Thủ tục điều tra vụ án hình sự được thực hiện như thế nào?
Thủ tục điều tra vụ án hình sự được thực hiện như thế nào?

1. Thủ tục điều tra vụ án hình sự được thực hiện như thế nào?

Căn cứ khoản 2 Điều 145 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định như sau:

Trách nhiệm tiếp nhận và thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố
...
2. Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố gồm:
a) Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố;
b) Cơ quan, tổ chức khác tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm.
...

Khi có tin tố giác, tin báo về tội phạm, cơ quan, tổ chức gồm Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, cơ quan, tổ chức khác có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm.

Sau khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, cơ quan điều tra sẽ tiến hành các hoạt động điều tra theo đúng trình tự, thủ tục quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Các hoạt động điều tra bao gồm:

  • Hỏi cung bị can: Do Điều tra viên hoặc Kiểm sát viên thực hiện, tùy theo từng trường hợp cụ thể (theo Điều 183).

  • Lấy lời khai người làm chứng: Do Điều tra viên, cán bộ điều tra hoặc Kiểm sát viên tiến hành (Điều 186).

  • Đối chất: Được thực hiện khi có mâu thuẫn trong lời khai giữa hai hoặc nhiều người mà các biện pháp điều tra khác chưa làm rõ được. Việc đối chất do Điều tra viên thực hiện, trong trường hợp cần thiết có thể do Kiểm sát viên thực hiện (Điều 189).

  • Nhận dạng và nhận biết giọng nói: Theo Điều 190 và Điều 191, Điều tra viên tổ chức cho người làm chứng, bị hại hoặc bị can nhận dạng người, ảnh hoặc vật, hoặc nhận biết giọng nói liên quan đến vụ án.

  • Khám xét người: Theo quy định tại Điều 193 và Điều 194, việc khám xét do Điều tra viên thực hiện trên cơ sở lệnh của người có thẩm quyền theo Điều 113. Việc khám xét phải do người cùng giới thực hiện.

  • Khám xét, thu giữ và tạm giữ tài liệu, đồ vật: Thực hiện theo các quy định tại Chương XIII.

  • Khám nghiệm hiện trường: Điều tra viên chủ trì, nhằm thu thập dấu vết tội phạm, vật chứng, tài liệu, dữ liệu điện tử và các tình tiết có liên quan (Điều 201).

  • Khám nghiệm tử thi: Do giám định viên pháp y thực hiện dưới sự chủ trì của Điều tra viên và có người chứng kiến (Điều 202).

  • Thực nghiệm điều tra: Cơ quan điều tra tái hiện lại hiện trường, hành vi hoặc tình huống để xác minh, kiểm tra những tài liệu, tình tiết quan trọng (Điều 204).

  • Giám định và định giá tài sản: Thực hiện theo các quy định tại Chương XV.

  • Áp dụng các biện pháp điều tra đặc biệt: Được quy định tại Chương XVI của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Khi kết thúc quá trình điều tra, nếu đã thu thập đầy đủ chứng cứ, cơ quan điều tra sẽ lập bản kết luận điều tra và chuyển hồ sơ đề nghị truy tố. Trường hợp không đủ căn cứ, hoặc xuất hiện một trong các điều kiện được quy định trong luật, cơ quan điều tra có thể ra quyết định đình chỉ điều tra, đặc biệt nếu hết thời hạn điều tra mà không chứng minh được bị can là người thực hiện hành vi phạm tội.

Cơ quan nào thực hiện hoạt động điều tra vụ án hình sự?
Cơ quan nào thực hiện hoạt động điều tra vụ án hình sự?

2. Cơ quan nào thực hiện hoạt động điều tra vụ án hình sự?

Theo quy định tại Điều 163 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 những cơ quan có thẩm quyền thực hiện hoạt động điều tra bao gồm như sau:

  • Cơ quan điều tra của Công an nhân dân điều tra tất cả các tội phạm, trừ những tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân và Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
  • Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân điều tra các tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự.
  • Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương.
Các trường hợp ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án hình sự
Các trường hợp ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án hình sự

3. Các trường hợp ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án hình sự

Theo khoản 1 Điều 230 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 thì cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra khi thuộc một trong các trường hợp:

Có một trong các căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 155 và Điều 157 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015:

  • Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu bị hại:

Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ, trừ trường hợp có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.

  • Không được khởi tố vụ án hình sự khi có một trong các căn cứ sau:
    • Không có sự việc phạm tội;
    • Hành vi không cấu thành tội phạm;
    • Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự;
    • Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật;
    • Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự;
    • Tội phạm đã được đại xá;
    • Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác;
    • Tội phạm quy định tại khoản 1 các Điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155 và 156 Bộ luật Hình sự mà bị hại hoặc người đại diện của bị hại không yêu cầu khởi tố.

Hoặc có căn cứ quy định tại Điều 16 hoặc Điều 29 hoặc khoản 2 Điều 91 Bộ luật Hình sự:

  • Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội:
    • Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là tự mình không thực hiện tội phạm đến cùng, tuy không có gì ngăn cản.
    • Người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm; nếu hành vi thực tế đã thực hiện có đủ yếu tố cấu thành của một tội khác, thì người đó phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này.
  • Căn cứ miễn trách nhiệm hình sự:

Người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự khi có một trong những căn cứ sau đây:

    • Khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do có sự thay đổi chính sách, pháp luật làm cho hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa;
    • Khi có quyết định đại xá.

Người phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự khi có một trong các căn cứ sau đây:

    • Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử do chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa;
    • Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử, người phạm tội mắc bệnh hiểm nghèo dẫn đến không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội nữa;
    • Trước khi hành vi phạm tội bị phát giác, người phạm tội tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm và lập công lớn hoặc có cống hiến đặc biệt, được Nhà nước và xã hội thừa nhận.

Người thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng do vô ý gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác, đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại;

Hoặc khắc phục hậu quả và được người bị hại hoặc người đại diện của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự.

Đã hết thời hạn điều tra vụ án mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm.

4. Câu hỏi thường gặp

4.1. Việc khám nghiệm hiện trường nhằm mục đích gì?

Khám nghiệm hiện trường nhằm phát hiện dấu vết tội phạm, thu giữ vật chứng, tài liệu, dữ liệu điện tử có liên quan để làm rõ các tình tiết quan trọng của vụ án (Điều 201 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015).

4.2. Bị can có quyền gì trong quá trình điều tra?

Bị can có quyền được biết mình bị khởi tố về tội gì, được trình bày lời khai, cung cấp chứng cứ, nhờ luật sư bào chữa, khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan điều tra và được bảo đảm các quyền hợp pháp khác theo quy định pháp luật.

4.3. Bản kết luận điều tra gồm những nội dung gì?

Bản kết luận điều tra gồm: tóm tắt nội dung vụ án, quá trình điều tra, chứng cứ đã thu thập được, đánh giá chứng cứ, xác định tội danh, đề nghị truy tố bị can hoặc đề nghị đình chỉ vụ án nếu không đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự.

4.4. Khi nào Viện kiểm sát trả hồ sơ điều tra bổ sung?

Viện kiểm sát trả hồ sơ để điều tra bổ sung khi hồ sơ chưa đầy đủ, còn thiếu chứng cứ quan trọng hoặc có vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng làm ảnh hưởng đến việc truy tố, xét xử.