Tử hình là gì? Một liều thuốc tiêm dùng để thi hành án tử hình cho tử tù gồm những loại thuốc nào?
Tử hình là gì? Một liều thuốc tiêm dùng để thi hành án tử hình cho tử tù gồm những loại thuốc nào?

1. Tử hình là gì? Một liều thuốc tiêm dùng để thi hành án tử hình cho tử tù gồm những loại thuốc nào?

Theo khoản 1 Điều 40 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), tử hình là hình phạt đặc biệt chỉ áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng thuộc một trong nhóm các tội xâm phạm an ninh quốc gia, xâm phạm tính mạng con người, các tội phạm về ma túy, tham nhũng và một số tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác do Bộ luật Hình sự quy định.

Theo Điều 4 Nghị định 43/2020/NĐ-CP quy định thuốc sử dụng cho thi hành án tử hình như sau:

  • Thuốc tiêm để sử dụng cho thi hành án tử hình bao gồm:
    • Thuốc làm mất tri giác;
    • Thuốc làm liệt hệ vận động;
    • Thuốc làm ngừng hoạt động của tim.
  • Một liều thuốc gồm 03 loại thuốc quy định tại khoản 1 Điều này và dùng cho 01 người.
  • Thuốc sử dụng cho thi hành án tử hình do Bộ Y tế cấp theo đề nghị của Bộ Công an, Bộ quốc phòng.
  • Bảo quản thuốc theo điều kiện ghi trên nhãn liều thuốc, hướng dẫn của đơn vị cung cấp. Việc bàn giao thuốc phải được lập biên bản giao, nhận; niêm phong, quản lý chặt chẽ theo quy định của pháp luật.

2. Hành quyết là gì? Tử hình có phải hành quyết không?

Hành quyết là Thi hành án tử hình do người có thẩm quyền thưc hiện theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định.

Hành quyết hay chính là tử hình.

Trường hợp tiêm thuốc độc mà tử tù vẫn không chết thì giải quyết như thế nào?
Trường hợp tiêm thuốc độc mà tử tù vẫn không chết thì giải quyết như thế nào?

3. Trường hợp tiêm thuốc độc mà tử tù vẫn không chết thì giải quyết như thế nào?

Điều 6 Nghị định 43/2020/NĐ-CP quy định quy trình thực hiện tiêm thuốc như sau:

Trình tự thi hành án tử hình phải thực hiện đúng theo quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 82 Luật Thi hành án hình sự năm 2019 và quy định của Nghị định này.

  • Thuốc sử dụng cho thi hành án tử hình phải được Hội đồng thi hành án tử hình kiểm tra, mở niêm phong và lập biên bản theo quy định.
  • Người bị thi hành án tử hình được cố định vào giường với tư thế nằm ngửa, bảo đảm không làm cản trở sự lưu thông máu.
  • Cán bộ trực tiếp thi hành án tử hình chịu trách nhiệm thực hiện các bước sau:
    • Chuẩn bị đủ 03 liều thuốc (trong đó có 02 liều dự phòng);
    • Xác định tĩnh mạch để thực hiện tiêm; trường hợp không xác định được tĩnh mạch thì báo cáo Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình để yêu cầu bác sĩ hỗ trợ xác định tĩnh mạch;
    • Đưa kim tiêm đã nối sẵn với ống truyền thuốc vào tĩnh mạch đã được xác định theo quy trình:
  • Bước 1: Tiêm thuốc làm mất tri giác.

Sau khi tiêm thuốc xong, cán bộ chuyên môn thực hiện thi hành án tử hình phải tiến hành kiểm tra, nếu người bị thi hành án tử hình chưa mất tri giác thì tiếp tục tiêm thuốc cho đến khi họ mất tri giác.

  • Bước 2: Tiêm thuốc làm liệt hệ vận động.
  • Bước 3: Tiêm thuốc làm ngừng hoạt động của tim.
    • Kiểm tra hoạt động tim của người bị thi hành án tử hình qua máy điện tâm đồ. Trường hợp sau mười phút mà người bị thi hành án tử hình chưa chết, cán bộ kiểm tra phải báo cáo Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình để ra lệnh sử dụng thuốc dự phòng;

Mỗi lần tiêm thuốc sau mười phút mà người bị thi hành án tử hình chưa chết, cán bộ kiểm tra phải báo cáo Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình để ra lệnh tiếp tục sử dụng liều thuốc dự phòng tiêm lần thứ hai, thứ ba;

Trường hợp tiêm hết liều thuốc thứ ba sau mười phút mà người bị thi hành án chưa chết thì Đội trưởng Đội thi hành án phải báo cáo Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình ra quyết định tạm dừng thi hành án.

  • Việc thực hiện các bước theo quy định tại các điểm b, c và d khoản 4 Điều này có thể được tiến hành theo phương pháp tự động hoặc trực tiếp.
  • Theo lệnh của Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình, bác sĩ pháp y tiến hành kiểm tra, xác định tình trạng của người bị thi hành án tử hình và báo cáo kết quả cho Hội đồng.
  • Sau khi bác sĩ pháp y kết luận người bị thi hành án tử hình đã chết, theo lệnh của Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình, cán bộ thi hành án tử hình ngừng truyền và đưa kim tiêm, đường ống dẫn ra khỏi người bị thi hành án tử hình.
  • Hội đồng thi hành án tử hình lập biên bản theo quy định về việc người bị thi hành án đã chết.
  • Việc giải quyết các thủ tục sau khi người bị thi hành án đã chết thực hiện theo quy định tại các điểm e, g và h khoản 4 Điều 82 và Điều 83 Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

Như vậy, trường hợp sau mười phút mà người bị thi hành án tử hình chưa chết, cán bộ kiểm tra phải báo cáo Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình để ra lệnh sử dụng thuốc dự phòng tiêm lần thứ hai, thứ ba. Nếu đã tiêm hết liều thuốc thứ ba sau 10 phút mà người bị thi hành án chưa chết thì Đội trưởng Đội thi hành án phải báo cáo Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình ra quyết định tạm dừng thi hành án

4. Sau khi tuyên án bao lâu thi thi hành án tử hình? Hoãn thi hành án với người bị kết án tử hình khi nào?
4. Sau khi tuyên án bao lâu thi thi hành án tử hình? Hoãn thi hành án với người bị kết án tử hình khi nào?

4. Sau khi tuyên án bao lâu thi thi hành án tử hình? Hoãn thi hành án với người bị kết án tử hình khi nào?

4.1. Sau khi tuyên án bao lâu thi thi hành án tử hình?

Căn cứ theo Điều 364 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định như sau:

Thẩm quyền và thủ tục ra quyết định thi hành án
1. Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm có thẩm quyền ra quyết định thi hành án hoặc ủy thác cho Chánh án Tòa án khác cùng cấp ra quyết định thi hành án.
2. Thời hạn ra quyết định thi hành án là 07 ngày kể từ ngày bản án, quyết định sơ thẩm có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày nhận được bản án, quyết định phúc thẩm, quyết định giám đốc thẩm, quyết định tái thẩm.
Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được quyết định ủy thác thi hành của Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm thì Chánh án Tòa án được ủy thác phải ra quyết định thi hành án.
3. Trường hợp người bị kết án phạt tù đang tại ngoại thì quyết định thi hành án phạt tù phải ghi rõ trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được quyết định, người đó phải có mặt tại cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện để thi hành án.
Trường hợp người bị kết án phạt tù đang tại ngoại mà bỏ trốn thì Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi hành án yêu cầu cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh nơi người bị kết án phạt tù đang tại ngoại ra quyết định truy nã.

Như vậy, thời hạn ra quyết định thi hành án tử hình đối với người phạm tội là 07 ngày kể từ ngày bản án, quyết định sơ thẩm có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày nhận được bản án, quyết định phúc thẩm, quyết định giám đốc thẩm, quyết định tái thẩm.

Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được quyết định ủy thác thi hành của Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm thì Chánh án Tòa án được ủy thác phải ra quyết định thi hành án.

Trường hợp người bị kết án phạt tù đang tại ngoại thì quyết định thi hành án phạt tù phải ghi rõ trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được quyết định, người đó phải có mặt tại cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện để thi hành án.

Trường hợp người bị kết án phạt tù đang tại ngoại mà bỏ trốn thì Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi hành án yêu cầu cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh nơi người bị kết án phạt tù đang tại ngoại ra quyết định truy nã.

4.2. Khi nào hoãn thi hành án với người bị kết án tử hình?

Hội đồng thi hành án tử hình quyết định hoãn thi hành án tử hình theo quy định tại Điều 81 Luật Thi hành án hình sự 2019 nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

  • Người bị kết án tử hình thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 40 Bộ luật Hình sự 2015:
    • Phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi;
    • Người đủ 75 tuổi trở lên;
    • Người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ mà sau khi bị kết án đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn.
  • Có lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan;
  • Ngay trước khi thi hành án người bị kết án tử hình khai báo những tình tiết mới về tội phạm.

5. 3 trường hợp không áp dụng, không thi hành án tử hình mới nhất 2025

Căn cứ theo khoản 2, 3 Điều 40 Bộ luật Hình sự 2015 quy định:

Không áp dụng hình phạt tử hình đối với:

  • Người dưới 18 tuổi khi phạm tội
  • Phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi
  • Người đủ 75 tuổi trở lên khi phạm tội hoặc khi xét xử.

Không thi hành án tử hình đối với:

Người bị kết án nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

  • Phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi;
  • Người đủ 75 tuổi trở lên;
  • Người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ mà sau khi bị kết án đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn.

Trong trường hợp quy định trên hoặc trường hợp người bị kết án tử hình được ân giảm, thì hình phạt tử hình được chuyển thành tù chung thân.

Ngoài ra, tại khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự 2015 còn có quy định: Đối với trường hợp phạm tội chưa đạt, nếu điều luật được áp dụng có quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình thì áp dụng hình phạt tù không quá 20 năm;

6. Quy trình thực hiện tiêm thuốc thi hành án tử hình tiến hành thế nào?

Quy trình thực hiện tiêm thuốc thi hành án tử hình được quy định cụ thể tại Điều 6 Nghị định 43/2020/NĐ-CP

  • Trước khi tiêm thuốc:
    • Thuốc sử dụng cho thi hành án tử hình phải được Hội đồng thi hành án tử hình kiểm tra, mở niêm phong và lập biên bản theo quy định
    • Người bị thi hành án tử hình được cố định vào giường với tư thế nằm ngửa, bảo đảm không làm cản trở sự lưu thông máu.
  • Quy trình tiêm thuốc

Cán bộ trực tiếp thi hành án tử hình chịu trách nhiệm thực hiện các bước sau:

(1) Chuẩn bị đủ 03 liều thuốc (trong đó có 02 liều dự phòng);

(2) Xác định tĩnh mạch để thực hiện tiêm; trường hợp không xác định được tĩnh mạch thì báo cáo Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình để yêu cầu bác sĩ hỗ trợ xác định tĩnh mạch;

(3) Đưa kim tiêm đã nối sẵn với ống truyền thuốc vào tĩnh mạch đã được xác định theo quy trình:

  • Bước 1: Tiêm thuốc làm mất tri giác.

Sau khi tiêm thuốc xong, cán bộ chuyên môn thực hiện thi hành án tử hình phải tiến hành kiểm tra, nếu người bị thi hành án tử hình chưa mất tri giác thì tiếp tục tiêm thuốc cho đến khi họ mất tri giác.

  • Bước 2: Tiêm thuốc làm liệt hệ vận động.
  • Bước 3: Tiêm thuốc làm ngừng hoạt động của tim.

(4) Kiểm tra hoạt động tim của người bị thi hành án tử hình qua máy điện tâm đồ. Trường hợp sau mười phút mà người bị thi hành án tử hình chưa chết, cán bộ kiểm tra phải báo cáo Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình để ra lệnh sử dụng thuốc dự phòng;

Mỗi lần tiêm thuốc sau mười phút mà người bị thi hành án tử hình chưa chết, cán bộ kiểm tra phải báo cáo Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình để ra lệnh tiếp tục sử dụng liều thuốc dự phòng tiêm lần thứ hai, thứ ba;

Trường hợp tiêm hết liều thuốc thứ ba sau mười phút mà người bị thi hành án chưa chết thì Đội trưởng Đội thi hành án phải báo cáo Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình ra quyết định tạm dừng thi hành án.

Trong đó, việc thực hiện các bước theo quy định tại (2), (3), (4) có thể được tiến hành theo phương pháp tự động hoặc trực tiếp.

  • Sau khi tiêm thuốc xong
    • Theo lệnh của Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình, bác sĩ pháp y tiến hành kiểm tra, xác định tình trạng của người bị thi hành án tử hình và báo cáo kết quả cho Hội đồng.
    • Sau khi bác sĩ pháp y kết luận người bị thi hành án tử hình đã chết, theo lệnh của Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình, cán bộ thi hành án tử hình ngừng truyền và đưa kim tiêm, đường ống dẫn ra khỏi người bị thi hành án tử hình.
    • Hội đồng thi hành án tử hình lập biên bản theo quy định về việc người bị thi hành án đã chết.
    • Việc giải quyết các thủ tục sau khi người bị thi hành án đã chết thực hiện theo quy định tại các điểm e, g và h khoản 4 Điều 82 và Điều 83 Luật Thi hành án hình sự 2019.

7. Câu hỏi thường gặp

7.1. Thuốc tiêm để thi hành án tử hình gồm những loại nào?

Thuốc sử dụng trong thi hành án tử hình gồm ba loại, được tiêm lần lượt theo thứ tự:

  1. Thuốc gây mất tri giác

  2. Thuốc làm liệt hệ vận động

  3. Thuốc làm ngừng hoạt động của tim

7.2. Ai là người ra lệnh thi hành án tử hình?

Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình là người có thẩm quyền ra lệnh bắt đầu, tiếp tục hoặc tạm dừng thi hành án tử hình theo quy định pháp luật.

7.3. Trường hợp người bị thi hành án chưa chết sau khi tiêm đủ 3 liều thuốc thì xử lý như thế nào?

Nếu sau khi đã tiêm 3 liều thuốc (1 liều chính và 2 liều dự phòng), người bị thi hành án vẫn chưa chết, thì Đội trưởng Đội thi hành án phải báo cáo Chủ tịch Hội đồng để ra quyết định tạm dừng thi hành án.

7.4. Quy trình kiểm tra thuốc trước khi thi hành án tử hình như thế nào?

Trước khi tiêm thuốc, Hội đồng thi hành án tử hình phải kiểm tra, mở niêm phong và lập biên bản về thuốc sử dụng theo đúng quy định pháp luật để bảo đảm tính minh bạch và an toàn.