Trường hợp nào áp dụng khoan hồng với người phạm tội?
Trường hợp nào áp dụng khoan hồng với người phạm tội?

1. Trường hợp nào áp dụng khoan hồng với người phạm tội?

Theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 3 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bởi điểm a khoản 1 Điều 1 Luật Sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017 thì người phạm tội có thể được hưởng chính sách khoan hồng của nhà nước nếu:

  • Tự thú, đầu thú;
  • Thành khẩn khai báo, tố giác đồng phạm;
  • Lập công chuộc tội;
  • Tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa;
  • Bồi thường thiệt hại gây ra.
6 chính sách khoan hồng trong Bộ luật Hình sự mới nhất 2025
6 chính sách khoan hồng trong Bộ luật Hình sự mới nhất 2025

2. 6 chính sách khoan hồng trong Bộ luật Hình sự mới nhất 2025

Bộ luật Hình sự năm 2015 đã đưa ra nhiều chính sách khoan hồng nhằm thể hiện tinh thần nhân đạo của Nhà nước đối với người phạm tội. Những quy định này góp phần khuyến khích họ ăn năn, sửa sai và nỗ lực trở thành người có ích cho cộng đồng. 6 chính sách khoan hồng trong Bộ luật Hình sự mới nhất 2025 như sau:

2.1. Phạt tù cho hưởng án treo

Căn cứ theo Khoản 1 Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015 quy định: Khi xử phạt tù không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ 01 năm đến 05 năm và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo Luật thi hành án hình sự.

2.2. Cải tạo không giam giữ

Căn cứ theo Khoản 1 Điều 36 Bộ luật Hình sự 2015 quy định: Cải tạo không giam giữ được áp dụng từ 06 tháng đến 03 năm đối với người phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng do Bộ luật này quy định mà đang có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi cư trú rõ ràng nếu xét thấy không cần thiết phải cách ly người phạm tội khỏi xã hội.

Nếu người bị kết án đã bị tạm giữ, tạm giam thì thời gian tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, cứ 01 ngày tạm giữ, tạm giam bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ.

2.3. Tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù

Căn cứ theo Khoản 1 Điều 68 Bộ luật Hình sự 2015: Người đang chấp hành hình phạt tù mà thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 67 của Bộ luật này, thì có thể được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù.

Người bị xử phạt tù có thể được hoãn chấp hành hình phạt trong các trường hợp sau đây:

  • Bị bệnh nặng thì được hoãn cho đến khi sức khỏe được hồi phục;
  • Phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, thì được hoãn cho đến khi con đủ 36 tháng tuổi;
  • Là người lao động duy nhất trong gia đình, nếu phải chấp hành hình phạt tù thì gia đình sẽ gặp khó khăn đặc biệt, được hoãn đến 01 năm, trừ trường hợp người đó bị kết án về các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác là tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;
  • Bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng, do nhu cầu công vụ, thì được hoãn đến 01 năm.

2.4. Miễn chấp hành hình phạt

Căn cư theo Điều 62 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về miễn chấp hành hình phạt như sau:

  • Người bị kết án được miễn chấp hành hình phạt khi được đặc xá hoặc đại xá.
  • Người bị kết án cải tạo không giam giữ hoặc tù có thời hạn đến 03 năm chưa chấp hành hình phạt thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành hình phạt, nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
    • Sau khi bị kết án đã lập công;
    • Mắc bệnh hiểm nghèo;
    • Chấp hành tốt pháp luật, có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn và xét thấy người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa.
  • Người bị kết án phạt tù có thời hạn trên 03 năm, chưa chấp hành hình phạt nếu đã lập công lớn hoặc mắc bệnh hiểm nghèo và người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa, thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành toàn bộ hình phạt.
  • Người bị kết án phạt tù đến 03 năm, đã được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt, nếu trong thời gian được tạm đình chỉ mà đã lập công hoặc chấp hành tốt pháp luật, hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn và xét thấy người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa, thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành phần hình phạt còn lại.
  • Người bị kết án phạt tiền đã tích cực chấp hành được một phần hình phạt nhưng bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể tiếp tục chấp hành được phần hình phạt còn lại hoặc lập công lớn, thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành phần tiền phạt còn lại.
  • Người bị phạt cấm cư trú hoặc quản chế, nếu đã chấp hành được một phần hai thời hạn hình phạt và cải tạo tốt, thì theo đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự cấp huyện nơi người đó chấp hành hình phạt, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành phần hình phạt còn lại.

Lưu ý: Người được miễn chấp hành hình phạt theo quy định tại Điều này vẫn phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ dân sự do Tòa án tuyên trong bản án.

2.5. Giảm hình phạt đã tuyên

Căn cứ Điều 105 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về việc giảm mức hình phạt đã tuyên

  • Người dưới 18 tuổi phạm tội bị phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù, nếu có tiến bộ và đã chấp hành được một phần tư thời hạn, thì được Tòa án xét giảm;

Riêng đối với hình phạt tù, mỗi lần có thể giảm đến 04 năm nhưng phải bảo đảm đã chấp hành ít nhất là hai phần năm mức hình phạt đã tuyên.

  • Người dưới 18 tuổi phạm tội bị phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù, nếu lập công hoặc mắc bệnh hiểm nghèo, thì được xét giảm ngay và có thể được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại.
  • Người dưới 18 tuổi phạm tội bị phạt tiền nhưng bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra hoặc lập công lớn, thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định giảm hoặc miễn việc chấp hành phần tiền phạt còn lại.

2.6. Tha tù trước thời hạn có điều kiện

Căn cứ theo Điều 66 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi 2017 quy định về việc tha tù trước thời hạn như sau:

  • Người đang chấp hành án phạt tù về tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng mà đã được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù hoặc người đang chấp hành án phạt tù về tội phạm ít nghiêm trọng có thể được tha tù trước thời hạn khi có đủ các điều kiện sau đây:
    • Phạm tội lần đầu;
    • Có nhiều tiến bộ, có ý thức cải tạo tốt;
    • Có nơi cư trú rõ ràng;
    • Đã chấp hành xong hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại và án phí;
    • Đã chấp hành được ít nhất là một phần hai mức phạt tù có thời hạn hoặc ít nhất là 15 năm đối với trường hợp bị phạt tù chung thân nhưng đã được giảm xuống tù có thời hạn.

Trường hợp người phạm tội là người có công với cách mạng, thân nhân của người có công với cách mạng, người đủ 70 tuổi trở lên, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi thì phải chấp hành được ít nhất là một phần ba mức phạt tù có thời hạn hoặc ít nhất là 12 năm đối với trường hợp bị phạt tù chung thân nhưng đã được giảm xuống tù có thời hạn;

    • Không thuộc một trong các trường hợp phạm tội quy định tại khoản 2 Điều 66 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi 2017.
Người phạm tội phạm nhiều tội sẽ quyết định hình phạt như thế nào?
Người phạm tội phạm nhiều tội sẽ quyết định hình phạt như thế nào?

3. Người phạm tội phạm nhiều tội sẽ quyết định hình phạt như thế nào?

Căn cứ Điều 55 Bộ luật Hình sự 2015 khi người phạm tội phạm nhiều tội thì Tòa án sẽ quyết định hình phạt đối với từng tội và tổng hợp hình phạt như sau:

  • Đối với hình phạt chính:
    • Nếu các hình phạt đã tuyên cùng là cải tạo không giam giữ hoặc cùng là tù có thời hạn, thì các hình phạt đó được cộng lại thành hình phạt chung; hình phạt chung không được vượt quá 03 năm đối với hình phạt cải tạo không giam giữ, 30 năm đối với hình phạt tù có thời hạn;
    • Nếu các hình phạt đã tuyên là cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn, thì hình phạt cải tạo không giam giữ được chuyển đổi thành hình phạt tù theo tỷ lệ cứ 03 ngày cải tạo không giam giữ được chuyển đổi thành 01 ngày tù để tổng hợp thành hình phạt chung;
    • Nếu hình phạt nặng nhất trong số các hình phạt đã tuyên là tù chung thân thì hình phạt chung là tù chung thân;
    • Nếu hình phạt nặng nhất trong số các hình phạt đã tuyên là tử hình thì hình phạt chung là tử hình;
    • Phạt tiền không tổng hợp với các loại hình phạt khác; các khoản tiền phạt được cộng lại thành hình phạt chung;
    • Trục xuất không tổng hợp với các loại hình phạt khác;
  • Đối với hình phạt bổ sung:
    • Nếu các hình phạt đã tuyên là cùng loại thì hình phạt chung được quyết định trong giới hạn do Bộ luật Hình sự 2015 quy định đối với loại hình phạt đó; riêng đối với hình phạt tiền thì các khoản tiền phạt được cộng lại thành hình phạt chung;
    • Nếu các hình phạt đã tuyên là khác loại thì người bị kết án phải chấp hành tất cả các hình phạt đã tuyên.

4. Câu hỏi thường gặp

4.1. Án treo có phải là miễn hoàn toàn trách nhiệm hình sự không?

Không. Án treo không đồng nghĩa với miễn trách nhiệm hình sự. Người được hưởng án treo vẫn bị tuyên phạt tù nhưng không phải chấp hành án trong trại giam, mà được cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát của cơ quan chức năng trong thời gian thử thách.

4.2. Người chưa đủ 18 tuổi có được áp dụng chính sách khoan hồng không?

Có. Pháp luật hình sự dành chính sách khoan hồng đặc biệt cho người chưa thành niên phạm tội, như giảm nhẹ hình phạt, miễn chấp hành hình phạt còn lại nếu có tiến bộ, lập công, hoặc gặp hoàn cảnh đặc biệt.

4.3. Tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù khác gì với hoãn chấp hành hình phạt tù?

  • Hoãn chấp hành hình phạt tù áp dụng trước khi người bị kết án bắt đầu thi hành án.

  • Tạm đình chỉ áp dụng trong thời gian người đó đang chấp hành án và có lý do chính đáng (bệnh nặng, hoàn cảnh đặc biệt...).
    Cả hai đều là hình thức khoan hồng nhưng khác nhau về thời điểm áp dụng.

4.4. Việc giảm hình phạt đã tuyên được thực hiện trong những trường hợp nào?

Người bị kết án có thể được giảm hình phạt nếu:

  • Đã chấp hành tốt một phần hình phạt

  • Có tiến bộ rõ rệt

  • Lập công trong thời gian thi hành án

  • Mắc bệnh hiểm nghèo hoặc có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
    Việc giảm án phải do Tòa án quyết định.