Thẩm quyền điều tra trong vụ án hình sự thuộc những cơ quan nào?
Thẩm quyền điều tra trong vụ án hình sự thuộc những cơ quan nào?

1. Thẩm quyền điều tra trong vụ án hình sự thuộc những cơ quan nào?

Theo khoản 1, 2 và khoản 3 Điều 163 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định về thẩm quyền điều tra trong vụ án hình sự như sau:

  • Cơ quan điều tra của Công an nhân dân điều tra tất cả các tội phạm, trừ những tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân và Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
  • Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân điều tra các tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự.
  • Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương điều tra tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp, tội phạm về tham nhũng, chức vụ quy định tại Chương XXIII và Chương XXIV Bộ luật Hình sự xảy ra trong hoạt động tư pháp mà người phạm tội bao gồm:
    • Cán bộ, công chức thuộc Cơ quan điều tra, Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan thi hành án, người có thẩm quyền tiến hành hoạt động tư pháp.
Phân cấp thẩm quyền điều tra trong vụ án hình sự được quy định như thế nào?
Phân cấp thẩm quyền điều tra trong vụ án hình sự được quy định như thế nào?

2. Phân cấp thẩm quyền điều tra trong vụ án hình sự được quy định như thế nào?

Đối với quy định về phân cấp thẩm quyền điều tra trong vụ án hình sự thì tại khoản 4 và khoản 5 Điều 163 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 quy định cụ thể rằng:

Cơ quan điều tra có thẩm quyền điều tra những vụ án hình sự mà tội phạm xảy ra trên địa phận của mình. Trường hợp tội phạm được thực hiện tại nhiều nơi khác nhau hoặc không xác định được địa điểm xảy ra tội phạm thì việc điều tra thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra nơi phát hiện tội phạm, nơi bị can cư trú hoặc bị bắt.

Việc phân cấp thẩm quyền điều tra như sau:

  • Cơ quan điều tra cấp huyện, Cơ quan điều tra quân sự khu vực điều tra vụ án hình sự về những tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp huyện, Tòa án quân sự khu vực;
  • Cơ quan điều tra cấp tỉnh điều tra vụ án hình sự về những tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp tỉnh hoặc những vụ án thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra cấp huyện xảy ra trên địa bàn nhiều huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương, phạm tội có tổ chức hoặc có yếu tố nước ngoài nếu xét thấy cần trực tiếp điều tra;

Cơ quan điều tra quân sự cấp quân khu điều tra vụ án hình sự về những tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự cấp quân khu hoặc những vụ án thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra cấp khu vực nếu xét thấy cần trực tiếp điều tra;

  • Cơ quan điều tra Bộ Công an, Cơ quan điều tra Bộ Quốc phòng điều tra vụ án hình sự về tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hủy để điều tra lại; vụ án hình sự về tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp liên quan đến nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, vụ án hình sự về tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp liên quan đến nhiều quốc gia nếu xét thấy cần trực tiếp điều tra.
Thời hạn điều tra trong vụ án hình sự là bao lâu mới nhất 2025?
Thời hạn điều tra trong vụ án hình sự là bao lâu mới nhất 2025?

3. Thời hạn điều tra trong vụ án hình sự là bao lâu mới nhất 2025?

Căn cứ theo quy định tại khoản 1, khoản 2, khoản 3 và khoản 4 Điều 172 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 quy định về thời hạn điều tra trong vụ án hình sự cụ thể như sau:

  • Thời hạn điều tra vụ án hình sự không quá 02 tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá 03 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá 04 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng kể từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc điều tra.
  • Trường hợp cần gia hạn điều tra do tính chất phức tạp của vụ án thì chậm nhất là 10 ngày trước khi hết thời hạn điều tra, Cơ quan điều tra phải có văn bản đề nghị Viện kiểm sát gia hạn điều tra.

Việc gia hạn điều tra được quy định như sau:

    • Đối với tội phạm ít nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra một lần không quá 02 tháng;
    • Đối với tội phạm nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra hai lần, lần thứ nhất không quá 03 tháng và lần thứ hai không quá 02 tháng;
    • Đối với tội phạm rất nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra hai lần, mỗi lần không quá 04 tháng;
    • Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra ba lần, mỗi lần không quá 04 tháng.
  • Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng mà thời hạn gia hạn điều tra đã hết nhưng do tính chất rất phức tạp của vụ án mà chưa thể kết thúc việc điều tra thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thể gia hạn thêm một lần không quá 04 tháng.
  • Đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền gia hạn thêm một lần không quá 04 tháng.
  • Trường hợp thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, nhập vụ án thì tổng thời hạn điều tra không vượt quá thời hạn quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này.

4. Câu hỏi thường gặp

4.1. Các biện pháp ngăn chặn trong điều tra hình sự gồm những gì?

Các biện pháp ngăn chặn trong điều tra hình sự bao gồm: Tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền để đảm bảo, tạm hoãn xuất cảnh. Mục đích là để ngăn chặn bị can bỏ trốn, tiêu hủy chứng cứ hoặc tiếp tục phạm tội.

4.2. Vai trò của người bị hại trong quá trình điều tra là gì?

Người bị hại có quyền trình bày ý kiến, cung cấp chứng cứ, đề nghị khởi tố hoặc không khởi tố vụ án, tham gia vào quá trình điều tra để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Họ cũng có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại nếu bị tổn thất về vật chất hoặc tinh thần.

4.3. Khi nào cơ quan điều tra được phép bắt giữ người?

Cơ quan điều tra được phép bắt giữ người khi có căn cứ cho rằng người đó đang thực hiện hành vi phạm tội quả tang, đang bị truy nã hoặc có lệnh bắt của cơ quan có thẩm quyền (theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự).

4.4. Trách nhiệm của Điều tra viên trong quá trình điều tra vụ án là gì?

Điều tra viên có trách nhiệm tiến hành các hoạt động điều tra theo đúng quy định của pháp luật, bảo đảm tính khách quan, trung thực và đầy đủ của các chứng cứ; đồng thời không được có hành vi xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng.