Tội hủy hoại tài sản và tội cố ý làm hư hỏng tài sản khác nhau ra sao?
Tội hủy hoại tài sản và tội cố ý làm hư hỏng tài sản khác nhau ra sao?

1. Tội hủy hoại tài sản và tội cố ý làm hư hỏng tài sản khác nhau ra sao?

Để phân biệt tội cố ý làm hư hỏng tài sản và tội hủy hoại tài sản, ta có thể căn cứ vào một số tiêu chí sau đây:

Tiêu chí

Hủy hoại tài sản

Cố ý làm hư hỏng tài sản

Khái niệm

Hành vi làm cho tài sản của người khác bị thiệt hại đến mức làm mất hẳn giá trị hoặc mất hẳn công năng, giá trị sử dụng hoặc bị tiêu hủy hoàn toàn.

Hành vi làm tài sản của người khác bị mất một phần hoặc giảm giá trị hoặc giảm giá trị sử dụng nhưng ở mức độ có thể khôi phục, sửa chữa lại được.

Mục đích

Làm cho tài sản bị hư hỏng, tiêu hủy hoàn toàn hoặc làm cho tài sản không còn giá trị sử dụng.

Làm hư hỏng một phần của tài sản hoặc làm cho tài sản bị mất một phần, giảm giá trị sử dụng nhưng có thể khôi phục, sửa chữa được.

Thiệt hại của tài sản bị xâm phạm

Hành vi phạm tội làm cho tài sản bị hư hỏng toàn bộ hoặc không còn sử dụng được.

Hành vi chỉ làm hư hỏng một phần của tài sản hoặc làm giảm một phần giá trị tài sản.

Đối tượng

Tài sản trị giá từ 2.000.000 đến dưới 500.000.000 đồng hoặc tài sản trị giá dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong những trường hợp: Đã bị xử phạt VPHC mà còn vi phạm; đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình; tài sản là di vật, cổ vật.

Cơ sở pháp lý

Điều 178 Bộ luật Hình sự 2015

Bản án minh họa

Bản án 02/2020/HS-ST ngày 13/01/2020 về hủy hoại tài sản

Tóm tắt:

Bàn Văn B do nghi ngờ anh P tháo ống dẫn nước về nhà B nên đã nảy sinh ý định đốt nhà anh P để trả thù. Ngày 13/7/2019, B cầm theo bật lửa và một đoạn gỗ keo khô đến nhà anh P để châm lửa vào mái nhà bằng cọ của anh P. B đứng chờ tại sân nhà anh P để quan sát, khi ngôi nhà bùng cháy to không thể dập tắt thì B về nhà. Ngôi nhà cùng toàn bộ đồ đạc, tài sản của gia đình anh P bị cháy hoàn toàn.

B bị xử phạt 04 năm tù và bồi thường tổng số tiền là 145.450.459 đồng cho anh P.

Bản án 43/2020/HSST ngày 09/04/2020 về tội cố ý làm hư hỏng tài sản

Tóm tắt:

Ngày 21/8/2019, Huỳnh Thanh Ph uống rượu bi cùng bạn sau đó điều khiển xe mô tô đi về nhà. Khi đến cầu Quang Trung thì có xe ô tô do anh Võ Minh Tr điều khiển cùng chiều sau xe của Ph bấm còi xin vượt nhưng Ph vẫn cho xe chạy giữa đường. Sau đó, Ph dừng xe giữa đường rút thanh sắt trên xe ra đập 01 cái từ trên xuống trúng bên trái mui xe ô tô của Tr gây móp xe, hư kính cửa sổ bên trái.

Ph bị xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treoĐã bồi thường cho bị hại 7.222.000 đồng.

2. Quy định xử phạt hành chính đối với hành vi hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác

Căn cứ điểm a khoản 2, điểm a khoản 3, điểm c khoản 4 Điều 15 Nghị định 144/2021/NĐ-CP quy định về vi phạm quy định về gây thiệt hại đến tài sản của tổ chức, cá nhân khác như sau:

(1) Phạt tiền từ 03 triệu đồng đến 05 triệu đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

  • Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của cá nhân, tổ chức, trừ trường hợp vi phạm quy định tại điểm b khoản 3 Điều 21 Nghị định này;
  • Dùng thủ đoạn hoặc tạo ra hoàn cảnh để buộc người khác đưa tiền, tài sản;
  • Gian lận hoặc lừa đảo trong việc môi giới, hướng dẫn giới thiệu dịch vụ mua, bán nhà, đất hoặc các tài sản khác;

(2) Hình thức xử phạt bổ sung:

  • Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với hành vi quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 và các điểm a, b, c và đ khoản 2 Điều này;
  • Trục xuất người nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính quy định tại các khoản 1 và 2 Điều này.

(3) Biện pháp khắc phục hậu quả:

Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 2 Điều này.

Như vậy, theo quy định pháp luật nêu trên thì người có hành vi hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt tiền từ 03 triệu đồng đến 05 triệu đồng. Người vi phạm còn bị tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm, nếu là người nước ngoài vi phạm thì bị trục xuất. Bên cạnh đó người vi phạm còn bị buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đối với hành vi vi phạm.

3. Hình phạt áp dụng đối với người thực hiện hành vi hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác

Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản được định nghĩa là hành vi làm giảm giá trị sử dụng hoặc phá hủy tài sản của người khác. Theo quy định tại Điều 178 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), người phạm tội sẽ chịu án phạt tương ứng theo các khung hình phạt sau:

Khung 01: Phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 50 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ từ 6 tháng đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm trong các trường hợp sau:

Hủy hoại hoặc làm hư hỏng tài sản của người khác có giá trị từ 2 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng.

Tài sản bị hư hỏng có giá trị dưới 2 triệu đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau:

  • Người phạm tội đã bị xử phạt vi phạm hành chính liên quan đến tội phạm này và tiếp tục vi phạm.
  • Người phạm tội đã bị kết án trước đó về tội phạm này mà chưa được xóa án tích và tiếp tục vi phạm.
  • Hành vi gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
  • Tài sản bị hủy hoại hoặc làm hư hỏng là phương tiện sống chính của người bị hại và gia đình của họ.
  • Tài sản bị hủy hoại hoặc làm hư hỏng là di vật, cổ vật.

Khung 02: Phạt tù từ 2 năm đến 7 năm đối với các trường hợp sau:

  • Phạm tội có tổ chức.
  • Gây thiệt hại cho tài sản có giá trị từ 50 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng.
  • Tài sản bị thiệt hại là bảo vật quốc gia.
  • Sử dụng chất nguy hiểm về cháy, nổ hoặc các phương pháp nguy hiểm khác.
  • Sử dụng hành vi hủy hoại hoặc làm hư hỏng tài sản nhằm che giấu tội phạm khác.
  • Sử dụng hành vi hủy hoại hoặc làm hư hỏng tài sản vì lý do công vụ của người bị hại.
  • Tái phạm hành vi hủy hoại hoặc làm hư hỏng tài sản đối với tài sản có giá trị.

Khung 03: Phạt tù từ 5 năm đến 10 năm khi phạm tội gây thiệt hại cho tài sản có giá trị từ 200 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng.

Khung 04: Phạt tù từ 10 năm đến 20 năm đối với trường hợp phạm tội gây thiệt hại cho tài sản có giá trị 500 triệu đồng trở lên.

Ngoài ra, người phạm tội cũng có thể bị áp dụng các hình phạt bổ sung như phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 năm đến 5 năm. Tóm lại, người phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác sẽ bị xử lý hình sự theo các quy định đã trích dẫn ở trên.

4. Các yếu tố cấu thành tội huỷ hoại tài sản hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản

Căn cứ theo Điều 178 Bộ luật Hình sự 2015 có thể phân tích như sau:

(1) Khách thể của tội huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản

Khách thể của tội huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản cũng tương tự như các tội xâm phạm quyền sở hữu khác, nhưng tội huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản không xâm phạm đến quan hệ nhân thân mà chỉ xâm phạm đến quan hệ sở hữu, đây cũng là một điểm khác với các tội có tính chất chiếm đoạt như cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, tội cướp giật tài sản, đặc điểm này được thể hiện trong cấu thành tội huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản nhà làm luật không quy định thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ là tình tiết định khung hình phạ

Vì vậy, nếu huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản mà gây chết người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác thì tuỳ từng trường hợp cụ thể mà xác định người phạm tội đã gây ra hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, nếu huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản nhằm mục đích xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ của con người thì hành vi huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản trở thành thủ đoạn của hành vi giết người hoặc cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.

(2) Chủ thể của tội huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản

Chủ thể của tội huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản là chủ thể thường. Nghĩa là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự đều có thể trở thành chủ thể của tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản.

Tuy nhiên, người phạm tội từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm này, vì tội phạm này có hai khoản nhưng không có trường hợp nào quy định là tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

(3) Mặt khách quan của tội huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản

Hành vi phạm tội: Do điều luật quy định hai hành vi phạm tội khác nhau nên mỗi hành vi phạm tội có hành vi khách quan khác nhau.

Huỷ hoại tài sản là làm cho tài sản mất hẳn giá trị sử dụng không thể khôi phục lại được và như vậy toàn bộ giá trị tài sản không còn. Ví dụ: Đốt cháy một căn nhà, một chiếc xe ôtô cháy thành tro bụi. Tuy nhiên, trong một chừng mực nhất định thì sự phân biệt rạch ròi hành vi huỷ hoại với hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản không phải trong trường hợp nào cũng được xác định khác nhau hoàn toàn. Sự khác biệt giữa huỷ hoại và cố ý làm hư hỏng tài sản chủ yếu căn cứ vào hậu quả của hành vi gây ra đối với tài sản, nếu tài sản bị hư hỏng hoàn toàn không có khả năng khôi phục thì coi là huỷ hoại, nếu tài sản không bị mất hẳn giá trị sử dụng và có khả năng khôi phục lại toàn bộ hoặc một phần giá trị sử dụng thì coi là cố ý làm hư hỏng tài sản.

Làm hư hỏng tài sản là làm giảm đáng kể giá trị sử dụng của tài sản và giá trị sử dụng bị giảm đó có thể khôi phục được (có thể khôi phục lại như cũ, nhưng có thể chỉ khôi phục lại được một phần). Ví dụ đập vỡ kính xe, đập vỡ tường nhà,...

Về phương thức thực hiện: Hành vi huỷ hoại hoặc làm hư hỏng tài sản được thực hiện bằng nhiều phương thức khác nhau tuỳ thuộc vào thủ đoạn mà người phạm tội thực hiện như: Đốt cháy, đập phá, dùng thuốc nổ, dùng chất độc, hoá chất hoặc lợi dụng thiên tai để huỷ hoại tài sản…Thực tiễn xét xử cho thấy có những trường hợp nếu chỉ căn cứ vào hành vi thì khó xác định đó có phải là hành vi huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản hay không nhưng nếu không coi là huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng thì khó có thể xác định người phạm tội phạm tội gì.

Hậu quả và mối quan hệ nhân quả: Khác với những quy định của các Bộ luật Hình sự trước đây, Bộ luật Hình sự năm 2015 không quy định hậu quả của hành vi là yếu tố bắt buộc cấu thành tội phạm mà quy định những loại tài sản mà người phạm tội khi thực hiện hành vi hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng đối với những tài sản này sẽ bị truy cứu trách nhiệm về tội này đó là: tài sản có trị giá từ 2.000.000 đồng trở lên, tài sản là di vật, cổ hoặc vật có giá trị lịch sử, văn hóa hoặc tài sản trị giá dưới 2.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm; đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại

(4) Mặt chủ quan của tội huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản

Người phạm tội huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản thực hiện hành vi phạm tội của mình với lỗi cố ý. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra hoặc người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra.

Mục đích của người phạm tội là mong muốn huỷ hoại hoặc làm hư hỏng tài sản của người khác. Ngoài mục đích này, người phạm tội không có mục đích nào khác và mục đích này cũng là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm. Nếu người phạm tội có mục đích khác, còn việc huỷ hoại tài sản hoặc làm hư hỏng tài sản chỉ là phương pháp để đạt được mục đích khác thì không phạm tội huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản mà tuỳ trường hợp cụ thể mà người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội tương ứng.

5. Đề xuất tăng mức định tội đối với tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản mới nhất

Tải dự thảo Bộ Luật Hình sự (sửa đổi) tại đây:

Căn cứ tại Điều 178 Dự thảo Bộ Luật Hình sự (sửa đổi) có quy định mới về tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản cụ thể các mức phạt như sau:

(1) Người nào hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 100.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 5.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 20.000.000 đồng đến 50.000.000 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

  • Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này mà còn vi phạm;
  • Đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
  • Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
  • Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ;
  • Tài sản là di vật, cổ vật.

(2) Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

  • Có tổ chức;
  • Gây thiệt hại cho tài sản trị giá từ 50.000.000 100.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 400.000.000 đồng;
  • Tài sản là bảo vật quốc gia;
  • Dùng chất nguy hiểm về cháy, nổ hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;
  • Để che giấu tội phạm khác;
  • Vì lý do công vụ của người bị hại;
  • Tái phạm nguy hiểm.

(3) Phạm tội gây thiệt hại cho tài sản trị giá từ 200.000.000 400.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 1.000.000.000 đồng, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.

(4) Phạm tội gây thiệt hại cho tài sản trị giá 500.000.000 từ 1.000.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm.

(5) Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 20.000.000 đồng đến 100.000.000 200.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Như vậy, Dự thảo Bộ Luật Hình sự đã đề xuất tăng mức định tội đối với tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản tại Điều 178 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi 2017).

6. Các câu hỏi thường gặp

6.1. Hủy hoại tài sản của người khác dưới 2 triệu có bị xử lý hình sự không?

Hiện nay, hành vi hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác ngày càng xảy ra phổ biến, nhiều vụ việc với mức độ nghiêm trọng đã để lại thiệt hại vô cùng lớn.

Bộ luật Hình sự 2015 không mô tả cụ thể về hành vi cố ý hủy hoại tài sản của người khác, tuy nhiên có thể hiểu đây là hành vi đập phá, hủy hoại của một hoặc một nhóm người nhằm mục đích làm cho tài sản của người khác không còn công dụng hoặc giá trị sử dụng nữa.

Theo đó, các đối tượng thực hiện hành vi hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản.

Cụ thể, theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự 2015, người nào hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác trị giá từ 02 - dưới 50 triệu đồng hoặc dưới 02 triệu đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản:

  • Đã bị xử phạt hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này mà còn vi phạm;
  • Đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
  • Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
  • Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ;
  • Tài sản là di vật, cổ vật.

Như vậy, trường hợp hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác dưới 02 triệu đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp nêu trên, người thực hiện hành vi vi phạm vẫn có thể bị truy cứu hình sự về Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản.

6.2. Cơ quan nào có thẩm quyền xử phạt đối với hành vi hủy hoại tài sản người khác? Ủy ban nhân dân cấp xã có quyền xử phạt vi phạm hành chính hay không?

Về thẩm quyền xử phạt, tùy theo mức tiền xử phạt mà cơ quan có thẩm quyền xử phạt là khác nhau, anh có thể tham khảo tại Chương III Nghị định 144/2021/NĐ-CP để xác định.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 68 Nghị định 144/2021/NĐ-CP quy định về thẩm quyền phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình như sau:

Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp

1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có quyền:

a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền đến 3.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình; đến 4.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; đến 5.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ và lĩnh vực phòng, chống tệ nạn xã hội;

c) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá 02 lần mức tiền phạt được quy định tại điểm b khoản này;

d) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các điểm a và c khoản 1 Điều 28 Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Như vậy, trong trường hợp việc xử phạt với hành vi hủy hoại tài sản người khác, ở đây là hủy hoại rừng sản xuất mà số tiền phạt dưới 4 triệu đồng thì Chủ tịch ủy ban nhân dân xã có quyền xử phạt.

6.3. Hành vi vô ý hủy hoại tài sản của người khác bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi nào?

Căn cứ Điều 180 Bộ luật Hình sự 2015, được bổ sung bởi điểm g khoản 1 Điều 2 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017 quy định về tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản như sau:

Tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản

1. Người nào vô ý gây thiệt hại cho tài sản của người khác trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, thì bị phạt cảnh cáo hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm.

2. Phạm tội gây thiệt hại cho tài sản của người khác trị giá 500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt phạt cải tạo không giam giữ từ 02 năm đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

Như vậy, người vô ý hủy hoại tài sản của người khác sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự trong trường hợp giá trị tài sản đó là từ 100.000.000 đồng trở lên.

Và tùy thuộc vào giá trị tài sản bị hủy hoại thì người vi phạm có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo các khung hình phạt khác nhau đuọc quy định tại Điều 180 nêu trên.