Quy định cụ thể về giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt 2024
Quy định cụ thể về giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt 2025

1. Giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt năm 2024

Về cơ sở pháp lý:

Theo quy định tại Điều 6 của Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt, giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt đối với hàng hóa và dịch vụ được xác định dựa trên giá bán ra hoặc giá cung ứng dịch vụ, nhưng không bao gồm thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế bảo vệ môi trường, và thuế giá trị gia tăng. Điều này có nghĩa là giá tính thuế không phải là giá cuối cùng mà người tiêu dùng trả, mà là giá trước khi các loại thuế này được cộng thêm vào. Mục đích của quy định này là nhằm tránh việc đánh thuế chồng thuế, đảm bảo tính công bằng và minh bạch trong việc tính toán thuế. Cụ thể, đối với từng loại hàng hóa và dịch vụ, giá tính thuế sẽ được xác định theo các tiêu chí rõ ràng như giá bán ra tại cửa hàng, giá nhập khẩu đối với hàng hóa nhập khẩu, hoặc giá bán buôn trong trường hợp không có giá bán lẻ rõ ràng. Những quy định này giúp định hướng doanh nghiệp và người nộp thuế trong việc tính toán và kê khai thuế tiêu thụ đặc biệt một cách chính xác và đúng quy định pháp luật.

1.1. Đối với hàng hóa sản xuất trong nước, hàng hóa nhập khẩu

Giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt đối với hàng hóa sản xuất trong nước và hàng hóa nhập khẩu được xác định dựa trên giá bán ra do cơ sở sản xuất hoặc cơ sở nhập khẩu thiết lập. Đây là mức giá chưa bao gồm thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế bảo vệ môi trường và thuế giá trị gia tăng, nhằm đảm bảo việc tính thuế không chồng chéo và phản ánh chính xác giá trị thực của hàng hóa.

Trong trường hợp hàng hóa thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt được bán cho các cơ sở kinh doanh thương mại có mối quan hệ liên kết với cơ sở sản xuất hoặc nhập khẩu, như công ty mẹ, công ty con, hoặc các công ty con trong cùng tập đoàn, thì giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt cần được xem xét cẩn trọng. Theo quy định, giá tính thuế trong những trường hợp này không được phép thấp hơn một tỷ lệ phần trăm nhất định so với giá bán bình quân mà các cơ sở kinh doanh thương mại khác mua trực tiếp từ cơ sở sản xuất hoặc nhập khẩu. Mức tỷ lệ phần trăm này do Chính phủ quy định nhằm ngăn chặn việc chuyển giá và đảm bảo công bằng trong thuế suất giữa các đơn vị kinh doanh. Điều này giúp tăng cường sự minh bạch và chính xác trong công tác quản lý thuế, tránh thất thu ngân sách và đảm bảo sự tuân thủ pháp luật về thuế tiêu thụ đặc biệt.

1.2. Đối với hàng hóa nhập khẩu tại khâu nhập khẩu

Giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt đối với hàng hóa nhập khẩu tại khâu nhập khẩu được xác định bằng tổng giá tính thuế nhập khẩu cộng với số thuế nhập khẩu phải nộp. Đây là mức giá cơ bản để tính thuế tiêu thụ đặc biệt, nhằm đảm bảo tính đúng và đủ nghĩa vụ thuế đối với các hàng hóa nhập khẩu trước khi đưa vào lưu thông trên thị trường.

Trong trường hợp hàng hóa nhập khẩu thuộc diện được miễn hoặc giảm thuế nhập khẩu, thì giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt sẽ không bao gồm phần thuế nhập khẩu đã được miễn hoặc giảm. Điều này có nghĩa là giá tính thuế sẽ được điều chỉnh để phản ánh chính xác các ưu đãi thuế nhập khẩu mà hàng hóa đó nhận được. Ngoài ra, đối với hàng hóa chịu thuế tiêu thụ đặc biệt khi nhập khẩu, khi tính thuế tiêu thụ đặc biệt phải nộp tại khâu bán ra, số thuế tiêu thụ đặc biệt đã nộp ở khâu nhập khẩu sẽ được khấu trừ. Quy định này giúp tránh tình trạng đánh thuế hai lần, đồng thời đảm bảo rằng người nộp thuế chỉ phải chịu thuế tiêu thụ đặc biệt trên phần giá trị gia tăng thêm từ khâu nhập khẩu đến khâu bán ra cuối cùng. Điều này không chỉ tạo sự công bằng trong việc áp dụng thuế mà còn khuyến khích sự minh bạch và chính xác trong việc kê khai và nộp thuế, giúp doanh nghiệp dễ dàng hơn trong việc tuân thủ các quy định thuế hiện hành.

1.3. Đối với hàng hóa gia công

Giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt đối với hàng hóa gia công được xác định dựa trên giá bán ra của hàng hóa do cơ sở giao gia công đưa ra thị trường. Nếu không có giá bán cụ thể từ cơ sở giao gia công, thì giá tính thuế sẽ được tham chiếu từ giá bán của các sản phẩm cùng loại hoặc có tính chất tương đương tại cùng thời điểm bán hàng. Việc áp dụng phương pháp này nhằm đảm bảo tính chính xác và công bằng trong việc xác định giá trị tính thuế, tránh việc định giá không phù hợp hoặc gian lận thuế. Đồng thời, điều này giúp cơ quan thuế có cơ sở rõ ràng để kiểm tra, giám sát và đối chiếu giá bán, đảm bảo nguồn thu ngân sách nhà nước từ thuế tiêu thụ đặc biệt được thực hiện đúng theo quy định pháp luật. Quy định này cũng hỗ trợ các doanh nghiệp gia công hiểu rõ trách nhiệm thuế của mình, từ đó dễ dàng tuân thủ quy định về kê khai và nộp thuế, đồng thời giảm thiểu rủi ro pháp lý liên quan đến thuế tiêu thụ đặc biệt trong quá trình sản xuất và kinh doanh.

1.4. Đối với hàng hóa bán theo phương thức trả góp, trả chậm

Giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt đối với hàng hóa được bán theo hình thức trả góp hoặc trả chậm được xác định dựa trên giá bán theo phương thức thanh toán một lần, không bao gồm các khoản lãi phát sinh từ việc trả góp hay trả chậm. Cụ thể, giá tính thuế sẽ dựa trên giá trị thực tế của hàng hóa nếu khách hàng thanh toán ngay toàn bộ số tiền, loại trừ hoàn toàn các chi phí tài chính như lãi suất trả góp hoặc trả chậm. Mục đích của quy định này là để đảm bảo rằng thuế tiêu thụ đặc biệt chỉ đánh trên giá trị gốc của hàng hóa, tránh tình trạng người tiêu dùng phải chịu thuế trên cả các khoản lãi suất tài chính, vốn không phản ánh giá trị thực của sản phẩm. Điều này giúp đảm bảo tính công bằng trong việc áp dụng thuế và tạo điều kiện thuận lợi cho cả doanh nghiệp và người tiêu dùng trong các giao dịch mua bán theo hình thức trả góp hoặc trả chậm, đồng thời giữ cho việc tính thuế tiêu thụ đặc biệt minh bạch và chính xác.

1.5. Đối với dịch vụ

Giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt đối với các dịch vụ được xác định dựa trên giá cung ứng dịch vụ do cơ sở kinh doanh đưa ra. Tùy thuộc vào từng loại hình dịch vụ cụ thể, giá cung ứng dịch vụ sẽ được tính theo các quy định riêng biệt như sau:

- Đối với dịch vụ kinh doanh gôn, giá tính thuế bao gồm toàn bộ giá bán thẻ hội viên và giá vé chơi gôn, trong đó đã bao gồm cả các khoản phí như phí chơi gôn và tiền ký quỹ (nếu có). Điều này đảm bảo rằng tất cả các chi phí liên quan đến việc chơi gôn đều được tính vào giá trị để áp thuế.

- Đối với dịch vụ kinh doanh ca-si-nô, trò chơi điện tử có thưởng, và kinh doanh đặt cược, giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt được xác định dựa trên tổng doanh thu từ các hoạt động này, sau khi trừ đi số tiền đã trả thưởng cho khách hàng. Điều này có nghĩa là chỉ phần doanh thu thực tế của cơ sở kinh doanh sau khi trả thưởng mới bị đánh thuế.

- Đối với các dịch vụ như vũ trường, mát-xa, và ka-ra-ô-kê, giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt được xác định dựa trên tổng doanh thu từ các hoạt động kinh doanh diễn ra tại các cơ sở này. Tất cả các khoản thu từ dịch vụ chính và các dịch vụ đi kèm khác trong vũ trường, cơ sở mát-xa, và ka-ra-ô-kê đều được tính vào giá trị để áp thuế.

Những quy định cụ thể này nhằm đảm bảo rằng thuế tiêu thụ đặc biệt phản ánh chính xác giá trị kinh doanh dịch vụ, đồng thời ngăn chặn việc lợi dụng để giảm thiểu nghĩa vụ thuế không đúng quy định.

1.6. Đối với hàng hóa, dịch vụ dùng để trao đổi hoặc tiêu dùng nội bộ, biếu, tặng cho

Giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt đối với hàng hóa và dịch vụ được sử dụng cho các mục đích trao đổi, tiêu dùng nội bộ, biếu, tặng, hoặc cho tặng sẽ được xác định dựa trên giá trị của hàng hóa, dịch vụ cùng loại hoặc có tính chất tương đương tại thời điểm các hoạt động này diễn ra. Cụ thể, giá tính thuế sẽ căn cứ vào mức giá của hàng hóa hoặc dịch vụ tương tự đang được cung ứng trên thị trường tại thời điểm phát sinh các giao dịch trao đổi, tiêu dùng, biếu hoặc tặng.

Điều này có nghĩa là, dù hàng hóa và dịch vụ không được bán trực tiếp mà chỉ được sử dụng cho mục đích nội bộ, biếu tặng, hoặc trao đổi, chúng vẫn phải chịu thuế tiêu thụ đặc biệt tương đương với các sản phẩm tương tự có giá trị thương mại. Quy định này giúp ngăn chặn tình trạng các cơ sở kinh doanh lợi dụng việc trao đổi, biếu tặng hoặc tiêu dùng nội bộ để tránh né thuế tiêu thụ đặc biệt, đảm bảo công bằng và minh bạch trong việc thu thuế từ các hoạt động kinh doanh và tiêu dùng. Việc xác định giá tính thuế dựa trên hàng hóa, dịch vụ cùng loại hoặc tương đương cũng tạo cơ sở để cơ quan thuế thực hiện kiểm tra và giám sát chặt chẽ, từ đó bảo vệ nguồn thu ngân sách và đảm bảo tuân thủ đúng pháp luật thuế hiện hành.

Quy định cụ thể về giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt 2024

Lưu ý quan trọng:

Khi xác định giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt cho hàng hóa và dịch vụ theo các quy định nêu tại Điều này, cần lưu ý rằng giá tính thuế không chỉ bao gồm giá cơ bản mà còn phải tính cả các khoản thu thêm (nếu có) mà cơ sở kinh doanh thu được. Những khoản thu thêm này có thể là các phí phụ thu hoặc các khoản phí bổ sung liên quan đến hàng hóa hoặc dịch vụ, và chúng phải được tính vào giá trị để xác định thuế.

Giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt phải được quy đổi và tính bằng Đồng Việt Nam. Đối với các trường hợp người nộp thuế có doanh thu bằng ngoại tệ, cần thực hiện quy đổi số tiền ngoại tệ ra Đồng Việt Nam. Việc quy đổi này phải dựa trên tỷ giá giao dịch bình quân của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm phát sinh doanh thu. Quy định này đảm bảo rằng mọi giao dịch, dù được thực hiện bằng ngoại tệ, đều được tính toán chính xác và nhất quán khi áp dụng thuế tiêu thụ đặc biệt, tránh tình trạng biến động tỷ giá gây ảnh hưởng đến việc xác định nghĩa vụ thuế.

2. Căn cứ tính thuế tiêu thụ đặc biệt 2024

Theo quy định tại Điều 5 của Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt, cơ sở để tính toán thuế tiêu thụ đặc biệt bao gồm hai yếu tố chính: giá tính thuế của hàng hóa hoặc dịch vụ chịu thuế và thuế suất áp dụng. Cụ thể, giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt là giá trị của hàng hóa hoặc dịch vụ trước khi tính các loại thuế khác như thuế giá trị gia tăng hay thuế bảo vệ môi trường. Thông thường, giá này phản ánh giá bán thực tế hoặc giá cung ứng dịch vụ tại thời điểm giao dịch.

Số thuế tiêu thụ đặc biệt cần phải nộp được tính bằng cách nhân giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt với thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt quy định. Thuế suất này được quy định cụ thể cho từng loại hàng hóa hoặc dịch vụ và có thể khác nhau tùy thuộc vào đặc thù của từng sản phẩm. Quy trình này đảm bảo rằng thuế tiêu thụ đặc biệt được xác định một cách chính xác và đồng bộ, dựa trên giá trị thực của hàng hóa hoặc dịch vụ cùng với tỷ lệ thuế áp dụng. Điều này không chỉ giúp đơn giản hóa việc tính toán thuế mà còn bảo đảm tính minh bạch và công bằng trong việc thu thuế.

Quy định cụ thể về giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt 2025

3. Đối tượng không chịu thuế tiêu thụ đặc biệt

Dựa trên quy định tại Điều 3 của Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt 2008 và Điều 3 Nghị định 108/2015/NĐ-CP, có những trường hợp cụ thể mà các hàng hóa, mặc dù thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt theo quy định chung, nhưng lại được miễn trừ hoặc không phải nộp thuế này do các yếu tố đặc biệt. Các quy định này nhằm tạo ra sự linh hoạt trong việc áp dụng thuế, đồng thời đảm bảo công bằng và hợp lý cho các doanh nghiệp và cá nhân hoạt động trong các lĩnh vực liên quan. Những trường hợp này bao gồm nhưng không giới hạn trong các trường hợp sau:

(1) Hàng hóa do cơ sở sản xuất, gia công trực tiếp xuất khẩu hoặc bán, ủy thác cho cơ sở kinh doanh khác để xuất khẩu;

(2) Hàng hóa nhập khẩu gồm:

- Hàng viện trợ nhân đạo, viện trợ không hoàn lại; quà tặng cho cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân, quà biếu, quà tặng cho cá nhân tại Việt Nam theo mức quy định của Chính phủ, bao gồm:

  • Hàng viện trợ nhân đạo, hàng viện trợ không hoàn lại, bao gồm cả hàng hóa nhập khẩu bằng nguồn vốn viện trợ không hoàn lại được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, hàng trợ giúp nhân đạo, hàng cứu trợ khẩn cấp nhằm khắc phục hậu quả chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh;
  • Quà tặng của các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài cho các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân;
  • Quà biếu, quà tặng cho cá nhân tại Việt Nam theo định mức quy định của pháp luật.

- Hàng hóa vận chuyển quá cảnh hoặc mượn đường qua cửa khẩu, biên giới Việt Nam, hàng hóa chuyển khẩu theo quy định của Chính phủ;

- Hàng tạm nhập khẩu, tái xuất khẩu và tạm xuất khẩu, tái nhập khẩu không phải nộp thuế nhập khẩu, thuế xuất khẩu trong thời hạn theo quy định của pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu;

- Đồ dùng của tổ chức, cá nhân nước ngoài theo tiêu chuẩn miễn trừ ngoại giao; hàng mang theo người trong tiêu chuẩn hành lý miễn thuế; hàng nhập khẩu để bán miễn thuế theo quy định của pháp luật;

(3) Tàu bay, du thuyền sử dụng cho mục đích kinh doanh vận chuyển hàng hóa, hành khách, khách du lịch;

(4) Xe ô tô cứu thương; xe ô tô chở phạm nhân; xe ô tô tang lễ; xe ô tô thiết kế vừa có chỗ ngồi, vừa có chỗ đứng chở được từ 24 người trở lên; xe ô tô chạy trong khu vui chơi, giải trí, thể thao không đăng ký lưu hành và không tham gia giao thông;

(5) Hàng hoá nhập khẩu từ nước ngoài vào khu phi thuế quan, hàng hóa từ nội địa bán vào khu phi thuế quan và chỉ sử dụng trong khu phi thuế quan, hàng hóa được mua bán giữa các khu phi thuế quan với nhau, trừ xe ô tô chở người dưới 24 chỗ.

Thuế tiêu thụ đặc biệt là gì? Đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt

4. Người nộp thuế tiêu thụ đặc biệt

Theo Điều 4 của Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt 2008, người nộp thuế tiêu thụ đặc biệt được xác định dựa trên hoạt động sản xuất, nhập khẩu hàng hóa và kinh doanh dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế. Cụ thể, người nộp thuế tiêu thụ đặc biệt là tổ chức, cá nhân có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ thuế khi sản xuất, nhập khẩu hoặc kinh doanh các loại hàng hóa và dịch vụ nằm trong danh mục chịu thuế tiêu thụ đặc biệt do Nhà nước quy định.

Điều này bao gồm cả những nhà sản xuất trong nước cũng như các doanh nghiệp nhập khẩu, kinh doanh hàng hóa và dịch vụ. Những tổ chức, cá nhân này phải kê khai và nộp thuế tiêu thụ đặc biệt cho cơ quan thuế có thẩm quyền, đảm bảo đúng và đủ theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra, một trường hợp đặc biệt khác cũng được quy định tại Điều 4 liên quan đến những tổ chức, cá nhân có hoạt động kinh doanh xuất khẩu. Theo đó, nếu các tổ chức hoặc cá nhân này mua hàng hóa thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt từ các cơ sở sản xuất trong nước với mục đích xuất khẩu nhưng sau đó không thực hiện việc xuất khẩu mà lại tiêu thụ trong nước, thì họ phải chịu trách nhiệm nộp thuế tiêu thụ đặc biệt cho những hàng hóa đó. Trường hợp này nhấn mạnh trách nhiệm của các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu trong việc quản lý và thực hiện đúng cam kết xuất khẩu của mình. Việc không xuất khẩu mà tiêu thụ nội địa sẽ chuyển nghĩa vụ nộp thuế tiêu thụ đặc biệt từ nhà sản xuất sang cho tổ chức, cá nhân kinh doanh xuất khẩu. Điều này đảm bảo rằng Nhà nước vẫn thu được thuế tiêu thụ đặc biệt trong mọi tình huống, bất kể hàng hóa có được xuất khẩu hay không.

Các quy định này thể hiện rõ vai trò của thuế tiêu thụ đặc biệt trong việc điều tiết hoạt động kinh doanh, sản xuất và nhập khẩu của các doanh nghiệp, đồng thời đảm bảo sự công bằng và minh bạch trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế của các tổ chức, cá nhân có liên quan.

5. Những câu hỏi thường gặp

5.1. Thuế tiêu thụ đặc biệt được áp dụng đối với những hàng hóa, dịch vụ nào?

Thuế tiêu thụ đặc biệt là loại thuế gián thu, áp dụng đối với một số hàng hóa, dịch vụ đặc biệt mà Nhà nước cần điều tiết nhằm định hướng tiêu dùng hoặc tăng thu ngân sách. Theo quy định mới nhất năm 2025, thuế TTĐB được áp dụng với các nhóm hàng hóa, dịch vụ như:

  • Hàng hóa: Rượu, bia, thuốc lá, ô tô dưới 24 chỗ, xe mô tô có dung tích lớn, xăng các loại, điều hòa có công suất lớn, vàng mã,...
  • Dịch vụ: Kinh doanh vũ trường, massage, karaoke, casino, trò chơi có thưởng, đặt cược, golf, xổ số,...

Đây là các mặt hàng/dịch vụ bị đánh thuế do có tác động đến sức khỏe, môi trường hoặc được coi là xa xỉ, không thiết yếu.

5.2. Doanh nghiệp sản xuất hàng hóa chịu thuế tiêu thụ đặc biệt cần kê khai và nộp thuế như thế nào?

Doanh nghiệp sản xuất, nhập khẩu hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt có trách nhiệm:

  • Kê khai thuế TTĐB theo tháng, chậm nhất vào ngày thứ 20 của tháng kế tiếp.
  • Nộp hồ sơ khai thuế điện tử theo mẫu 01/TTĐB (ban hành kèm Thông tư 156/2013/TT-BTC và các văn bản sửa đổi bổ sung).
  • Nộp thuế vào ngân sách nhà nước đúng thời hạn, theo số thuế đã kê khai.

Thuế TTĐB được tính trên giá bán chưa có thuế GTGT và theo tỷ lệ % được quy định riêng cho từng mặt hàng/dịch vụ. Mỗi nhóm hàng hóa, dịch vụ sẽ có mức thuế suất khác nhau, ví dụ rượu trên 40 độ có thể chịu thuế 65%, thuốc lá 75%,...