Cơ quan nào có thẩm quyền điều tra vụ án hình sự?
Cơ quan nào có thẩm quyền điều tra vụ án hình sự?

1. Cơ quan nào có thẩm quyền điều tra vụ án hình sự?

Theo quy định tại Điều 163 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 những cơ quan có thẩm quyền thực hiện hoạt động điều tra bao gồm như sau:

  • Cơ quan điều tra của Công an nhân dân điều tra tất cả các tội phạm, trừ những tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân và Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
  • Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân điều tra các tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự.
  • Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương.
Thủ tục điều tra vụ án hình sự năm 2025 diễn ra như thế nào?
Thủ tục điều tra vụ án hình sự năm 2025 diễn ra như thế nào?

2. Thủ tục điều tra vụ án hình sự năm 2025 diễn ra như thế nào?

Căn cứ khoản 2 Điều 145 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định như sau:

Trách nhiệm tiếp nhận và thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố
...
2. Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố gồm:
a) Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố;
b) Cơ quan, tổ chức khác tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm.
...

Khi có tin tố giác, tin báo về tội phạm, cơ quan, tổ chức gồm Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, cơ quan, tổ chức khác có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm.

Sau khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, cơ quan điều tra sẽ tiến hành các hoạt động điều tra theo đúng trình tự, thủ tục quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Các hoạt động điều tra bao gồm:

  • Hỏi cung bị can: Do Điều tra viên hoặc Kiểm sát viên thực hiện, tùy theo từng trường hợp cụ thể (theo Điều 183).

  • Lấy lời khai người làm chứng: Do Điều tra viên, cán bộ điều tra hoặc Kiểm sát viên tiến hành (Điều 186).

  • Đối chất: Được thực hiện khi có mâu thuẫn trong lời khai giữa hai hoặc nhiều người mà các biện pháp điều tra khác chưa làm rõ được. Việc đối chất do Điều tra viên thực hiện, trong trường hợp cần thiết có thể do Kiểm sát viên thực hiện (Điều 189).

  • Nhận dạng và nhận biết giọng nói: Theo Điều 190 và Điều 191, Điều tra viên tổ chức cho người làm chứng, bị hại hoặc bị can nhận dạng người, ảnh hoặc vật, hoặc nhận biết giọng nói liên quan đến vụ án.

  • Khám xét người: Theo quy định tại Điều 193 và Điều 194, việc khám xét do Điều tra viên thực hiện trên cơ sở lệnh của người có thẩm quyền theo Điều 113. Việc khám xét phải do người cùng giới thực hiện.

  • Khám xét, thu giữ và tạm giữ tài liệu, đồ vật: Thực hiện theo các quy định tại Chương XIII.

  • Khám nghiệm hiện trường: Điều tra viên chủ trì, nhằm thu thập dấu vết tội phạm, vật chứng, tài liệu, dữ liệu điện tử và các tình tiết có liên quan (Điều 201).

  • Khám nghiệm tử thi: Do giám định viên pháp y thực hiện dưới sự chủ trì của Điều tra viên và có người chứng kiến (Điều 202).

  • Thực nghiệm điều tra: Cơ quan điều tra tái hiện lại hiện trường, hành vi hoặc tình huống để xác minh, kiểm tra những tài liệu, tình tiết quan trọng (Điều 204).

  • Giám định và định giá tài sản: Thực hiện theo các quy định tại Chương XV.

  • Áp dụng các biện pháp điều tra đặc biệt: Được quy định tại Chương XVI của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Khi kết thúc quá trình điều tra, nếu đã thu thập đầy đủ chứng cứ, cơ quan điều tra sẽ lập bản kết luận điều tra và chuyển hồ sơ đề nghị truy tố. Trường hợp không đủ căn cứ, hoặc xuất hiện một trong các điều kiện được quy định trong luật, cơ quan điều tra có thể ra quyết định đình chỉ điều tra, đặc biệt nếu hết thời hạn điều tra mà không chứng minh được bị can là người thực hiện hành vi phạm tội.

Trường hợp nào ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án hình sự?
Trường hợp nào ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án hình sự?

3. Trường hợp nào ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án hình sự?

Theo khoản 1 Điều 230 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 thì cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra khi thuộc một trong các trường hợp:

Có một trong các căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 155 và Điều 157 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015:

  • Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu bị hại:

Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ, trừ trường hợp có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.

  • Không được khởi tố vụ án hình sự khi có một trong các căn cứ sau:
    • Không có sự việc phạm tội;
    • Hành vi không cấu thành tội phạm;
    • Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự;
    • Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật;
    • Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự;
    • Tội phạm đã được đại xá;
    • Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác;
    • Tội phạm quy định tại khoản 1 các Điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155 và 156 Bộ luật Hình sự mà bị hại hoặc người đại diện của bị hại không yêu cầu khởi tố.

Hoặc có căn cứ quy định tại Điều 16 hoặc Điều 29 hoặc khoản 2 Điều 91 Bộ luật Hình sự:

  • Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội:
    • Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là tự mình không thực hiện tội phạm đến cùng, tuy không có gì ngăn cản.
    • Người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm; nếu hành vi thực tế đã thực hiện có đủ yếu tố cấu thành của một tội khác, thì người đó phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này.
  • Căn cứ miễn trách nhiệm hình sự:

Người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự khi có một trong những căn cứ sau đây:

    • Khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do có sự thay đổi chính sách, pháp luật làm cho hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa;
    • Khi có quyết định đại xá.

Người phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự khi có một trong các căn cứ sau đây:

    • Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử do chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa;
    • Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử, người phạm tội mắc bệnh hiểm nghèo dẫn đến không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội nữa;
    • Trước khi hành vi phạm tội bị phát giác, người phạm tội tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm và lập công lớn hoặc có cống hiến đặc biệt, được Nhà nước và xã hội thừa nhận.

Người thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng do vô ý gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác, đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại;

Hoặc khắc phục hậu quả và được người bị hại hoặc người đại diện của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự.

Đã hết thời hạn điều tra vụ án mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm.

4. Quy định về quyết định đình chỉ điều tra vụ án hình sự

Theo khoản 2 và khoản 3 Điều 230 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định về quyết định điều tra vụ án hình sự như sau:

  • Quyết định đình chỉ điều tra ghi rõ thời gian, địa điểm ra quyết định, lý do và căn cứ đình chỉ điều tra, việc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế, trả lại tài liệu, đồ vật đã tạm giữ (nếu có), việc xử lý vật chứng và những vấn đề khác có liên quan.

Trường hợp vụ án có nhiều bị can mà căn cứ để đình chỉ điều tra không liên quan đến tất cả bị can thì có thể đình chỉ điều tra đối với từng bị can.

  • Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định đình chỉ điều tra kèm theo hồ sơ vụ án của Cơ quan điều tra, nếu thấy quyết định đình chỉ điều tra có căn cứ thì Viện kiểm sát phải trả lại hồ sơ vụ án cho Cơ quan điều tra để giải quyết theo thẩm quyền;

Nếu thấy quyết định đình chỉ điều tra không có căn cứ thì hủy bỏ quyết định đình chỉ điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra phục hồi điều tra; nếu thấy đủ căn cứ để truy tố thì hủy bỏ quyết định đình chỉ điều tra và ra quyết định truy tố theo thời hạn, trình tự, thủ tục quy định.

5. Câu hỏi thường gặp

5.1. Bị can có nghĩa vụ gì trong quá trình điều tra?

Bị can có nghĩa vụ khai báo trung thực, không được cung cấp thông tin sai sự thật; chấp hành các quyết định, yêu cầu hợp pháp của cơ quan điều tra; không được gây cản trở hoạt động điều tra.

5.2. Việc ghi âm, ghi hình khi hỏi cung bị can có bắt buộc không?

Theo Điều 183 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung), việc hỏi cung bị can tại trụ sở cơ quan điều tra phải được ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh nhằm đảm bảo tính khách quan, chống bức cung, nhục hình.

5.3. Người bào chữa có được tham gia hoạt động điều tra không?

Có. Người bào chữa có quyền tham gia các hoạt động điều tra như hỏi cung, đối chất, nhận dạng… từ khi có quyết định khởi tố bị can và đảm bảo quyền lợi hợp pháp của bị can, bị cáo theo quy định của pháp luật.

5.4. Biên bản điều tra có giá trị pháp lý như thế nào?

Biên bản điều tra là tài liệu tố tụng ghi nhận lại quá trình tiến hành hoạt động điều tra (như khám nghiệm, hỏi cung, đối chất...). Nếu được lập đúng quy định, có chữ ký của người có liên quan và người chứng kiến, biên bản có giá trị chứng cứ.