Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là bao lâu mới nhất 2025
Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là bao lâu mới nhất 2025

1. Khái niệm về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự

Theo quy định tại khoản 1 Điều 27 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định: Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là thời hạn do Bộ luật này quy định mà khi hết thời hạn đó thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Như vậy, tùy vào tính chất mức độ hành vi phạm tội mà mỗi tội phạm có một thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự riêng, khi hết thời hạn này thì người phạm tội sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự nữa.

2. Cách xác định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự

Theo quy định tại khoản 2 Điều 27 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định như sau:

  • 05 năm đối với tội phạm ít nghiêm trọng:

Đối chiếu quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 9 Bộ luật hình sự thì Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm;

  • 10 năm đối với tội phạm nghiêm trọng:

Đối chiếu quy định tại điểm b, khoản 1 Điều 9 Bộ luật hình sự thì Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 03 năm tù đến 07 năm tù;

  • 15 năm đối với tội phạm rất nghiêm trọng:

Đối chiếu quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 9 Bộ luật hình sự thì Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 07 năm tù đến 15 năm tù;

  • 20 năm đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng:

Đối chiếu quy định tại điểm d, khoản 1 Điều 9 Bộ luật hình sự thì Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 15 năm tù đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.

Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là gì?

3. Thời điểm bắt đầu tính thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự

Theo quy định tại khoản 3 Điều 27 Bộ luật hính sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì có 3 trường hợp xác định thời điểm bắt đầu tính thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự:

  • Trường hợp 1: Thời hiệu được tính liên tục từ ngày tội phạm được thực hiện. Như vậy, thời điểm bắt đầu tính thời hiệu chính là ngày tội phạm được thực hiện, nghĩa là hành vi đó đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm mà không phân biệt ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt hay tội phạm đã hoàn thành. Trường hợp này, cần lưu ý các vấn đề như đối với giai đoạn chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt; đối với tội phạm kéo dài; đối với tội phạm liên tục; đối với các trường hợp phạm nhiều tội, phạm tội nhiều lần.
  • Trường hợp 2: Trường hợp này được hiểu, nếu một người đã thực hiện tội phạm, chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự mà lại phạm tội mới có mức cao nhất của khung hình phạt là trên 01 năm tù thì thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội cũ được tính lại kể từ ngày thực hiện tội phạm mới. Như vậy, để thuộc trường hợp này cần đáp ứng hai điều kiện. Điều kiện thứ nhất là người đó lại phạm tội mới trong thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự của tội cũ. Điều kiện thứ hai là tội phạm mới mà người phạm tội thực hiện phải có mức cao nhất của khung hình phạt là trên 01 năm.
  • Trường hợp 3: Là trường hợp một người thực hiện hành vi phạm tội, vẫn còn thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng cố tình trốn tránh và đã có quyết định truy nã, thì thời hiệu được tính lại kể từ khi người đó ra đầu thú hoặc bị bắt giữ.

4. Những trường hợp không áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự

Theo quy định tại Điều 28 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì không áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 27 của Bộ luật hình sự 2015 đối với các tội phạm sau đây:

5. Tội phạm hình sự có bao gồm những hành vi mang tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể do con người gây ra hay không?

Căn cứ theo quy định tại Điều 8 Bộ luật Hình sự 2015 như sau:

Khái niệm tội phạm

1. Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự.

2. Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác.

Để được xem là tội phạm hình sự thì nó phải là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự,... mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự.

Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không phải là tội phạm (không đến mức phải xử lý hình sự thì không được xem là tội phạm).

6. Không áp dụng hình phạt tử hình đối với đối tượng nào theo Bộ luật Hình sự mới nhất 2025?

Theo quy định tại Điều 40 Bộ luật Hình sự hiện hành , hình phạt tử hình không được áp dụng trong các trường hợp sau:

  • Người dưới 18 tuổi tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội
    Hình phạt tử hình không áp dụng với người chưa thành niên, dù họ có phạm tội đặc biệt nghiêm trọng.
  • Phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi tại thời điểm xét xử hoặc thi hành án
    Đây là quy định thể hiện tính nhân đạo trong pháp luật hình sự, nhằm bảo vệ quyền sống và lợi ích của thai nhi, trẻ nhỏ.
  • Người bị kết án tử hình nhưng được Chủ tịch nước ân giảm
    Trong trường hợp này, hình phạt tử hình sẽ được chuyển sang tù chung thân.
  • Một số trường hợp đặc biệt khác trong quá trình thi hành án
    Ví dụ: Người bị kết án tử hình mắc bệnh hiểm nghèo hoặc lâm vào tình trạng đặc biệt như bị tâm thần, mang thai sau khi bị kết án... sẽ được tạm hoãn hoặc không thi hành án theo quy định pháp luật.

Như vậy, hình phạt tử hình chỉ áp dụng trong phạm vi nghiêm ngặt đối với những người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và không thuộc các trường hợp bị loại trừ nêu trên. Nếu bạn cần mình cung cấp danh sách cụ thể các tội danh có thể bị áp dụng hình phạt tử hình, vui lòng cho biết.

7. Những câu hỏi thường gặp

7.1. Tại sao cần phải phân tích yếu tố cấu thành tội phạm trong quá trình xử lý hình sự?

Việc phân tích các yếu tố cấu thành tội phạm là cơ sở quan trọng để xác định chính xác hành vi có phải là tội phạm hay không, và nếu có thì thuộc tội danh nào. Mỗi tội danh trong Bộ luật Hình sự đều được xây dựng dựa trên các yếu tố như khách thể, mặt khách quan, chủ thể và mặt chủ quan. Việc thiếu một trong những yếu tố này có thể khiến hành vi không đủ điều kiện để xử lý hình sự. Đồng thời, việc phân tích cụ thể từng yếu tố giúp cơ quan tiến hành tố tụng tránh oan sai, bảo đảm công bằng và đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đây cũng là cơ sở để áp dụng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng hoặc xem xét miễn trách nhiệm hình sự trong những trường hợp đặc biệt.

Cartoon Crime Man Hands In Handcuff At Back Isolated Close Up Law  Perpetrator At Prison Stock Illustration - Download Image Now - iStock

Tại sao cần phải phân tích yếu tố cấu thành tội phạm trong quá trình xử lý hình sự?

7.2. Một hành vi trái pháp luật nhưng gây hậu quả nhỏ có bị coi là tội phạm không?

Không phải mọi hành vi trái pháp luật đều là tội phạm. Bộ luật Hình sự quy định rằng hành vi có dấu hiệu tội phạm nhưng gây hậu quả không đáng kể, tính chất nguy hiểm cho xã hội ở mức thấp, thì không bị coi là tội phạm. Những trường hợp này có thể bị xử lý bằng các biện pháp khác như phạt hành chính, buộc bồi thường dân sự, hoặc xử lý nội bộ. Ví dụ, một người lấy cắp món đồ nhỏ giá trị vài chục nghìn đồng mà không có tình tiết tăng nặng, không tái phạm, có thể chỉ bị xử phạt hành chính thay vì truy cứu trách nhiệm hình sự. Do đó, hậu quả và tính nguy hiểm của hành vi là yếu tố quan trọng trong việc đánh giá có cấu thành tội phạm hay không.