Tìm kiếm
Chương XXII Bộ luật tố tụng dân sự 2015: Thủ tục đặc biệt xem xét lại quyết định của hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao
| Số hiệu: | 92/2015/QH13 | Loại văn bản: | Luật |
| Nơi ban hành: | Quốc hội | Người ký: | Nguyễn Sinh Hùng |
| Ngày ban hành: | 25/11/2015 | Ngày hiệu lực: | 01/07/2016 |
| Ngày công báo: | 29/12/2015 | Số công báo: | Từ số 1251 đến số 1252 |
| Lĩnh vực: | Thủ tục Tố tụng | Tình trạng: | Còn hiệu lực |
TÓM TẮT VĂN BẢN
Bộ luật tố tụng dân sự 2015 được ban hành ngày 25/11/2015 với nhiều quy định về thẩm quyền của Tòa án; cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; thành phần giải quyết việc dân sự; người tham gia tố tụng; chứng minh, chứng cứ; biện pháp khẩn cấp tạm thời; chi phí tố tụng;…
Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 gồm 10 Phần, 42 Chương, 517 Điều (Thay vì Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 chỉ gồm 9 Phần, 36 Chương, 418 Điều). BLTTDS 2015 có bố cục gồm các Phần sau:
- Những quy định chung
- Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm
- Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp phúc thẩm
- Giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn
- Thủ tục xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật
- Thủ tục giải quyết việc dân sự
- Thủ tục công nhận và co thi hành tại Việc Nam hoặc không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài; công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài
- thủ tục giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài
- Thi hành Bản án, quyết định dân sự của Tòa án
- Xử lý hành vi cản trở hoạt động tố tụng, khiếu nại, tố cáo trong tố tụng
Theo đó, Bộ luật TTDS 2015 có những điểm sau đáng chú ý:
- Bổ sung mới quy định về Giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng:
+ Thẩm quyền của Tòa án thụ lý, giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng được thực hiện theo các điều từ Điều 35 đến Điều 41 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
+ Trình tự, thủ tục thụ lý, giải quyết vụ việc dân sự theo Bộ luật số 92/2015/QH13.
+ Nguyên tắc giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng thực hiện theo Điều 45 Luật này về việc áp dụng tập quán, áp dụng tương tự pháp luật, áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ, lẽ công bằng.
- Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải
Thẩm phán tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải giữa các đương sự. Trước khi tiến hành phiên họp, Thẩm phán phải thông báo cho đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự về thời gian, địa điểm tiến hành phiên họp và nội dung của phiên họp.
- Phát hiện và kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ văn bản quy phạm pháp luật tại Điều 221 Bộ luật tố tụng dân sự 2015
Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, nếu phát hiện văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến việc giải quyết vụ án dân sự có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên thì Tòa án thực hiện như sau:
+ Trường hợp chưa có quyết định đưa vụ án ra xét xử thì Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án báo cáo và đề nghị Chánh án Tòa án đang giải quyết vụ án có văn bản đề nghị Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật;
+ Trường hợp đã có quyết định đưa vụ án ra xét xử hoặc vụ án đang được xem xét tại phiên tòa hoặc đang được xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm thì Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên tòa theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 259 của Bộ luật này và báo cáo Chánh án Tòa án đang giải quyết vụ án có văn bản đề nghị Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật.
- Điều 247 Bộ Luật 92/2015/QH13 quy định rõ nội dung và phương thức tranh tụng tại phiên tòa
+ Tranh tụng tại phiên tòa bao gồm việc trình bày chứng cứ, hỏi, đối đáp, trả lời và phát biểu quan điểm, lập luận về đánh giá chứng cứ, tình tiết của vụ án dân sự, quan hệ pháp luật tranh chấp và pháp luật áp dụng để giải quyết yêu cầu của các đương sự trong vụ án.
- Bổ sung phần thứ tư về Giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn quy định:
+ Điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn
+ Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn
+ Phiên tòa xét xử theo thủ tục rút gọn
+ Thủ tục phúc thẩm rút gọn đối với bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị
Bộ luật tố tụng DS năm 2015 có hiệu lực từ ngày 01/07/2016 trừ một số quy định thì có hiệu lực từ ngày 01/01/2017, cụ thể tại Khoản 1 Điều 517 Bộ luật TTDS năm 2015.
Văn bản tiếng việt
Văn bản tiếng anh
1. Khi có căn cứ xác định quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc phát hiện tình tiết quan trọng mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung quyết định mà Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, đương sự đã không thể biết được khi ra quyết định đó, nếu có yêu cầu của Ủy ban thường vụ Quốc hội, kiến nghị của Ủy ban tư pháp của Quốc hội, kiến nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao thì Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xem xét lại quyết định đó.
2. Trường hợp có yêu cầu của Ủy ban thường vụ Quốc hội thì Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có trách nhiệm báo cáo Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
3. Trường hợp có kiến nghị của Ủy ban tư pháp của Quốc hội, kiến nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc Chánh án Tòa án nhân dân tối cao phát hiện vi phạm, tình tiết mới thì Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có trách nhiệm báo cáo Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xem xét kiến nghị, đề nghị đó.
4. Phiên họp của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xem xét kiến nghị, đề nghị quy định tại khoản 3 Điều này phải có sự tham dự của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
1. Sau khi nhận được yêu cầu của Ủy ban thường vụ Quốc hội, kiến nghị của Ủy ban tư pháp của Quốc hội hoặc sau khi Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có văn bản đề nghị xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 358 của Bộ luật này, Tòa án nhân dân tối cao gửi cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao bản sao văn bản yêu cầu, kiến nghị hoặc đề nghị đó kèm theo hồ sơ vụ án để Viện kiểm sát nhân dân tối cao nghiên cứu và chuẩn bị ý kiến phát biểu tại phiên họp xem xét kiến nghị, đề nghị, yêu cầu. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải trả lại hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tối cao.
2. Trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được kiến nghị của Ủy ban tư pháp của Quốc hội, kiến nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc kể từ ngày Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có văn bản đề nghị thì Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao phải mở phiên họp để xem xét kiến nghị, đề nghị.
Tòa án nhân dân tối cao thông báo bằng văn bản về thời gian mở phiên họp để xem xét kiến nghị, đề nghị cho Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Đại diện Ủy ban tư pháp của Quốc hội được mời tham dự phiên họp của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để xem xét kiến nghị của Ủy ban tư pháp của Quốc hội.
3. Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xem xét kiến nghị, đề nghị theo trình tự như sau:
a) Chánh án Tòa án nhân dân tối cao tự mình hoặc phân công một thành viên Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao trình bày tóm tắt nội dung vụ án và quá trình giải quyết vụ án;
b) Đại diện Ủy ban tư pháp của Quốc hội, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có kiến nghị, đề nghị xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao trình bày về nội dung kiến nghị, đề nghị; căn cứ của việc kiến nghị, đề nghị; phân tích, đánh giá các tình tiết của vụ án, chứng cứ cũ và chứng cứ mới bổ sung (nếu có) để làm rõ việc vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hoặc những tình tiết quan trọng mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
c) Trường hợp xem xét kiến nghị của Ủy ban tư pháp của Quốc hội hoặc xem xét đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao phát biểu quan điểm và lý do nhất trí hoặc không nhất trí với kiến nghị, đề nghị đó.
Ý kiến phát biểu của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải thể hiện bằng văn bản, có chữ ký của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và phải được gửi cho Tòa án nhân dân tối cao trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc phiên họp;
d) Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thảo luận và biểu quyết theo đa số về việc nhất trí hoặc không nhất trí với kiến nghị, đề nghị xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
đ) Trường hợp nhất trí với kiến nghị của Ủy ban tư pháp của Quốc hội, kiến nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao thì Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quyết định về việc mở phiên họp để xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, đồng thời giao cho Chánh án Tòa án nhân dân tối cao tổ chức nghiên cứu hồ sơ, báo cáo Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xem xét, quyết định tại phiên họp xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Trường hợp không nhất trí kiến nghị, đề nghị thì Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho cá nhân, cơ quan đã kiến nghị, đề nghị;
e) Mọi diễn biến tại phiên họp xem xét kiến nghị, đề nghị và các quyết định được thông qua tại phiên họp phải được ghi vào biên bản phiên họp và lưu hồ sơ xem xét kiến nghị, đề nghị;
g) Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc phiên họp xem xét kiến nghị, đề nghị xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao gửi cho Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Ủy ban tư pháp của Quốc hội văn bản thông báo về việc Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nhất trí hoặc không nhất trí với kiến nghị, đề nghị xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
4. Theo yêu cầu của Ủy ban thường vụ Quốc hội hoặc khi có quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc mở phiên họp để xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định tại điểm đ khoản 3 Điều này thì Chánh án Tòa án nhân dân tối cao tổ chức việc nghiên cứu hồ sơ vụ án, xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ trong trường hợp cần thiết.
Việc nghiên cứu hồ sơ vụ án, xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ phải làm rõ có hay không có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc tình tiết quan trọng mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
5. Trong thời hạn 04 tháng, kể từ ngày nhận được yêu cầu của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định tại khoản 2 Điều 358 của Bộ luật này hoặc kể từ ngày có quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định tại điểm đ khoản 3 Điều này, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao phải mở phiên họp với sự tham gia của toàn thể Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Tòa án nhân dân tối cao gửi cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao văn bản thông báo về thời gian mở phiên họp xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao kèm theo hồ sơ vụ án. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải trả lại hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tối cao.
Phiên họp Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao phải có sự tham dự của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Trường hợp xét thấy cần thiết, Tòa án nhân dân tối cao có thể mời cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan tham dự phiên họp.
6. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải tham dự phiên họp xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và phát biểu quan điểm về việc có hay không có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc tình tiết quan trọng mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và quan điểm về việc giải quyết vụ án.
Ý kiến phát biểu của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải thể hiện bằng văn bản, có chữ ký của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và phải được gửi cho Tòa án nhân dân tối cao trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc phiên họp.
7. Trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ra quyết định quy định tại khoản 1 Điều 360 của Bộ luật này, Tòa án nhân dân tối cao gửi quyết định cho Ủy ban thường vụ Quốc hội, Ủy ban tư pháp của Quốc hội, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân đã giải quyết vụ án và các đương sự.
1. Sau khi nghe Chánh án Tòa án nhân dân tối cao báo cáo, nghe ý kiến của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan được mời tham dự (nếu có) và khi xét thấy quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc có tình tiết quan trọng mới làm thay đổi cơ bản nội dung quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp dưới có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc có tình tiết quan trọng mới làm thay đổi cơ bản nội dung bản án, quyết định thì tùy từng trường hợp, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quyết định như sau:
a) Hủy quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và quyết định về nội dung vụ án;
b) Hủy quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Tòa án nhân dân tối cao có quyết định vi phạm pháp luật nghiêm trọng bị hủy do lỗi vô ý hoặc cố ý và gây thiệt hại cho đương sự hoặc xác định trách nhiệm bồi hoàn giá trị tài sản theo quy định của pháp luật;
c) Hủy quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để giao hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp dưới giải quyết theo quy định của pháp luật.
2. Quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao phải được ít nhất ba phần tư tổng số thành viên của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao biểu quyết tán thành.
SPECIAL PROCEDURES FOR REVIEWING DECISIONS OF THE COUNCIL OF JUDGES OF THE SUPREME PEOPLE’S COURT
Article 358. Requests, recommendations and applications for reviewing decisions of the Council of Judges of the Supreme People’s Court
1. When there are grounds to prove that decisions of the Council of Judges of the Supreme People’s Courts are seriously contrary to law or there are newly discovered important details which might basically change the contents of the decisions that are unknown to Councils of Judges of the Supreme People’s Court and involved parties when such decisions are issued, if there are requests of the Standing committee of the National Assembly, recommendations of National Assembly’s Judiciary Committee; recommendations of Chairperson of the Supreme People’s Procuracy or at the requests of the Chief Justice of the Supreme People’s Court, then such decisions shall be reviewed by the Council of Judges of the Supreme People’s Court.
2. If it is requested by the Standing committee of the National Assembly, the Chief Justice of the Supreme People’s Court shall report such requests to the Council of Judges of the Supreme People’s Court for reviewing the decisions of the Council of Judges of the Supreme People’s Court.
3. If there are recommendations by the National Assembly’s Judiciary Committee and/or recommendations of the Chairperson of the Supreme People’s Procuracy or the Chief Justice of the Supreme People’s Court when new violations or details are discovered, then the Chief Justice shall report such to the Council of Judges of the Supreme People’s Court for considering such recommendations/requests.
4. Meetings of the Council of Judges of the Supreme People’s Court for considering recommendations/requests specified in clause 3 of this Article must be attended by the Chairperson of the Supreme People’s Procuracy.
Article 359. Procedures for reviewing decisions of the Council of Judges of the Supreme People’s Court
1. When requests of the Standing Committee of the National Assembly, recommendations of National Assembly’s Judiciary Committee have been received or when the Chief Justice of the Supreme People’s Court have issue written requests for reviewing decisions of the Council of Judges of the Supreme People’s Court provided for in clauses 2 and 3 Article 358 of this Code, the Supreme People’s Court shall send to the Supreme People’s Procuracy copies of such requests or recommendations enclosed with the case files so that the Supreme People’s Procuracy studies and prepares for presentations at the meetings for considering recommendations/requests. Within 15 days from the day on which the case files are received, the Supreme People’s Procuracy must return them to the Supreme People’s Court.
2. Within 01 month from the day on which recommendations of the National Assembly’s Judiciary Committee or recommendations of the Chairperson of the Supreme People’s Procuracy are received or from the day on which the Chief Justice of the Supreme People’s Court make written requests, the Council of Judges of the Supreme People’s Court must hold meetings for considering such recommendations/requests.
The Supreme People’s Court shall notify in writing the time of opening of meetings for considering recommendations/requests to the Chairperson of the Supreme People’s Procuracy.
Representatives of the National Assembly’s Judiciary Committee shall be invited to attend the meetings of the Council of Judges of the Supreme People’s Court to consider the recommendations of the National Assembly’s Judiciary Committee.
3. The Council of Judges of the Supreme People’s Court shall consider the recommendations/requests according to the following order:
a) The Chief Justice of the Supreme People’s Court shall, by themselves or by assigning a member of the Council of Judges of the Supreme People’s Court, present briefly the contents of the cases and the processing of the cases;
b) Representatives of the National Assembly’s Judiciary Committee, the Chairperson of the Supreme People’s Procuracy, the Chief Justice of the Supreme People’s Court which submitted recommendations/requests for reviewing decisions of the Council of Judges of the Supreme People’s Court shall present the contents of the recommendations/requests; grounds for such recommendations/requests; analysis and assessment of details of the cases, old evidences and additional evidences (if any) to clarify the serious violations against law in the decisions of the Council of Judges of the Supreme People’s Court or new important details which can basically change the contents of such decisions;
c) In case of reviewing the recommendations of the National Assembly’s Judiciary Committee or reviewing requests of the Chief Justice of the Supreme People’s Court, the Chairperson of the Supreme People’s Procuracy shall present his/her viewpoints and reasons for agreement or disagreement with such recommendations/requests.
Opinions of the Chairperson of the Supreme People’s Procuracy must be presented in writing that bear the signature of the Chairperson of the Supreme People’s Procuracy and must be sent to the Supreme People’s Court within 05 working days from the day on which the meetings finish;
d) The Council of Judges of the Supreme People’s Court shall discuss and vote under the majority rule on the agreement or disagreement with the recommendations/requests for reviewing its decisions;
dd) If the recommendations of the National Assembly’s Judiciary Committee, the recommendations of the Chairperson of the Supreme People’s Procuracy or the requests of Chief Justice of the Supreme People’s Court are agreed with, the Council of Judges of the Supreme People’s Court shall make decisions on the holding of meetings for reviewing its decisions and request the Chief Justice of the Supreme People’s Court to study the files before reporting such cases to the Council of Judges of the Supreme People’s Court to consider and make decisions at the meetings for reviewing its decisions.
If the recommendations/requests are not agreed with, the Council of Judges of the Supreme People’s Court must notify such in writing to individuals and agencies proposing recommendations/requests and clearly state the reasons;
e) All happenings at the meetings for considering recommendations/requests and decisions approved at the meetings must be recorded in the meeting minutes and included in the recommendation/request-considering files;
g) Within 05 working days from the day on which the meetings for considering recommendations/requests for reviewing its decisions, the Council of Judge of the Supreme People’s Court shall send to the Chairperson of the Supreme People’s Procuracy and the National Assembly’s Judiciary Committee notifications of its agreement or disagreement with such recommendations/requests.
4. Upon receiving requests of Standing Committee of the National Assembly or decisions of the Council of Judges of the Supreme People’s Court on the opening of meetings for reviewing its decisions as prescribed in point dd clause 3 of this Article, the Chief Justice of the Supreme People’s Court shall conduct the study of the case files and the verification and collection of materials and evidences when necessary.
The study of case files, the verification and collection of materials and evidences must clarify whether there are serious violations against law or new important details which may basically change the contents of decisions of the Judicial Council of the Supreme People’s Court.
5. Within 04 months from the day on which requests of the Standing Committee of the National Assembly specified in clause 2 Article 358 of this Code or from the day on which the decisions of the Council of Judges of the Supreme People’s Court specified in point dd clause 3 of this Article are received, the Council of Judges of the Supreme People’s Court shall hold meetings with the participation of all the Judges of the Supreme People’s Court to review its decisions.
The Supreme People’s Court shall send the Supreme People’s Procuracy written notifications of time of opening the meetings for reviewing decisions of the Council of Judges of the Supreme People’s Court enclosed with the case files. Within 15 days from the day on which the case files are received, the Supreme People’s Procuracy must return them to the Supreme People’s Court.
The meetings held by the Council of Judges of the Supreme People’s Court must be attended by the Chairperson of the Supreme People’s Procuracy. If it is deemed necessary, the Supreme People’s Court may invite relevant agencies, organizations and individuals to attend the meetings.
6. The Chairperson of the Supreme People’s Procuracy must attend the meetings for reviewing decisions of the Council of Judges of the Supreme People’s Court and express his/her viewpoints on whether or not there are serious violations against law or new important details which can basically change the contents of the decisions of the Council of Judges of the Supreme People’s Court and his/her opinions about the resolution of the cases.
Opinions of the Chairperson of the Supreme People’s Procuracy must be presented in writing that bear the signature of the Chairperson of the Supreme People’s Procuracy and must be sent to the Supreme People’s Court within 05 working days from the day on which the meetings finish.
7. Within 01 month from the day on which the Council of Judges of the Supreme People’s Court make decisions specified in clause 1 Article 360 of this Code, the Supreme People’s Court shall send such decisions to the Standing Committee of the National Assembly, the National Assembly’s Judiciary Committee, the Supreme People’s Procuracy and People’s Court which have been in charge of resolving the cases and involved parties.
Article 360. Competence to review decisions of the Council of Judges of the Supreme People’s Court
1. After listening to the reports of the Chief Justice of the Supreme People’s Court and opinions of the Chairperson of the Supreme People’s Procuracy and of relevant agencies, organizations and individuals that are invited to attend the meetings (if any) and when deeming that decisions of the Council of Judges of the Supreme People’s Court are seriously contrary to law or have new important details that basically change the contents of such decisions; or when deeming that legally effective judgments/decisions of inferior Courts are seriously contrary to law or have new important details that basically change the contents of such decisions, then on a case-by-case basis, the Council of Judges of the Supreme People’s Court shall make decisions to:
a) Repeal decisions of the Council of Judges of the Supreme People’s Court, repeal legally effective judgments/decisions and decisions on contents of the cases;
b) Repeal decisions of the Council of Judges of the Supreme People’s Court, repeal legally effective judgments/decisions and determine responsibility of the Supreme People’s Court for compensation for damages caused to involved parties as the result of the unconformable decisions that are repealed or determine responsibility for reimbursing the value of properties according to law;
c) Repeal decisions of the Council of Judges of the Supreme People’s Court, repeal legally effective judgments/decisions to transfer the case files to the inferior Courts to resolve according to law.
2. Decisions of the Council of Judges of the Supreme People’s Court must be approved by at least three-fourths of its members to be effective.
Văn bản liên quan
Cập nhật
Điều 111. Quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
Điều 113. Trách nhiệm do áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng
Điều 120. Kê biên tài sản đang tranh chấp
Điều 127. Cấm hoặc buộc thực hiện hành vi nhất định
Điều 128. Cấm xuất cảnh đối với người có nghĩa vụ
Điều 133. Thủ tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
Điều 136. Buộc thực hiện biện pháp bảo đảm
Điều 137. Thay đổi, áp dụng bổ sung biện pháp khẩn cấp tạm thời
Điều 291. Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời
Bài viết liên quan
8 điều cần biết trước khi khởi kiện tranh chấp đất đai mới nhất 2025
8 điều cần biết trước khi khởi kiện tranh chấp đất đai mới nhất 2025
Tranh chấp đất đai là tranh chấp phổ biến và phức tạp nhất trong số các dạng tranh chấp được giải quyết tại Tòa án ở Việt Nam. Vậy, trước khi khởi kiện tranh chấp đất đai ra Tòa án, các bên đương sự phải chú ý điều gì? bài viết dưới đây sẽ trình bày cụ thể vấn đề trên. 16/05/2025Hồ sơ khởi kiện tranh chấp đất đai tại Tòa án mới nhất 2025
Hồ sơ khởi kiện tranh chấp đất đai tại Tòa án mới nhất 2025
Trong quá trình sử dụng đất, các mâu thuẫn và tranh chấp giữa các cá nhân, hộ gia đình hoặc tổ chức là điều không thể tránh khỏi. Khi xảy ra tranh chấp đất đai, việc làm đơn đề nghị cơ quan có thẩm quyền can thiệp, giải quyết là bước đầu tiên và quan trọng để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan. Mẫu đơn đề nghị giải quyết tranh chấp đất đai không chỉ thể hiện yêu cầu chính đáng của người dân mà còn là căn cứ pháp lý để cơ quan chức năng xem xét, xử lý vụ việc theo đúng quy định. Hãy cùng tìm hiểu về hồ sơ khởi kiện tranh chấp đất đai tại Tòa án mới nhất 2025. 12/05/2025Cách viết đơn đề nghị giải quyết tranh chấp đất đai mới nhất 2025
Cách viết đơn đề nghị giải quyết tranh chấp đất đai mới nhất 2025
Trong quá trình sử dụng đất, các mâu thuẫn và tranh chấp giữa các cá nhân, hộ gia đình hoặc tổ chức là điều không thể tránh khỏi. Khi xảy ra tranh chấp đất đai, việc làm đơn đề nghị cơ quan có thẩm quyền can thiệp, giải quyết là bước đầu tiên và quan trọng để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan. Mẫu đơn đề nghị giải quyết tranh chấp đất đai không chỉ thể hiện yêu cầu chính đáng của người dân mà còn là căn cứ pháp lý để cơ quan chức năng xem xét, xử lý vụ việc theo đúng quy định. Hãy cùng tìm hiểu về cách viết đơn đề nghị giải quyết tranh chấp đất đai mới nhất 2025. 08/05/2025Mẫu đơn đề nghị giải quyết tranh chấp đất đai mới nhất 2025
Mẫu đơn đề nghị giải quyết tranh chấp đất đai mới nhất 2025
Trong quá trình sử dụng đất, các mâu thuẫn và tranh chấp giữa các cá nhân, hộ gia đình hoặc tổ chức là điều không thể tránh khỏi. Khi xảy ra tranh chấp đất đai, việc làm đơn đề nghị cơ quan có thẩm quyền can thiệp, giải quyết là bước đầu tiên và quan trọng để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan. Mẫu đơn đề nghị giải quyết tranh chấp đất đai không chỉ thể hiện yêu cầu chính đáng của người dân mà còn là căn cứ pháp lý để cơ quan chức năng xem xét, xử lý vụ việc theo đúng quy định. Hãy cùng tìm hiểu về mẫu đơn đề nghị giải quyết tranh chấp đất đai mới nhất 2025. 08/05/2025Mẫu đơn đề nghị giải quyết tranh chấp đất đai mới nhất và hướng dẫn cách viết mới nhất 2025
Mẫu đơn đề nghị giải quyết tranh chấp đất đai mới nhất và hướng dẫn cách viết mới nhất 2025
Trong quá trình sử dụng đất, các mâu thuẫn và tranh chấp giữa các cá nhân, hộ gia đình hoặc tổ chức là điều không thể tránh khỏi. Khi xảy ra tranh chấp đất đai, việc làm đơn đề nghị cơ quan có thẩm quyền can thiệp, giải quyết là bước đầu tiên và quan trọng để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan. Mẫu đơn đề nghị giải quyết tranh chấp đất đai không chỉ thể hiện yêu cầu chính đáng của người dân mà còn là căn cứ pháp lý để cơ quan chức năng xem xét, xử lý vụ việc theo đúng quy định. Hãy cùng tìm hiểu về mẫu đơn đề nghị giải quyết tranh chấp đất đai mới nhất và hướng dẫn cách viết mới nhất 2025. 12/05/2025Cá nhân có thể gửi đơn khởi kiện về việc đòi nợ đến Tòa án theo những hình thức nào mới nhất 2025?
Cá nhân có thể gửi đơn khởi kiện về việc đòi nợ đến Tòa án theo những hình thức nào mới nhất 2025?
Khi gặp phải trường hợp bên vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, cá nhân có thể thực hiện quyền đòi nợ thông qua việc gửi đơn khởi kiện đến Tòa án để bảo vệ quyền lợi của mình. Theo quy định mới nhất năm 2025, việc khởi kiện đòi nợ được thực hiện qua một số hình thức nhất định, đảm bảo tính hợp pháp và hiệu quả trong quá trình tố tụng. Trong bài viết này, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu các hình thức gửi đơn khởi kiện mà cá nhân có thể áp dụng để đòi lại số tiền mình đã cho vay, cũng như các quy trình liên quan để đảm bảo quyền lợi của mình trong khuôn khổ pháp luật. 10/05/2025Hướng dẫn đòi nợ hợp pháp chuẩn quy định mới nhất 2025
Hướng dẫn đòi nợ hợp pháp chuẩn quy định mới nhất 2025
Trong quá trình giao dịch và kinh doanh, việc vay mượn tiền là điều không thể tránh khỏi. Tuy nhiên, khi bên vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đúng hạn, chủ nợ sẽ đối mặt với tình huống khó khăn, thậm chí phải đối diện với việc đòi nợ. Để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình, việc đòi nợ phải được thực hiện đúng quy trình pháp lý, tuân thủ các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam. Bài viết này sẽ hướng dẫn chi tiết về các bước đòi nợ hợp pháp, từ việc gửi yêu cầu thanh toán đến việc khởi kiện nếu cần thiết, nhằm đảm bảo quyền lợi của bên cho vay theo đúng quy định mới nhất năm 2025. 10/05/2025Xử phạt dịch vụ đòi nợ thuê ra sao mới nhất 2025?
Xử phạt dịch vụ đòi nợ thuê ra sao mới nhất 2025?
Trong những năm gần đây, hoạt động đòi nợ thuê đã bị lạm dụng, biến tướng thành các hành vi gây rối trật tự, đe dọa, thậm chí vi phạm pháp luật hình sự. Trước thực trạng đó, pháp luật Việt Nam đã có quy định cấm kinh doanh dịch vụ đòi nợ thuê kể từ năm 2021 và tiếp tục duy trì lệnh cấm này đến năm 2025. Việc hiểu rõ các chế tài xử phạt đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực này là điều cần thiết để cá nhân và doanh nghiệp không vô tình mắc sai phạm khi xử lý các khoản nợ. 10/05/2025Có được phép kinh doanh dịch vụ đòi nợ thuê không?
Có được phép kinh doanh dịch vụ đòi nợ thuê không?
Dịch vụ đòi nợ thuê từng tồn tại như một ngành nghề kinh doanh có điều kiện tại Việt Nam, nhưng do nhiều hệ lụy phát sinh như đe dọa, cưỡng ép, gây rối trật tự công cộng nên đã bị loại bỏ khỏi danh mục ngành nghề kinh doanh được phép hoạt động. Theo quy định mới nhất đến năm 2025, việc kinh doanh dịch vụ đòi nợ thuê là không được phép, tức bị cấm hoàn toàn theo Luật Đầu tư hiện hành. Điều này đồng nghĩa với việc cá nhân hay tổ chức tham gia hoặc sử dụng dịch vụ này đều có thể bị xử phạt theo quy định pháp luật. 10/05/2025Người sử dụng dịch vụ đòi nợ thuê có bị xử phạt hành chính không?
