Đánh giá tác động môi trường sơ bộ là gì? Quy định về đánh giá tác động môi trường sơ bộ mới nhất 2025 Đánh giá tác động môi trường chiến lược là gì? Quy định về đánh giá tác động môi trường chiến lược mới nhất 2025 Sự cố môi trường là gì? Trách nhiệm phòng ngừa sự cố môi trường mới nhất 2025 quy định ra sao? Kế hoạch ứng phó sự cố môi trường là gì? Quy định thế nào? Ban hành, phê duyệt kế hoạch phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường ra sao mới nhất 2025?
Vi phạm quy định về công suất được phép khai thác

1. Quy đinh pháp luật về công suất được phép khai thác

Các quốc gia và khu vực thường có những quy định cụ thể về mức công suất tối đa mà một doanh nghiệp hoặc cá nhân được phép khai thác. Những quy định này có thể được đặt ra để bảo vệ môi trường, đảm bảo an toàn, hoặc kiểm soát sử dụng tài nguyên.

Lý Do Vi Phạm:

  • Tăng Năng Suất: Một số doanh nghiệp có thể vượt quá công suất cho phép để tăng sản lượng và lợi nhuận.
  • Thiếu Hiểu Biết: Có thể do không hiểu rõ hoặc không tuân thủ các quy định hiện hành.
  • Thiết Bị và Hệ Thống: Đôi khi, các thiết bị có thể hoạt động vượt quá công suất do lỗi kỹ thuật hoặc cài đặt sai.

2. Hậu qua vi phạm về công suất khai thác

Phí phạt và hình phạt: Cơ quan chức năng có thể áp dụng các biện pháp phạt tiền hoặc các hình phạt khác nhằm xử lý vi phạm.

Tạm dừng hoạt động: Trong một số trường hợp, cơ quan chức năng có thể yêu cầu tạm dừng hoạt động khai thác để khắc phục vi phạm.

Hủy bỏ giấy phép: Nếu vi phạm là nghiêm trọng, giấy phép khai thác có thể bị hủy bỏ.

Tổn thất về uy tín và hợp đồng: Doanh nghiệp hoặc cá nhân có thể mất uy tín với khách hàng và đối tác, dẫn đến mất hợp đồng kinh doanh.

Tác động xấu đến môi trường và cộng đồng: Việc vượt quá công suất khai thác có thể gây ra tác động xấu đến môi trường và ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc sống của cộng đồng địa phương.

3. Xử lý hành vi vi phạm về công suất được phép khai thác

Xử lý hành vi vi phạm về công suất được phép khai thác
Xử lý hành vi vi phạm về công suất được phép khai thác

Theo quy đình tại Điều 41 Nghị định 36/2020 NĐ-CP

Vi phạm quy định về công suất được phép khai thác

1. Phạt cảnh cáo đối với hường hợp khai thác vượt công suất được phép khai thác hàng năm nêu trong giấy phép khai thác khoáng sản vượt dưới 15%.

2. Phạt tiền đối với trường hợp khai thác vượt công suất được phép khai thác hàng năm nêu trong giấy phép khai thác khoáng sản từ 15% đến dưới 25% cụ thể như sau:

a) Từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường của hộ kinh doanh;

b) Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với khai thác than bùn; khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường không sử dụng vật liệu nổ công nghiệp, trừ trường hợp quy tại điểm a khoản này;

c) Từ 70.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với khai thác nước khoáng; cát, sỏi lòng sông, suối, hồ; khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường có sử dụng vật liệu nổ công nghiệp, trừ trường hợp quy định tại điểm a khoản này;

d) Từ 100.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng đối với khai thác các loại khoáng sản khác, trừ trường hợp đã quy định tại các điểm a, b, e, đ, e, g và điểm h khoản này;

đ) Từ 200.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng đối với khai thác vàng, bạc, platin, đá quý, khoáng sản độc hại;

e) Từ 300.000.000 đồng đến 400.000.000 đồng đối với các loại khoáng sản được quy định tại khoản 5 Điều 6 Nghị định số 67/2019/NĐ-CP: Đá ốp lát nguồn gốc magma, biến chất, trầm tích có độ nguyên khối ≥ 0,4 m3, bao gồm: granit, gabro, đá hoa, đá vôi trắng, đá hoa trắng và đá cảnh, đá mỹ nghệ có độ nguyên khối ≥ 0,1 m3;

g) Từ 400.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng đối với các loại khoáng sản được quy định tại khoản 5 Điều 6 Nghị định số 67/2019/NĐ-CP: Khoáng sản làm nguyên liệu xi măng bao gồm các loại đá làm nguyên liệu xi măng là đá vôi xi măng, đá sét xi măng, đá làm phụ gia xi măng và đá vôi, dolomit làm nguyên liệu sản xuất nung vôi công nghiệp;

h) Từ 500.000.000 đồng đến 600.000.000 đồng đối với than.

3. Phạt tiền đối với trường hợp khai thác vượt công suất được phép khai thác hàng năm nêu trong giấy phép khai thác khoáng sản từ 25% đến dưới 50% cụ thể như sau:

a) Từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường của hộ kinh doanh;

b) Từ 50.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng đối với khai thác than bùn; khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường không sử dụng vật liệu nổ công nghiệp, trừ trường hợp quy định tại điểm a khoản này;

c) Từ 100.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng đối với khai thác nước khoáng; cát, sỏi lòng sông, suối, hồ; khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường có sử dụng vật liệu nổ công nghiệp, trừ trường hợp quy định tại điểm a khoản này;

d) Từ 200.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng đối với khai thác các loại sản khác, trừ trường hợp đã quy định tại các điểm a, b, c, đ, e, g và khoản này;

đ) Từ 300.000.000 đồng đến 400.000.000 đồng đối với khai thác vàng, bạc, platin, khoáng sản độc hại;

e) Từ 400.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng đối với các loại khoáng sản được quy định tại khoản 5 Điều 6 Nghị định số 67/2019/NĐ-CP: Đá ốp lát nguồn gốc magma, biến chất, trầm tích có độ nguyên khối ≥ 0,4 m3, bao gồm: granit, gabro, đá hoa, đá vôi trắng, đá hoa trắng và đá cảnh, đá mỹ nghệ có độ nguyên khối ≥ 0,1 m3;

g) Từ 500.000.000 đồng đến 600.000.000 đồng đối với các loại khoáng sản được quy định tại khoản 5 Điều 6 Nghị định số 67/2019/NĐ-CP: Khoáng sản làm nguyên liệu xi măng bao gồm các loại đá làm nguyên liệu xi măng là đá vôi xi măng, đá sét xi măng, đá làm phụ gia xi măng và đá vôi, dolomit làm nguyên liệu sản xuất nung vôi công nghiệp;

h) Từ 600.000.000 đồng đến 700.000.000 đồng đối với than.

4. Phạt tiền đối với trường hợp khai thác vượt công suất được phép khai thác hàng năm nêu trong giấy phép khai thác khoáng sản từ 50% đến dưới 100% cụ thể như sau:

a) Từ 50.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng đối với khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường của hộ kinh doanh;

b) Từ 100.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng đối với khai thác than bùn; khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường không sử dụng vật liệu nổ công nghiệp, trừ trường hợp quy định tại điểm a khoản này;

c) Từ 300.000.000 đồng đến 400.000.000 đồng đối với khai thác nước khoáng; cát, sỏi lòng sông, suối, hồ; khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường có sử dụng vật liệu nổ công nghiệp, trừ trường hợp quy định tại điểm a khoản này;

d) Từ 400.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng đối với khai thác các loại khoáng sản khác, trừ trường hợp đã quy định tại các điểm a, b, c, đ, e, g và điểm h khoản này;

đ) Từ 500.000.000 đồng đến 600.000.000 đồng đối với khai thác vàng, bạc, platin, đá quý, khoáng sản độc hại;

e) Từ 600.000.000 đồng đến 700.000.000 đồng đối với các loại khoáng sản được quy định tại khoản 5 Điều 6 Nghị định số 67/2019/NĐ-CP: Đá ốp lát nguồn gốc magma, biến chất, trầm tích có độ nguyên khối ≥ 0,4 m3, bao gồm: Granit, gabro, đá hoa, đá vôi trắng, đá hoa trắng và đá cảnh, đá mỹ nghệ có độ nguyên khối ≥ 0,1 m3;

g) Từ 700.000.000 đồng đến 800.000.000 đồng đối với các loại khoáng sản được quy định tại khoản 5 Điều 6 Nghị định số 67/2019/NĐ-CP: Khoáng sản làm nguyên liệu xi măng bao gồm các loại đá làm nguyên liệu xi măng là đá vôi xi măng, đá sét xi măng, đá làm phụ gia xi măng và đá vôi, dolomit làm nguyên liệu sản xuất nung vôi công nghiệp;

h) Từ 800.000.000 đồng đến 900.000.000 đồng đối với than.

5. Phạt tiền đối với trường hợp khai thác vượt công suất được phép khai thác hàng năm nêu trong giấy phép khai thác khoáng sản từ 100% trở lên, cụ thể như sau:

a) Từ 70.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường của hộ kinh doanh;

b) Từ 200.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng đối với khai thác than bùn; khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường không sử dụng vật liệu nổ công nghiệp, trừ trường hợp quy định tại điểm a khoản này;

c) Từ 400.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng đối với khai thác nước khoáng; cát, sỏi lòng sông, suối, hồ; khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường có sử dụng vật liệu nổ công nghiệp, trừ trường hợp quy định tại điểm a khoản này;

d) Từ 500.000.000 đồng đến 600.000.000 đồng đối với khai thác các loại khoáng sản khác, trừ trường hợp đã quy định tại các điểm a, b, c, đ, e, g và điểm h khoản này;

đ) Từ 600.000.000 đồng đến 700.000.000 đồng đối với khai thác vàng, bạc, platin, đá quý, khoáng sản độc hại;

e) Từ 700.000.000 đồng đến 800.000.000 đồng đối với các loại khoáng sản được quy định tại khoản 5 Điều 6 Nghị định số 67/2019/NĐ-CP: Đá ốp lát nguồn gốc magma, biến chất, trầm tích có độ nguyên khối ≥ 0,4 m3, bao gồm: Granit, gabro, đá hoa, đá vôi trắng, đá hoa trắng và đá cảnh, đá mỹ nghệ có độ nguyên khối ≥ 0,1 m3;

g) Từ 800.000.000 đồng đến 900.000.000 đồng đối với các loại khoáng sản được quy định tại khoản 5 Điều 6 Nghị định số 67/2019/NĐ-CP: Khoáng sản làm nguyên liệu xi măng bao gồm các loại đá làm nguyên liệu xi măng là đá vôi xi măng, đá sét xi măng, đá làm phụ gia xi măng và đá vôi, dolomit làm nguyên liệu sản xuất nung vôi công nghiệp;

h) Từ 900.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng đối với than.

4. Biện pháp khắc phục hậu quả

Biện pháp khắc phục hậu quả
Biện pháp khắc phục hậu quả

Buộc thực hiện các biện pháp cải tạo các công trình bảo vệ môi trường, khắc phục ô nhiễm môi trường, hư hỏng hạ tầng kỹ thuật do hành vi khai thác vượt công suất gây ra.

Buộc chi trả kinh phí trưng cầu giám định, kiểm định, đo đạc và xác minh trong trường hợp có hành vi vi phạm tại khoản 1, khoản 2, khoản 3, khoản 4 và khoản 5 Điều này.

5. Quy định về việc sử dụng rừng đặc dụng theo Luật Lâm nghiệp 2017

Theo quy định tại Điều 52 Luật Lâm nghiệp 2017, việc khai thác, sử dụng lâm sản trong rừng đặc dụng phải thực hiện theo nguyên tắc thận trọng, đúng mục đích bảo tồn và đảm bảo được sự phê duyệt của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Cụ thể:

  • Đối với vườn quốc gia, khu dự trữ thiên nhiên, khu bảo tồn loài – sinh cảnh:
    • Không được phép khai thác lâm sản trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt;
    • Không được tận thu cây gỗ chết, cây gãy đổ trong phân khu phục hồi sinh thái;
    • Được tận thu cây gỗ chết, cây gãy đổ, nấm trong phân khu dịch vụ – hành chính;
    • Được khai thác tận dụng lâm sản trong phạm vi giải phóng mặt bằng phục vụ xây dựng công trình đã được phê duyệt;
    • Được thu thập mẫu vật thực vật, động vật rừng, nấm, nguồn gen khi phục vụ nhiệm vụ khoa học được cấp phép.
  • Đối với khu rừng bảo vệ cảnh quan (bao gồm rừng lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh, rừng tín ngưỡng…):
    • Được khai thác tận dụng lâm sản trong quá trình bảo tồn, tôn tạo, phục hồi hệ sinh thái hoặc trong khu vực giải phóng mặt bằng đã được phê duyệt;
    • Được thu thập mẫu vật cho mục đích khoa học, bảo tồn;
    • Riêng rừng tín ngưỡng, cộng đồng được khai thác cây chết, gãy đổ, lâm sản ngoài gỗ, thậm chí khai thác gỗ cho mục đích cộng đồng nếu được cấp có thẩm quyền chấp thuận.
  • Đối với khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học:
    • Được khai thác lâm sản phục vụ nhiệm vụ nghiên cứu đã được duyệt;
    • Được khai thác tận dụng trong quá trình điều chỉnh tổ thành rừng, nuôi dưỡng rừng hoặc áp dụng biện pháp lâm sinh;
    • Được thu thập mẫu vật động – thực vật, vi sinh vật, nguồn gen để phục vụ nghiên cứu và phát triển công nghệ.
  • Đối với vườn thực vật quốc gia, rừng giống quốc gia:
    • Được khai thác vật liệu giống theo kế hoạch;
    • Được tận dụng lâm sản ngoài gỗ, gỗ chết, cây gãy đổ và thực vật trong quá trình chăm sóc, điều chỉnh tổ thành rừng hoặc xây dựng công trình được phê duyệt.

Như vậy, việc sử dụng rừng đặc dụng được phân loại cụ thể theo chức năng từng loại rừng và yêu cầu phải có sự phê duyệt của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhằm đảm bảo mục tiêu bảo tồn lâu dài tài nguyên rừng và đa dạng sinh học.

6. Ban quản lý rừng đặc dụng có nghĩa vụ lập và trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt phương án quản lý rừng bền vững không?

Ban quản lý rừng đặc dụng có nghĩa vụ được quy định tại khoản 2 Điều 75 Luật Lâm nghiệp 2017 như sau:

Quyền và nghĩa vụ của ban quản lý rừng đặc dụng

...

2. Ban quản lý rừng đặc dụng có nghĩa vụ sau đây:

a) Các nghĩa vụ quy định tại Điều 74 của Luật này;

b) Lập và trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt phương án quản lý rừng bền vững và thực hiện phương án đã được phê duyệt;

c) Hỗ trợ cộng đồng dân cư trong vùng đệm ổn định đời sống, phát triển kinh tế - xã hội theo quy định tại Điều 54 của Luật này;

d) Khoán bảo vệ và phát triển rừng cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư tại chỗ theo quy định của Chính phủ.

Như vậy, ban quản lý rừng đặc dụng có nghĩa vụ lập và trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt phương án quản lý rừng bền vững và thực hiện phương án đã được phê duyệt.

7. Những câu hỏi thường gặp

7.1. Rừng được Nhà nước giao cho cộng đồng dân cư quản lý có được phép khai thác không? Nếu có thì trong phạm vi nào?

Theo Điều 99 và Điều 110 Luật Lâm nghiệp 2017, cộng đồng dân cư được Nhà nước giao rừng có quyền quản lý, sử dụng rừng gắn liền với phong tục, tập quán, tín ngưỡng, đời sống văn hóa. Tuy nhiên, việc khai thác lâm sản phải tuân thủ quy hoạch, kế hoạch được phê duyệt và không làm ảnh hưởng đến chức năng chính của rừng.

  • Đối với rừng sản xuất, cộng đồng được phép khai thác lâm sản với quy mô nhỏ để đáp ứng nhu cầu thiết yếu.
  • Đối với rừng đặc dụng hay rừng phòng hộ, việc khai thác phải được sự cho phép của cơ quan có thẩm quyền và không vi phạm phân khu bảo vệ nghiêm ngặt.

Như vậy, quyền khai thác của cộng đồng là có giới hạn, vừa đảm bảo sinh kế, vừa phải bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên rừng.

Khu rừng tự sát Aokigahara và những câu chuyện rùng rợn

Rừng được Nhà nước giao cho cộng đồng dân cư quản lý có được phép khai thác không? Nếu có thì trong phạm vi nào?

7.2. Một cá nhân có được tự ý trồng rừng đặc dụng trên đất của mình không?

Luật Lâm nghiệp không cấm cá nhân trồng rừng với mục đích bảo tồn, nhưng khái niệm “rừng đặc dụng” chỉ được xác lập bởi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy hoạch và tiêu chí cụ thể tại Điều 5 và Điều 16 Luật Lâm nghiệp 2017.
Nói cách khác, một cá nhân không có quyền tự ý trồng và tuyên bố diện tích rừng của mình là rừng đặc dụng. Nếu muốn đưa diện tích này vào hệ thống rừng đặc dụng quốc gia, phải trải qua quy trình đánh giá, lập hồ sơ khoa học và được phê duyệt bởi Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hoặc UBND cấp tỉnh.
Do đó, hành vi tự gắn danh nghĩa “rừng đặc dụng” là không đúng quy định pháp luật, dù ý định bảo tồn là tích cực.