Hình phạt bổ sung đối với người được hưởng án treo
Hình phạt bổ sung đối với người được hưởng án treo

1. Một số quy định về Án treo

Án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, được Tòa án áp dụng đối với người phạm tội bị phạt tù không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, xét thấy không cần bắt họ phải chấp hành hình phạt tù.

Theo đó, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định: Khi xử phạt tù không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ 01 năm đến 05 năm và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, Tòa án giao người được hưởng án treo cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi người đó cư trú để giám sát, giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó. Người được hưởng án treo không được xuất cảnh trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định.

Một số quy định về Án treo
Một số quy định về Án treo

Nghĩa vụ của người được hưởng án treo: có mặt theo giấy triệu tập và cam kết việc chấp hành án theo quy định; thực hiện nghiêm chỉnh cam kết trong việc tuân thủ pháp luật, nghĩa vụ công dân, nội quy, quy chế của nơi cư trú, nơi làm việc, học tập; chấp hành đầy đủ hình phạt bổ sung, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp vì lý do khách quan được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận; chịu sự giám sát, giáo dục của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi cư trú, nơi làm việc; phải có mặt theo yêu cầu của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu; hằng tháng phải báo cáo bằng văn bản với Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục về tình hình chấp hành nghĩa vụ của mình.

Người được hưởng án treo có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 60 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian thử thách, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.

2. Người được hưởng án treo được nhận quyết định thi hành án treo trong vòng bao nhiêu ngày?

Người được hưởng án treo được nhận quyết định thi hành án treo trong vòng bao nhiêu ngày?

Người được hưởng án treo được nhận quyết định thi hành án treo trong vòng bao nhiêu ngày?

Căn cứ Điều 84 Luật Thi hành án hình sự 2019 quy định quyết định thi hành án treo như sau:

1. Quyết định thi hành án treo phải ghi rõ họ, tên, chức vụ người ra quyết định; bản án, quyết định được thi hành; tên cơ quan có nhiệm vụ thi hành; họ, tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của người được hưởng án treo; mức hình phạt tù và thời gian thử thách của người được hưởng án treo; hình phạt bổ sung, trừ hình phạt bổ sung là hình phạt tiền; hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định tại khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục người được hưởng án treo.

2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định thi hành án treo, Tòa án phải gửi quyết định đó cho cá nhân, cơ quan sau đây:

a) Người được hưởng án treo và người đại diện trong trường hợp người được hưởng án treo là người dưới 18 tuổi;

b) Viện kiểm sát cùng cấp;

c) Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục người được hưởng án treo, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi người được hưởng án treo làm việc;

d) Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục người được hưởng án treo;

đ) Sở Tư pháp nơi Tòa án đã ra quyết định thi hành án có trụ sở.

Như vậy, đối chiếu theo quy định này thì trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định thi hành án treo, Tòa án phải gửi quyết định đó cho cá nhân được hưởng án treo. Tới giờ là 1 tuần kể từ khi con của anh/chị được Tòa tuyên hưởng án treo mà vẫn chưa nhận được quyết định thì con của anh/chị có thể làm đơn hỏi gửi đến Tòa án về quyết định hưởng án treo của mình theo quy định.

3. Hình phạt bổ sung đối với người được hưởng án treo được pháp luật quy định như thế nào ?

Người được hưởng án treo vẫn có thể phải chấp hành hình phạt bổ sung, tuy nhiên không áp dụng tất cả các loại mà chỉ giới hạn trong một số hình phạt nhất định. Cụ thể, theo khoản 3 Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015 , người bị xử án treo có thể bị áp dụng các hình phạt bổ sung như: phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, theo quy định tại Điều 30 và Điều 36 Bộ luật Hình sự.

Trong một số trường hợp, khi Bộ luật Hình sự quy định hình phạt bổ sung là bắt buộc đối với tội danh cụ thể, thì người được hưởng án treo vẫn phải thi hành hình phạt bổ sung đó. Vấn đề này đã được hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/1990 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao, theo đó:

Đối với các tội mà luật quy định hình phạt bổ sung là bắt buộc, thì người được hưởng án treo vẫn phải chấp hành hình phạt bổ sung đó.

Thời điểm thi hành hình phạt bổ sung được tính từ ngày tuyên bản án sơ thẩm đầu tiên, không phụ thuộc vào thời gian thử thách của án treo. Mặc dù được ban hành từ năm 1990, hướng dẫn này vẫn phù hợp với thực tiễn xét xử hiện nay và các quy định về án treo trong Bộ luật Hình sự hiện hành.

4. Các giai đoạn thực hiện tội phạm là gì?

Các giai đoạn thực hiện tội phạm là các bước của quá trình thực hiện tội phạm cố ý được phân biệt với nhau bởi các dấu hiệu, biển hiệu nhằm đánh giá sự diễn biến mức độ thực hiện ý định phạm tội, làm cơ sở cho việc xác định phạm vi và mức độ trách nhiệm hình sự và hình phạt.

Các giai đoạn phạm tội chỉ diễn ra trong các tội được thực hiện bằng lỗi cố ý trực tiếp. Đối với tội vô ý, người phạm tội không có ý định phạm tội, không mong muốn hậu quả xảy ra cho nên tội vô ý chỉ có thể là những tội đã hoàn thành, không có giai đoạn chuẩn bị phạm tội hay phạm tội chưa đạt.

Quá trình thực hiện tội phạm có ba giai đoạn: giai đoạn chuẩn bị phạm tội, giai đoạn phạm tội chưa đạt và giai đoạn tội phạm đã hoàn thành.

Căn cứ theo quy định tại Điều 14 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bởi khoản 4 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật hình sự 2017 quy định về chuẩn bị phạm tội như sau:

Chuẩn bị phạm tội

1. Chuẩn bị phạm tội là tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm hoặc thành lập, tham gia nhóm tội phạm, trừ trường hợp thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm quy định tại Điều 109, điểm a khoản 2 Điều 113 hoặc điểm a khoản 2 Điều 299 của Bộ luật này.

2. Người chuẩn bị phạm tội quy định tại một trong các điều 108, 109, 110, 111, 112, 113, 114, 115, 116, 117, 118, 119, 120, 121, 123, 134, 168, 169, 207, 299, 300, 301, 302, 303 và 324 của Bộ luật này thì phải chịu trách nhiệm hình sự.

3. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chuẩn bị phạm tội quy định tại Điều 123, Điều 168 của Bộ luật này thì phải chịu trách nhiệm hình sự.

Theo đó, chuẩn bị phạm tội là quá trình tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm hoặc thành lập, tham gia nhóm tội phạm.

Căn cứ theo quy định tại Điều 15 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về phạm tội chưa đạt như sau:

Phạm tội chưa đạt

Phạm tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội.

Người phạm tội chưa đạt phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa đạt.

Theo đó, việc cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội được xem là phạm tội chưa đạt, người phạm tội chưa đạt phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa đạt.

Tội phạm đã hoàn thành khi hành vi phạm tội đã thoả mãn đầy đủ các dấu hiệu được mô tả trong cấu thành tội phạm.

Căn cứ theo quy định tại Điều 16 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội như sau:

Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội

Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là tự mình không thực hiện tội phạm đến cùng, tuy không có gì ngăn cản.

Người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm; nếu hành vi thực tế đã thực hiện có đủ yếu tố cấu thành của một tội khác, thì người đó phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này.

Theo đó, có thể hiểu tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là tự mình không thực hiện tội phạm đến cùng, tuy không có gì ngăn cản.

Người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm; nếu hành vi thực tế đã thực hiện có đủ yếu tố cấu thành của một tội khác, thì người đó phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này.

5. Tội phạm hình sự có bao gồm những hành vi mang tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể do con người gây ra hay không?

Căn cứ theo quy định tại Điều 8 Bộ luật Hình sự 2015 như sau:

Khái niệm tội phạm

1. Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự.

2. Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác.

Để được xem là tội phạm hình sự thì nó phải là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự,... mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự.

Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không phải là tội phạm (không đến mức phải xử lý hình sự thì không được xem là tội phạm).

6. Không áp dụng hình phạt tử hình đối với đối tượng nào theo Bộ luật Hình sự mới nhất 2025?

Theo quy định tại Điều 40 Bộ luật Hình sự hiện hành , hình phạt tử hình không được áp dụng trong các trường hợp sau:

  • Người dưới 18 tuổi tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội
    Hình phạt tử hình không áp dụng với người chưa thành niên, dù họ có phạm tội đặc biệt nghiêm trọng.
  • Phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi tại thời điểm xét xử hoặc thi hành án
    Đây là quy định thể hiện tính nhân đạo trong pháp luật hình sự, nhằm bảo vệ quyền sống và lợi ích của thai nhi, trẻ nhỏ.
  • Người bị kết án tử hình nhưng được Chủ tịch nước ân giảm
    Trong trường hợp này, hình phạt tử hình sẽ được chuyển sang tù chung thân.
  • Một số trường hợp đặc biệt khác trong quá trình thi hành án
    Ví dụ: Người bị kết án tử hình mắc bệnh hiểm nghèo hoặc lâm vào tình trạng đặc biệt như bị tâm thần, mang thai sau khi bị kết án... sẽ được tạm hoãn hoặc không thi hành án theo quy định pháp luật.

Như vậy, hình phạt tử hình chỉ áp dụng trong phạm vi nghiêm ngặt đối với những người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và không thuộc các trường hợp bị loại trừ nêu trên. Nếu bạn cần mình cung cấp danh sách cụ thể các tội danh có thể bị áp dụng hình phạt tử hình, vui lòng cho biết.

7. Những câu hỏi thường gặp

7.1. Tại sao cần phải phân tích yếu tố cấu thành tội phạm trong quá trình xử lý hình sự?

Việc phân tích các yếu tố cấu thành tội phạm là cơ sở quan trọng để xác định chính xác hành vi có phải là tội phạm hay không, và nếu có thì thuộc tội danh nào. Mỗi tội danh trong Bộ luật Hình sự đều được xây dựng dựa trên các yếu tố như khách thể, mặt khách quan, chủ thể và mặt chủ quan. Việc thiếu một trong những yếu tố này có thể khiến hành vi không đủ điều kiện để xử lý hình sự. Đồng thời, việc phân tích cụ thể từng yếu tố giúp cơ quan tiến hành tố tụng tránh oan sai, bảo đảm công bằng và đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đây cũng là cơ sở để áp dụng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng hoặc xem xét miễn trách nhiệm hình sự trong những trường hợp đặc biệt.

Cartoon Crime Man Hands In Handcuff At Back Isolated Close Up Law  Perpetrator At Prison Stock Illustration - Download Image Now - iStock

Tại sao cần phải phân tích yếu tố cấu thành tội phạm trong quá trình xử lý hình sự?

7.2. Một hành vi trái pháp luật nhưng gây hậu quả nhỏ có bị coi là tội phạm không?

Không phải mọi hành vi trái pháp luật đều là tội phạm. Bộ luật Hình sự quy định rằng hành vi có dấu hiệu tội phạm nhưng gây hậu quả không đáng kể, tính chất nguy hiểm cho xã hội ở mức thấp, thì không bị coi là tội phạm. Những trường hợp này có thể bị xử lý bằng các biện pháp khác như phạt hành chính, buộc bồi thường dân sự, hoặc xử lý nội bộ. Ví dụ, một người lấy cắp món đồ nhỏ giá trị vài chục nghìn đồng mà không có tình tiết tăng nặng, không tái phạm, có thể chỉ bị xử phạt hành chính thay vì truy cứu trách nhiệm hình sự. Do đó, hậu quả và tính nguy hiểm của hành vi là yếu tố quan trọng trong việc đánh giá có cấu thành tội phạm hay không.