Mẫu đơn trình báo chuẩn pháp lý kèm hướng dẫn soạn thảo chi tiết mới nhất 2025
Mẫu đơn trình báo chuẩn pháp lý kèm hướng dẫn soạn thảo chi tiết mới nhất 2025

1. Mẫu đơn trình báo chuẩn pháp lý kèm hướng dẫn soạn thảo chi tiết mới nhất 2025

Đơn trình báo công an là văn bản mà công dân sử dụng để thông báo hoặc báo cáo với cơ quan công an về những hành vi, sự việc hoặc vấn đề có dấu hiệu vi phạm pháp luật mà họ phát hiện hoặc là người bị hại. Đây là một phương tiện chính thức để yêu cầu công an can thiệp, xử lý và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người trình báo.

Bạn có thể tham khảo Mẫu đơn trình báo chuẩn pháp lý dưới đây:

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

—————-

…, ngày…tháng…năm…

ĐƠN TRÌNH BÁO

Kính gửi: – Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận/huyện

– Viện kiểm sát nhân dân quận/huyện

Tôi tên là: …Sinh ngày:…

Chứng minh nhân dân số: …

Ngày cấp:… Nơi cấp: Công an tỉnh …

Hộ khẩu thường trú: …

Chỗ ở hiện tại: …

Tôi là đơn này xin trình báo với cơ quan công an vụ việc như sau:

Thứ nhất;…

Vào ngày ………………………………………………………..........………………………

……………………………………………………………………...........……….

Tiếp theo,

……………………………………………………………………............…………

……………………………………..........................................……………………

Thứ hai;…

Ngày …/…./…..

………………………………………………………………………………….........

…………………………………………………………………………….............…

Thấy có nhiều dấu hiệu bất thường nên ………………………..……….............…………..

……………………………………………………………………………….............

Như vậy, hành động của …………… chứng tỏ ... đã có ý định lừa đảo tôi

Từ những hành vi nêu trên, có thể khẳng định ông/bà…đã dùng thủ đoạn gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản của tôi với số tiền là…

Tôi cho rằng hành vi này của ông/bà …có dấu hiệu phạm tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” được quy định tại Điều 174 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung 2017). Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của tôi, tôi kính mong quý cơ quan có biện pháp ngăn chặn và và xử lý những hành vi của ông/bà…

Nay tôi viết đơn xin trình báo này mong quý cơ quan xem xét những vấn đề sau:

– Xác minh và khởi tố vụ án hình sự để điều tra, đưa ra truy tố, xét xử ông/bà … về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

– Buộc ông/bà … phải trả lại số tiền cho tôi.

Tôi xin cam kết toàn bộ nội dung đã trình bày trên là hoàn toàn đúng sự thật và chịu trách nhiệm trước pháp luật về những điều trình bày trên.

Kính mong cơ quan có thẩm quyền xem xét và giải quyết.

Xin chân thành cảm ơn!

Tài liệu đính kèm (tương tự). Người trình báo

(Ký và ghi rõ họ tên)

Hướng dẫn cách viết đơn chi tiết nhất 2025:

  • (1) Công an quận/huyện/xã/phường theo nơi xảy ra hành vi vi phạm pháp luật
  • (2), (3), (4), (5) Họ tên, Số điện thoại, Số CMND/CCCD, địa chỉ hộ khẩu và nơi ở của người làm đơn trình báo
  • (6) Miêu tả chi tiết hành vi vi phạm, các mốc thời gian liên quan đến vi phạm, tên, địa chỉ người vi phạm (nếu có)
  • (7) Những yêu cầu của người trình báo với cơ quan công an. Chẳng hạn:
    • Đề nghị xem xét hành vi vi phạm pháp luật của….
    • Đề nghị xác minh người thực hiện hành vi vi phạm…
  • (8) Những chứng cứ kèm theo mà người trình báo có được như hình ảnh vi phạm, hợp đồng, cam kết…

Lưu ý:

  • Thông tin ghi trong mẫu đơn nên thật chi tiết, chính xác, mạch lạc, rõ ràng thì quá trình giải quyết vụ việc sẽ diễn ra nhanh hơn và thuận lợi hơn.
  • Nội dung sự việc nên trình bày theo trình tự thời gian.
  • Cung cấp chi tiết thông tin người trình báo để cơ quan công an liên hệ lại dễ dàng khi cần.
  • Người trình báo nên thực hiện nộp trực tiếp tại cơ quan công an để được thụ lý vụ việc sớm nhất, tránh thất lạc.

2. Đơn trình báo nộp ở đâu?

Căn cứ tại khoản 1 Điều 5 Thông tư liên tịch 01/2017/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC quy định về cơ quan có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo tội phạm như sau:

“Điều 5. Trách nhiệm tiếp nhận, thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm

1. Các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm:

a) Cơ quan điều tra;

b) Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra;

c) Viện kiểm sát các cấp;

d) Các cơ quan, tổ chức quy định tại điểm b khoản 2 Điều 145 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 gồm: Công an xã, phường, thị trấn, Đồn Công an, Trạm Công an; Tòa án các cấp; Cơ quan báo chí và các cơ quan, tổ chức khác.

2. Thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm

a) Các cơ quan quy định tại điểm a, điểm b khoản 1 Điều này, trừ Đội An ninh ở Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây viết gọn là Đội An ninh Công an cấp huyện) có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm theo thẩm quyền điều tra của mình.

b) Viện kiểm sát giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm trong trường hợp phát hiện Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong hoạt động kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo về tội phạm hoặc có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm mà Viện kiểm sát đã yêu cầu bằng văn bản nhưng sau 15 ngày kể từ ngày cơ quan đang thụ lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm nhận văn bản yêu cầu mà không được khắc phục.”

Như vậy, người yêu cầu có thể gửi đơn trình báo tại một số cơ quan như:

  • Cơ quan điều tra;
  • Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra;
  • Viện kiểm sát các cấp;
  • Các cơ quan, tổ chức quy định tại điểm b khoản 2 Điều 145 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 gồm: Công an xã, phường, thị trấn, Đồn Công an, Trạm Công an; Tòa án các cấp; Cơ quan báo chí và các cơ quan, tổ chức khác.
Mẫu đơn trình báo chuẩn pháp lý kèm hướng dẫn soạn thảo chi tiết mới nhất 2025
Mẫu đơn trình báo chuẩn pháp lý kèm hướng dẫn soạn thảo chi tiết mới nhất 2025

3. Trách nhiệm tiếp nhận, thẩm quyền giải quyết kiến nghị khởi tố của cơ quan chức năng như thế nào?

Căn cứ vào Điều 6 Thông tư liên tịch 01/2017/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC quy định trách nhiệm tiếp nhận, thẩm quyền giải quyết kiến nghị khởi tố của cơ quan chức năng như sau:

  • Cơ quan điều tra có trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết kiến nghị khởi tố theo thẩm quyền điều tra của mình.
  • Viện kiểm sát có trách nhiệm tiếp nhận mọi kiến nghị khởi tố và chuyển ngay đến Cơ quan điều tra có thẩm quyền để giải quyết.

Viện kiểm sát giải quyết kiến nghị khởi tố trong trường hợp phát hiện Cơ quan điều tra có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong hoạt động kiểm tra, xác minh kiến nghị khởi tố hoặc có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm mà Viện kiểm sát đã yêu cầu bằng văn bản nhưng sau 15 ngày kể từ ngày cơ quan đang thụ lý, giải quyết kiến nghị khởi tố nhận văn bản yêu cầu mà không được khắc phục.

4. Đơn trình báo không thuộc thẩm quyền giải quyết thì xử lý thế nào?

Căn cứ khoản 2 Điều 146 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, trong trường hợp đơn trình báo không thuộc thẩm quyền giải quyết thì xử lý như sau:

  • Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có trách nhiệm chuyển ngay tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố kèm theo tài liệu có liên quan đã tiếp nhận cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.
  • Viện kiểm sát có trách nhiệm chuyển ngay tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố kèm theo tài liệu có liên quan đã tiếp nhận cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.
  • Trường hợp quy định tại điểm c khoản 3 Điều 145 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 thì trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày Viện kiểm sát có yêu cầu, cơ quan có thẩm quyền đang thụ lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố đó phải chuyển hồ sơ có liên quan cho Viện kiểm sát để xem xét, giải quyết.

5. Có được rút đơn trình báo công an không?

Trong một số trường hợp hoặc do 02 bên đã tự giải quyết được với nhau, hoặc do có nhầm lẫn trong việc tố cáo, người dân có nhu cầu rút đơn trình báo.

Nếu vụ việc trình báo có dấu hiệu hình sự thì Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định việc khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại như sau:

“1. Chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các Điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật Hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết.

2. Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ, trừ trường hợp có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.

3. Bị hại hoặc người đại diện của bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức.”

Như vậy, chỉ các tội phạm quy định tại khoản 1 các Điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật Hình sự thì người trình báo mới được rút đơn. Các tội phạm hình sự khác dù rút đơn thì cơ quan điều tra vẫn khởi tố vụ án hình sự.

6. Các câu hỏi thường gặp

6.1. Tố cáo là gì?

Tố cáo là việc công dân theo thủ tục do Luật này quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.

6.2. Tố cáo sai sự thật bị xử lý thế nào?

Người có hành vi tố cáo sai sự thật có thể sẽ bị xử lý theo Điều 156 Bộ luật Hình sự về Tội vu khống. Người phạm tội sẽ bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng cho đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 07 năm, tùy theo mức độ vi phạm.

6.3. Che giấu tội phạm đi báo lâu?

Phạm tội trong trường hợp lợi dụng chức vụ, quyền hạn cản trở việc phát hiện tội phạm hoặc có những hành vi khác bao che người phạm tội, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm. Như vậy, tùy vào mức độ vi phạm mà người phạm tội che giấu tội phạm có thể đi tù từ 06 tháng đến 07 năm.

6.4. Người không tố giác tội phạm là gì?

Người không tố giác là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định, trừ trường hợp không tố giác các tội quy định tại Chương XIII của Bộ luật hình sự hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

6.5. Tại sao phải che mặt tội phạm?

Cùng với đó, các cơ quan báo chí cũng không được phép quy kết tội danh khi chưa có bản án của Tòa án. Chính vì vậy, thông thường trên thực tế khi đưa tin những thủ phạm trong vụ án hình sự thì những hình ảnh sẽ được che mặt nhằm bảo vệ hình ảnh bản thân họ.