng theo Luật Lâm nghiệp 2017

Theo Điều 5 Luật Lâm nghiệp 2017, căn cứ vào mục đích sử dụng chủ yếu, rừng tự nhiên và rừng trồng được phân thành 03 loại chính gồm: rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất. Cụ thể:

  • Rừng đặc dụng: được sử dụng chủ yếu để bảo tồn hệ sinh thái rừng tự nhiên, nguồn gen sinh vật, phục vụ nghiên cứu khoa học, giáo dục môi trường, bảo tồn di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh và phát triển du lịch sinh thái. Các loại hình rừng đặc dụng bao gồm: vườn quốc gia, khu dự trữ thiên nhiên, khu bảo tồn loài – sinh cảnh, khu bảo vệ cảnh quan (như rừng di tích lịch sử – văn hóa, rừng tín ngưỡng, rừng bảo vệ môi trường đô thị...), khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học, vườn thực vật quốc gia, rừng giống quốc gia.
  • Rừng phòng hộ: có chức năng chính là bảo vệ đất, nguồn nước, hạn chế xói mòn, sạt lở, thiên tai, điều hòa khí hậu và góp phần bảo vệ quốc phòng – an ninh. Rừng phòng hộ được phân loại theo mức độ xung yếu gồm: rừng đầu nguồn, rừng bảo vệ nguồn nước của cộng đồng dân cư, rừng phòng hộ biên giới, rừng chắn gió – cát bay, rừng chắn sóng – lấn biển.
  • Rừng sản xuất: được sử dụng chủ yếu để cung cấp lâm sản, phục vụ sản xuất – kinh doanh lâm, nông, ngư nghiệp kết hợp; du lịch sinh thái và cung ứng dịch vụ môi trường rừng.

Ba loại rừng trên đóng vai trò khác nhau nhưng đều quan trọng trong phát triển kinh tế bền vững, bảo vệ môi trường và an ninh sinh thái quốc gia.

Rừng – Wikipedia tiếng Việt

Phân loại rừng theo Luật Lâm nghiệp 2017

4. Danh mục thực vật rừng, động vật, rừng nguy cấp, quý, hiếm mới nhất 2025

Theo Nghị định 64/2019/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung đến năm 2025

Bảng 1: Nhóm I - Loài nguy cấp, quý, hiếm nghiêm cấm khai thác, sử dụng

STT

Tên loài

Tên khoa học

Nhóm

1

Trai tai tượng lớn

Pinctada maxima

Thực vật rừng - Nhóm IA

2

Gỗ trắc

Dalbergia cochinchinensis

Thực vật rừng - Nhóm IA

3

Voi châu Á

Elephas maximus

Động vật rừng - Nhóm IB

4

Hổ

Panthera tigris

Động vật rừng - Nhóm IB

Bảng 2: Nhóm II - Loài hạn chế khai thác, sử dụng

STT

Tên loài

Tên khoa học

Nhóm

1

Gỗ pơ mu

Fokienia hodginsii

Thực vật rừng - Nhóm IIA

2

Gỗ nghiến

Burretiodendron hsienmu

Thực vật rừng - Nhóm IIA

3

Tê tê Java

Manis javanica

Động vật rừng - Nhóm IIB

4

Voọc chà vá chân nâu

Pygathrix nemaeus

Động vật rừng - Nhóm IIB

5. Quy định về việc sử dụng rừng đặc dụng theo Luật Lâm nghiệp 2017

Theo quy định tại Điều 52 Luật Lâm nghiệp 2017, việc khai thác, sử dụng lâm sản trong rừng đặc dụng phải thực hiện theo nguyên tắc thận trọng, đúng mục đích bảo tồn và đảm bảo được sự phê duyệt của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Cụ thể:

  • Đối với vườn quốc gia, khu dự trữ thiên nhiên, khu bảo tồn loài – sinh cảnh:
    • Không được phép khai thác lâm sản trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt;
    • Không được tận thu cây gỗ chết, cây gãy đổ trong phân khu phục hồi sinh thái;
    • Được tận thu cây gỗ chết, cây gãy đổ, nấm trong phân khu dịch vụ – hành chính;
    • Được khai thác tận dụng lâm sản trong phạm vi giải phóng mặt bằng phục vụ xây dựng công trình đã được phê duyệt;
    • Được thu thập mẫu vật thực vật, động vật rừng, nấm, nguồn gen khi phục vụ nhiệm vụ khoa học được cấp phép.
  • Đối với khu rừng bảo vệ cảnh quan (bao gồm rừng lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh, rừng tín ngưỡng…):
    • Được khai thác tận dụng lâm sản trong quá trình bảo tồn, tôn tạo, phục hồi hệ sinh thái hoặc trong khu vực giải phóng mặt bằng đã được phê duyệt;
    • Được thu thập mẫu vật cho mục đích khoa học, bảo tồn;
    • Riêng rừng tín ngưỡng, cộng đồng được khai thác cây chết, gãy đổ, lâm sản ngoài gỗ, thậm chí khai thác gỗ cho mục đích cộng đồng nếu được cấp có thẩm quyền chấp thuận.
  • Đối với khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học:
    • Được khai thác lâm sản phục vụ nhiệm vụ nghiên cứu đã được duyệt;
    • Được khai thác tận dụng trong quá trình điều chỉnh tổ thành rừng, nuôi dưỡng rừng hoặc áp dụng biện pháp lâm sinh;
    • Được thu thập mẫu vật động – thực vật, vi sinh vật, nguồn gen để phục vụ nghiên cứu và phát triển công nghệ.
  • Đối với vườn thực vật quốc gia, rừng giống quốc gia:
    • Được khai thác vật liệu giống theo kế hoạch;
    • Được tận dụng lâm sản ngoài gỗ, gỗ chết, cây gãy đổ và thực vật trong quá trình chăm sóc, điều chỉnh tổ thành rừng hoặc xây dựng công trình được phê duyệt.

Như vậy, việc sử dụng rừng đặc dụng được phân loại cụ thể theo chức năng từng loại rừng và yêu cầu phải có sự phê duyệt của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhằm đảm bảo mục tiêu bảo tồn lâu dài tài nguyên rừng và đa dạng sinh học.

6. Ban quản lý rừng đặc dụng có nghĩa vụ lập và trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt phương án quản lý rừng bền vững không?

Ban quản lý rừng đặc dụng có nghĩa vụ được quy định tại khoản 2 Điều 75 Luật Lâm nghiệp 2017 như sau:

Quyền và nghĩa vụ của ban quản lý rừng đặc dụng

...

2. Ban quản lý rừng đặc dụng có nghĩa vụ sau đây:

a) Các nghĩa vụ quy định tại Điều 74 của Luật này;

b) Lập và trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt phương án quản lý rừng bền vững và thực hiện phương án đã được phê duyệt;

c) Hỗ trợ cộng đồng dân cư trong vùng đệm ổn định đời sống, phát triển kinh tế - xã hội theo quy định tại Điều 54 của Luật này;

d) Khoán bảo vệ và phát triển rừng cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư tại chỗ theo quy định của Chính phủ.

Như vậy, ban quản lý rừng đặc dụng có nghĩa vụ lập và trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt phương án quản lý rừng bền vững và thực hiện phương án đã được phê duyệt.

7. Những câu hỏi thường gặp

7.1. Rừng được Nhà nước giao cho cộng đồng dân cư quản lý có được phép khai thác không? Nếu có thì trong phạm vi nào?

Theo Điều 99 và Điều 110 Luật Lâm nghiệp 2017, cộng đồng dân cư được Nhà nước giao rừng có quyền quản lý, sử dụng rừng gắn liền với phong tục, tập quán, tín ngưỡng, đời sống văn hóa. Tuy nhiên, việc khai thác lâm sản phải tuân thủ quy hoạch, kế hoạch được phê duyệt và không làm ảnh hưởng đến chức năng chính của rừng.

  • Đối với rừng sản xuất, cộng đồng được phép khai thác lâm sản với quy mô nhỏ để đáp ứng nhu cầu thiết yếu.
  • Đối với rừng đặc dụng hay rừng phòng hộ, việc khai thác phải được sự cho phép của cơ quan có thẩm quyền và không vi phạm phân khu bảo vệ nghiêm ngặt.

Như vậy, quyền khai thác của cộng đồng là có giới hạn, vừa đảm bảo sinh kế, vừa phải bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên rừng.

Khu rừng tự sát Aokigahara và những câu chuyện rùng rợn

Rừng được Nhà nước giao cho cộng đồng dân cư quản lý có được phép khai thác không? Nếu có thì trong phạm vi nào?

7.2. Một cá nhân có được tự ý trồng rừng đặc dụng trên đất của mình không?

Luật Lâm nghiệp không cấm cá nhân trồng rừng với mục đích bảo tồn, nhưng khái niệm “rừng đặc dụng” chỉ được xác lập bởi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy hoạch và tiêu chí cụ thể tại Điều 5 và Điều 16 Luật Lâm nghiệp 2017.
Nói cách khác, một cá nhân không có quyền tự ý trồng và tuyên bố diện tích rừng của mình là rừng đặc dụng. Nếu muốn đưa diện tích này vào hệ thống rừng đặc dụng quốc gia, phải trải qua quy trình đánh giá, lập hồ sơ khoa học và được phê duyệt bởi Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hoặc UBND cấp tỉnh.
Do đó, hành vi tự gắn danh nghĩa “rừng đặc dụng” là không đúng quy định pháp luật, dù ý định bảo tồn là tích cực.