Độ tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự? Thời hiệu truy cứu trách hình sự là bao lâu? Có phải mọi tội phạm được quy định trong Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 đều áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự không?
Có phải mọi tội phạm được quy định trong Bộ luật Hình sự đều áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự không?

1. Độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo pháp luật Việt Nam?

Căn cứ theo Điều 12 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi bởi khoản 3 Điều 1 Luật Sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017) quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự cụ thể như sau:

Tuổi chịu trách nhiệm hình sự

1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác.

2. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật này.

Như vậy, theo quy định trên thì người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng đối với các tội sau:

  • Tội giết người.
  • Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.
  • Tội hiếp dâm.
  • Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi.
  • Tội cưỡng dâm.
  • Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi.
  • Tội mua bán người.
  • Tội mua bán người dưới 16 tuổi.
  • Tội cướp tài sản.
  • Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản.
  • Tội cưỡng đoạt tài sản.
  • Tội cướp giật tài sản.
  • Tội trộm cắp tài sản.
  • Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản.
  • Tội sản xuất trái phép chất ma túy.
  • Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Tội vận chuyển trái phép chất ma túy.
  • Tội mua bán trái phép chất ma túy.
  • Tội chiếm đoạt chất ma túy.
  • Tội tổ chức đua xe trái phép.
  • Tội đua xe trái phép.
  • Tội phát tán chương trình tin học gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử.
  • Tội cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử.
  • Tội xâm nhập trái phép vào mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử của người khác.
  • Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản.
  • Tội khủng bố.
  • Tội phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia.
  • Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự.

Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật Hình sự 2015 có quy định khác.

2. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là bao lâu?

Theo Điều 27 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự như sau:

Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự

1. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là thời hạn do Bộ luật này quy định mà khi hết thời hạn đó thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

2. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định như sau:

a) 05 năm đối với tội phạm ít nghiêm trọng;

b) 10 năm đối với tội phạm nghiêm trọng;

c) 15 năm đối với tội phạm rất nghiêm trọng;

d) 20 năm đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

3. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được tính từ ngày tội phạm được thực hiện. Nếu trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này, người phạm tội lại thực hiện hành vi phạm tội mới mà Bộ luật này quy định mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy trên 01 năm tù, thì thời hiệu đối với tội cũ được tính lại kể từ ngày thực hiện hành vi phạm tội mới.

Nếu trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này, người phạm tội cố tình trốn tránh và đã có quyết định truy nã, thì thời hiệu tính lại kể từ khi người đó ra đầu thú hoặc bị bắt giữ.

Thời hiệu truy cứu đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công lý và quyền lợi của bị cáo. Điều này giúp cân bằng giữa quyền lợi của người bị buộc tội và sự cần thiết phải bảo vệ xã hội khỏi các hành vi phạm tội. Đồng thời, thời hiệu cũng đảm bảo rằng các vụ án không bị kéo dài vô thời hạn, tạo điều kiện cho sự ổn định và công bằng pháp lý.

Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là bao lâu?
Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là bao lâu?

3. Có phải mọi tội phạm được quy định trong Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 đều áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự không?

Căn cứ Điều 28 Bộ luật Hình sự 2015 quy định không áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm sau đây:

(1) Các tội xâm phạm an ninh quốc gia, bao gồm:

  • Tội phản bội Tổ quốc
  • Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân
  • Tội gián điệp
  • Tội xâm phạm an ninh lãnh thổ
  • Tội bạo loạn
  • Tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân
  • Tội phá hoại cơ sở vật chất - kỹ thuật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
  • Tội phá hoại việc thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội
  • Tội phá hoại chính sách đoàn kết
  • Tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
  • Tội phá rối an ninh
  • Tội chống phá cơ sở giam giữ
  • Tội tổ chức, cưỡng ép, xúi giục người khác trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân
  • Tội trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân

(2) Các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh, bao gồm:

  • Tội phá hoại hòa bình, gây chiến tranh xâm lược
  • Tội chống loài người
  • Tội phạm chiến tranh
  • Tội tuyển mộ, huấn luyện hoặc sử dụng lính đánh thuê
  • Tội làm lính đánh thuê

(3) Tội tham ô tài sản; tội nhận hối lộ như sau

Phạm tội tham ô tài sản trong trường hợp

  • Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng;
  • Gây thiệt hại về tài sản từ 3.000.000.000 đồng đến dưới 5.000.000.000 đồng;
  • Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
  • Dẫn đến doanh nghiệp hoặc tổ chức khác bị phá sản hoặc ngừng hoạt động.
  • Chiếm đoạt tài sản trị giá 1.000.000.000 đồng trở lên;
  • Gây thiệt hại về tài sản 5.000.000.000 đồng trở lên.

Phạm tội nhận hối lộ trong trường hợp

  • Của hối lộ là tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng;
  • Gây thiệt hại về tài sản từ 3.000.000.000 đồng đến dưới 5.000.000.000 đồng.
  • Của hối lộ là tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá 1.000.000.000 đồng trở lên;
  • Gây thiệt hại về tài sản 5.000.000.000 đồng trở lên.
Có phải mọi tội phạm được quy định trong Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 đều áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự không?
Có phải mọi tội phạm được quy định trong Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 đều áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự không?

Điều này có nghĩa là các tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội phạm liên quan đến khủng bố và chiến tranh có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự bất kể thời gian đã trôi qua, nhằm đảm bảo việc xử lý các hành vi nguy hiểm này không bị hạn chế bởi thời gian và đảm bảo sự công lý cho các hành vi có tính chất đặc biệt nghiêm trọng.

4. Các giai đoạn thực hiện tội phạm là gì?

Các giai đoạn thực hiện tội phạm là các bước của quá trình thực hiện tội phạm cố ý được phân biệt với nhau bởi các dấu hiệu, biển hiệu nhằm đánh giá sự diễn biến mức độ thực hiện ý định phạm tội, làm cơ sở cho việc xác định phạm vi và mức độ trách nhiệm hình sự và hình phạt.

Các giai đoạn phạm tội chỉ diễn ra trong các tội được thực hiện bằng lỗi cố ý trực tiếp. Đối với tội vô ý, người phạm tội không có ý định phạm tội, không mong muốn hậu quả xảy ra cho nên tội vô ý chỉ có thể là những tội đã hoàn thành, không có giai đoạn chuẩn bị phạm tội hay phạm tội chưa đạt.

Quá trình thực hiện tội phạm có ba giai đoạn: giai đoạn chuẩn bị phạm tội, giai đoạn phạm tội chưa đạt và giai đoạn tội phạm đã hoàn thành.

Căn cứ theo quy định tại Điều 14 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bởi khoản 4 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật hình sự 2017 quy định về chuẩn bị phạm tội như sau:

Chuẩn bị phạm tội

1. Chuẩn bị phạm tội là tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm hoặc thành lập, tham gia nhóm tội phạm, trừ trường hợp thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm quy định tại Điều 109, điểm a khoản 2 Điều 113 hoặc điểm a khoản 2 Điều 299 của Bộ luật này.

2. Người chuẩn bị phạm tội quy định tại một trong các điều 108, 109, 110, 111, 112, 113, 114, 115, 116, 117, 118, 119, 120, 121, 123, 134, 168, 169, 207, 299, 300, 301, 302, 303 và 324 của Bộ luật này thì phải chịu trách nhiệm hình sự.

3. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chuẩn bị phạm tội quy định tại Điều 123, Điều 168 của Bộ luật này thì phải chịu trách nhiệm hình sự.

Theo đó, chuẩn bị phạm tội là quá trình tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm hoặc thành lập, tham gia nhóm tội phạm.

Căn cứ theo quy định tại Điều 15 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về phạm tội chưa đạt như sau:

Phạm tội chưa đạt

Phạm tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội.

Người phạm tội chưa đạt phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa đạt.

Theo đó, việc cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội được xem là phạm tội chưa đạt, người phạm tội chưa đạt phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa đạt.

Tội phạm đã hoàn thành khi hành vi phạm tội đã thoả mãn đầy đủ các dấu hiệu được mô tả trong cấu thành tội phạm.

Căn cứ theo quy định tại Điều 16 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội như sau:

Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội

Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là tự mình không thực hiện tội phạm đến cùng, tuy không có gì ngăn cản.

Người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm; nếu hành vi thực tế đã thực hiện có đủ yếu tố cấu thành của một tội khác, thì người đó phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này.

Theo đó, có thể hiểu tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là tự mình không thực hiện tội phạm đến cùng, tuy không có gì ngăn cản.

Người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm; nếu hành vi thực tế đã thực hiện có đủ yếu tố cấu thành của một tội khác, thì người đó phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này.

5. Tội phạm hình sự có bao gồm những hành vi mang tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể do con người gây ra hay không?

Căn cứ theo quy định tại Điều 8 Bộ luật Hình sự 2015 như sau:

Khái niệm tội phạm

1. Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự.

2. Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác.

Để được xem là tội phạm hình sự thì nó phải là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự,... mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự.

Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không phải là tội phạm (không đến mức phải xử lý hình sự thì không được xem là tội phạm).

6. Không áp dụng hình phạt tử hình đối với đối tượng nào theo Bộ luật Hình sự mới nhất 2025?

Theo quy định tại Điều 40 Bộ luật Hình sự hiện hành , hình phạt tử hình không được áp dụng trong các trường hợp sau:

  • Người dưới 18 tuổi tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội
    Hình phạt tử hình không áp dụng với người chưa thành niên, dù họ có phạm tội đặc biệt nghiêm trọng.
  • Phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi tại thời điểm xét xử hoặc thi hành án
    Đây là quy định thể hiện tính nhân đạo trong pháp luật hình sự, nhằm bảo vệ quyền sống và lợi ích của thai nhi, trẻ nhỏ.
  • Người bị kết án tử hình nhưng được Chủ tịch nước ân giảm
    Trong trường hợp này, hình phạt tử hình sẽ được chuyển sang tù chung thân.
  • Một số trường hợp đặc biệt khác trong quá trình thi hành án
    Ví dụ: Người bị kết án tử hình mắc bệnh hiểm nghèo hoặc lâm vào tình trạng đặc biệt như bị tâm thần, mang thai sau khi bị kết án... sẽ được tạm hoãn hoặc không thi hành án theo quy định pháp luật.

Như vậy, hình phạt tử hình chỉ áp dụng trong phạm vi nghiêm ngặt đối với những người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và không thuộc các trường hợp bị loại trừ nêu trên. Nếu bạn cần mình cung cấp danh sách cụ thể các tội danh có thể bị áp dụng hình phạt tử hình, vui lòng cho biết.

7. Những câu hỏi thường gặp

7.1. Tại sao cần phải phân tích yếu tố cấu thành tội phạm trong quá trình xử lý hình sự?

Việc phân tích các yếu tố cấu thành tội phạm là cơ sở quan trọng để xác định chính xác hành vi có phải là tội phạm hay không, và nếu có thì thuộc tội danh nào. Mỗi tội danh trong Bộ luật Hình sự đều được xây dựng dựa trên các yếu tố như khách thể, mặt khách quan, chủ thể và mặt chủ quan. Việc thiếu một trong những yếu tố này có thể khiến hành vi không đủ điều kiện để xử lý hình sự. Đồng thời, việc phân tích cụ thể từng yếu tố giúp cơ quan tiến hành tố tụng tránh oan sai, bảo đảm công bằng và đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đây cũng là cơ sở để áp dụng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng hoặc xem xét miễn trách nhiệm hình sự trong những trường hợp đặc biệt.

Cartoon Crime Man Hands In Handcuff At Back Isolated Close Up Law  Perpetrator At Prison Stock Illustration - Download Image Now - iStock

Tại sao cần phải phân tích yếu tố cấu thành tội phạm trong quá trình xử lý hình sự?

7.2. Một hành vi trái pháp luật nhưng gây hậu quả nhỏ có bị coi là tội phạm không?

Không phải mọi hành vi trái pháp luật đều là tội phạm. Bộ luật Hình sự quy định rằng hành vi có dấu hiệu tội phạm nhưng gây hậu quả không đáng kể, tính chất nguy hiểm cho xã hội ở mức thấp, thì không bị coi là tội phạm. Những trường hợp này có thể bị xử lý bằng các biện pháp khác như phạt hành chính, buộc bồi thường dân sự, hoặc xử lý nội bộ. Ví dụ, một người lấy cắp món đồ nhỏ giá trị vài chục nghìn đồng mà không có tình tiết tăng nặng, không tái phạm, có thể chỉ bị xử phạt hành chính thay vì truy cứu trách nhiệm hình sự. Do đó, hậu quả và tính nguy hiểm của hành vi là yếu tố quan trọng trong việc đánh giá có cấu thành tội phạm hay không.