Cây công nghiệp lâu năm là loại cây gì? Loại cây lâu năm nào được chứng nhận quyền sở hữu?
Cây công nghiệp lâu năm là loại cây gì? Loại cây lâu năm nào được chứng nhận quyền sở hữu?

1. Cây công nghiệp lâu năm là loại cây gì?

Theo quy định tại khoản 4 Điều 3 của Thông tư liên tịch số 22/2016/TTLT-BNNPTNT-BTNMT, cây công nghiệp lâu năm được định nghĩa như sau:

Cây công nghiệp lâu năm là những loại cây trồng chỉ cần gieo trồng một lần nhưng có khả năng sinh trưởng và cho thu hoạch trong nhiều năm liên tiếp. Những cây này sản xuất ra sản phẩm được sử dụng trực tiếp trong ngành công nghiệp hoặc cần trải qua quá trình chế biến để trở thành nguyên liệu cho sản xuất. Ví dụ điển hình bao gồm cây cao su, cacao, cà phê, chè, điều và hồ tiêu. Những cây công nghiệp lâu năm không chỉ đóng góp vào nền kinh tế qua việc cung cấp nguyên liệu quý giá cho ngành công nghiệp mà còn góp phần vào sự ổn định sinh kế của người nông dân và bảo vệ môi trường.

2. Loại cây lâu năm nào được chứng nhận quyền sở hữu?

Tại Điều 4 Thông tư liên tịch 22/2016/TTLT-BNNPTNT-BTNMT có quy định cụ thể loại cây lâu năm được chứng nhận quyền sở hữu như sau:

Quy định cụ thể loại cây lâu năm được chứng nhận quyền sở hữu

1. Loại cây lâu năm được chứng nhận quyền sở hữu gồm:

a) Cây công nghiệp lâu năm;

b) Cây ăn quả lâu năm;

c) Cây dược liệu lâu năm;

d) Cây lấy gỗ, cây bóng mát và cây cảnh quan lâu năm.

2. Cây lâu năm được chứng nhận quyền sở hữu phải có các đặc tính như sau:

a) Cây gieo trồng một lần, cho thu hoạch sản phẩm (mà thân chính vẫn giữ nguyên) hoặc sử dụng làm cây lấy gỗ, cây cảnh quan, cây bóng mát, có thời gian sinh trưởng từ khi gieo trồng đến khi thanh lý trên năm (05) năm:

b) Thuộc một trong các nhóm cây sau: cây thân gỗ, cây thân bụi hoặc cây thân leo.

Các loại cây lâu năm được công nhận quyền sở hữu bao gồm nhiều nhóm khác nhau, mỗi nhóm đều có giá trị và ứng dụng riêng trong nền kinh tế và đời sống. Cụ thể:

  • Cây công nghiệp lâu năm: Đây là những cây trồng cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp và yêu cầu thời gian dài để thu hoạch, như cây cao su, ca cao, cà phê, chè, điều và hồ tiêu.
  • Cây ăn quả lâu năm: Các loại cây này sản xuất trái cây có giá trị dinh dưỡng và kinh tế cao, ví dụ như cây xoài, cam, bưởi và vải, với khả năng cho quả trong nhiều năm.
  • Cây dược liệu lâu năm: Đây là các cây được trồng chủ yếu để thu hoạch các bộ phận dùng trong y học, bao gồm các loại như cây nhân sâm, cây đương quy và cây bạch chỉ.
  • Cây lấy gỗ, cây bóng mát và cây cảnh quan lâu năm: Nhóm cây này bao gồm các loài cây được trồng để thu hoạch gỗ, tạo bóng mát hoặc trang trí cảnh quan, như cây thông, cây dẻ và cây sồi.

Việc chứng nhận quyền sở hữu các loại cây lâu năm này không chỉ giúp bảo vệ quyền lợi của người trồng mà còn hỗ trợ việc quản lý và phát triển bền vững các nguồn tài nguyên cây xanh trong môi trường sống và sản xuất.

Cây công nghiệp lâu năm là loại cây gì? Loại cây lâu năm nào được chứng nhận quyền sở hữu?

3. Loại giấy tờ nào chứng nhận quyền sở hữu cây lâu năm?

Theo Điều 34 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP, việc chứng nhận quyền sở hữu cây lâu năm được quy định cụ thể qua các loại giấy tờ sau đây:

  • Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Bao gồm giấy chứng nhận hoặc các giấy tờ tương đương được quy định tại Điều 100 của Luật Đất đai 2013 và Điều 18 của Nghị định 43/2014/NĐ-CP. Những giấy tờ này phải xác nhận rằng Nhà nước đã giao đất, cho thuê đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất để trồng cây lâu năm, phù hợp với mục đích sử dụng đất ghi trên giấy tờ đó.
  • Hợp đồng mua bán, tặng cho hoặc thừa kế: Đây là các văn bản đã được công chứng hoặc chứng thực, liên quan đến việc chuyển nhượng quyền sở hữu cây lâu năm. Các hợp đồng hoặc văn bản này phải tuân thủ quy định pháp luật.
  • Bản án, quyết định của Tòa án: Bao gồm bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân, hoặc các giấy tờ từ cơ quan nhà nước có thẩm quyền, liên quan đến việc giải quyết quyền sở hữu cây lâu năm và đã có hiệu lực pháp luật.
  • Xác nhận từ Văn phòng đăng ký đất đai: Trong trường hợp hộ gia đình, cá nhân, hoặc cộng đồng dân cư không có các giấy tờ theo quy định tại mục (1), (2), và (3), thì cần có xác nhận từ Văn phòng đăng ký đất đai về việc đáp ứng đủ điều kiện để được công nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai.
  • Quyết định đầu tư hoặc giấy phép đầu tư: Đối với các tổ chức trong nước, cần có quyết định phê duyệt dự án, quyết định đầu tư dự án, giấy chứng nhận đầu tư hoặc giấy phép đầu tư liên quan đến việc trồng cây lâu năm, theo quy định của pháp luật về đầu tư.
  • Văn bản thỏa thuận sử dụng đất: Khi chủ sở hữu cây lâu năm không phải là người sử dụng đất, ngoài các giấy tờ quy định tại các mục (1), (2), (3), (4), và (5), cần có văn bản thỏa thuận của người sử dụng đất, cho phép sử dụng đất để trồng cây lâu năm, đã được công chứng hoặc chứng thực theo quy định, kèm theo bản sao giấy tờ về quyền sử dụng đất theo pháp luật về đất đai.

Các quy định này nhằm đảm bảo rằng quyền sở hữu cây lâu năm được công nhận hợp pháp và rõ ràng, góp phần bảo vệ quyền lợi của người sở hữu cũng như quản lý tài nguyên cây trồng một cách hiệu quả.

4. Hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất trồng cây lâu năm là bao nhiêu?

Tại Điều 44 Nghị định 43/2014/NĐ-CP có quy định hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân như sau:

Hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân

Hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất là rừng trồng, đất nuôi trồng thủy sản và đất làm muối của mỗi hộ gia đình, cá nhân để sử dụng vào mục đích nông nghiệp được áp dụng đối với các hình thức nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất, xử lý nợ theo thỏa thuận trong hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, cụ thể như sau:

1. Đất trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thủy sản và đất làm muối:

a) Không quá 30 héc ta cho mỗi loại đất đối với các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thuộc khu vực Đông Nam bộ và khu vực đồng bằng sông Cửu Long;

b) Không quá 20 héc ta cho mỗi loại đất đối với các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương còn lại.

2. Đất trồng cây lâu năm:

a) Không quá 100 héc ta đối với các xã, phường, thị trấn ở đồng bằng;

b) Không quá 300 héc ta đối với các xã, phường, thị trấn ở trung du, miền núi.

3. Đất rừng sản xuất là rừng trồng:

a) Không quá 150 héc ta đối với các xã, phường, thị trấn ở đồng bằng;

b) Không quá 300 héc ta đối với các xã, phường, thị trấn ở trung du, miền núi.

Theo quy định hiện hành, hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất để trồng cây lâu năm được phân chia dựa trên đặc điểm địa lý của các khu vực như sau:

  • Đối với các xã, phường và thị trấn nằm ở khu vực đồng bằng, hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất trồng cây lâu năm không được vượt quá 100 héc ta. Quy định này nhằm đảm bảo việc quản lý và sử dụng đất đai trong các khu vực đồng bằng có mật độ dân cư cao và điều kiện canh tác thuận lợi.
  • Trong khi đó, tại các xã, phường và thị trấn thuộc khu vực trung du và miền núi, hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất cho mục đích trồng cây lâu năm có thể lên đến 300 héc ta. Điều này phản ánh nhu cầu sử dụng đất lớn hơn và điều kiện canh tác khác biệt trong các khu vực có địa hình phức tạp và diện tích đất nông nghiệp rộng hơn.

Những quy định này được thiết lập để cân đối việc sử dụng và quản lý đất đai một cách hợp lý, đồng thời tạo điều kiện cho sự phát triển nông nghiệp lâu năm phù hợp với đặc điểm từng vùng miền.

Cây công nghiệp lâu năm là loại cây gì? Loại cây lâu năm nào được chứng nhận quyền sở hữu?

5. Quy định về việc sử dụng rừng đặc dụng theo Luật Lâm nghiệp 2017

Theo quy định tại Điều 52 Luật Lâm nghiệp 2017, việc khai thác, sử dụng lâm sản trong rừng đặc dụng phải thực hiện theo nguyên tắc thận trọng, đúng mục đích bảo tồn và đảm bảo được sự phê duyệt của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Cụ thể:

  • Đối với vườn quốc gia, khu dự trữ thiên nhiên, khu bảo tồn loài – sinh cảnh:
    • Không được phép khai thác lâm sản trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt;
    • Không được tận thu cây gỗ chết, cây gãy đổ trong phân khu phục hồi sinh thái;
    • Được tận thu cây gỗ chết, cây gãy đổ, nấm trong phân khu dịch vụ – hành chính;
    • Được khai thác tận dụng lâm sản trong phạm vi giải phóng mặt bằng phục vụ xây dựng công trình đã được phê duyệt;
    • Được thu thập mẫu vật thực vật, động vật rừng, nấm, nguồn gen khi phục vụ nhiệm vụ khoa học được cấp phép.
  • Đối với khu rừng bảo vệ cảnh quan (bao gồm rừng lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh, rừng tín ngưỡng…):
    • Được khai thác tận dụng lâm sản trong quá trình bảo tồn, tôn tạo, phục hồi hệ sinh thái hoặc trong khu vực giải phóng mặt bằng đã được phê duyệt;
    • Được thu thập mẫu vật cho mục đích khoa học, bảo tồn;
    • Riêng rừng tín ngưỡng, cộng đồng được khai thác cây chết, gãy đổ, lâm sản ngoài gỗ, thậm chí khai thác gỗ cho mục đích cộng đồng nếu được cấp có thẩm quyền chấp thuận.
  • Đối với khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học:
    • Được khai thác lâm sản phục vụ nhiệm vụ nghiên cứu đã được duyệt;
    • Được khai thác tận dụng trong quá trình điều chỉnh tổ thành rừng, nuôi dưỡng rừng hoặc áp dụng biện pháp lâm sinh;
    • Được thu thập mẫu vật động – thực vật, vi sinh vật, nguồn gen để phục vụ nghiên cứu và phát triển công nghệ.
  • Đối với vườn thực vật quốc gia, rừng giống quốc gia:
    • Được khai thác vật liệu giống theo kế hoạch;
    • Được tận dụng lâm sản ngoài gỗ, gỗ chết, cây gãy đổ và thực vật trong quá trình chăm sóc, điều chỉnh tổ thành rừng hoặc xây dựng công trình được phê duyệt.

Như vậy, việc sử dụng rừng đặc dụng được phân loại cụ thể theo chức năng từng loại rừng và yêu cầu phải có sự phê duyệt của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhằm đảm bảo mục tiêu bảo tồn lâu dài tài nguyên rừng và đa dạng sinh học.

6. Ban quản lý rừng đặc dụng có nghĩa vụ lập và trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt phương án quản lý rừng bền vững không?

Ban quản lý rừng đặc dụng có nghĩa vụ được quy định tại khoản 2 Điều 75 Luật Lâm nghiệp 2017 như sau:

Quyền và nghĩa vụ của ban quản lý rừng đặc dụng

...

2. Ban quản lý rừng đặc dụng có nghĩa vụ sau đây:

a) Các nghĩa vụ quy định tại Điều 74 của Luật này;

b) Lập và trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt phương án quản lý rừng bền vững và thực hiện phương án đã được phê duyệt;

c) Hỗ trợ cộng đồng dân cư trong vùng đệm ổn định đời sống, phát triển kinh tế - xã hội theo quy định tại Điều 54 của Luật này;

d) Khoán bảo vệ và phát triển rừng cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư tại chỗ theo quy định của Chính phủ.

Như vậy, ban quản lý rừng đặc dụng có nghĩa vụ lập và trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt phương án quản lý rừng bền vững và thực hiện phương án đã được phê duyệt.

7. Những câu hỏi thường gặp

7.1. Rừng được Nhà nước giao cho cộng đồng dân cư quản lý có được phép khai thác không? Nếu có thì trong phạm vi nào?

Theo Điều 99 và Điều 110 Luật Lâm nghiệp 2017, cộng đồng dân cư được Nhà nước giao rừng có quyền quản lý, sử dụng rừng gắn liền với phong tục, tập quán, tín ngưỡng, đời sống văn hóa. Tuy nhiên, việc khai thác lâm sản phải tuân thủ quy hoạch, kế hoạch được phê duyệt và không làm ảnh hưởng đến chức năng chính của rừng.

  • Đối với rừng sản xuất, cộng đồng được phép khai thác lâm sản với quy mô nhỏ để đáp ứng nhu cầu thiết yếu.
  • Đối với rừng đặc dụng hay rừng phòng hộ, việc khai thác phải được sự cho phép của cơ quan có thẩm quyền và không vi phạm phân khu bảo vệ nghiêm ngặt.

Như vậy, quyền khai thác của cộng đồng là có giới hạn, vừa đảm bảo sinh kế, vừa phải bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên rừng.

Khu rừng tự sát Aokigahara và những câu chuyện rùng rợn

Rừng được Nhà nước giao cho cộng đồng dân cư quản lý có được phép khai thác không? Nếu có thì trong phạm vi nào?

7.2. Một cá nhân có được tự ý trồng rừng đặc dụng trên đất của mình không?

Luật Lâm nghiệp không cấm cá nhân trồng rừng với mục đích bảo tồn, nhưng khái niệm “rừng đặc dụng” chỉ được xác lập bởi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy hoạch và tiêu chí cụ thể tại Điều 5 và Điều 16 Luật Lâm nghiệp 2017.
Nói cách khác, một cá nhân không có quyền tự ý trồng và tuyên bố diện tích rừng của mình là rừng đặc dụng. Nếu muốn đưa diện tích này vào hệ thống rừng đặc dụng quốc gia, phải trải qua quy trình đánh giá, lập hồ sơ khoa học và được phê duyệt bởi Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hoặc UBND cấp tỉnh.
Do đó, hành vi tự gắn danh nghĩa “rừng đặc dụng” là không đúng quy định pháp luật, dù ý định bảo tồn là tích cực.