Tìm kiếm
Chương XXX Bộ luật Tố tụng hình sự 2015: Thủ tục áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh
| Số hiệu: | 101/2015/QH13 | Loại văn bản: | Luật |
| Nơi ban hành: | Thủ tướng Chính phủ | Người ký: | Nguyễn Sinh Hùng |
| Ngày ban hành: | 27/11/2015 | Ngày hiệu lực: | 01/01/2018 |
| Ngày công báo: | 31/12/2015 | Số công báo: | Từ số 1271 đến số 1272 |
| Lĩnh vực: | Trách nhiệm hình sự, Thủ tục Tố tụng | Tình trạng: | Còn hiệu lực |
TÓM TẮT VĂN BẢN
Bộ luật tố tụng hình sự 2015 vừa được ban hành ngày 27/11/2015 với nhiều quy định mới về cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng hình sự; người tham gia tố tụng HS; bào chữa, bảo về quyền và nghĩa vụ của bị hại, đương sự; biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế;...
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 gồm 9 Phần, 36 Chương, 510 Điều (thay vì Bộ luật Tố tụng Hình sự 2003 gồm 8 Phần, 37 Chương, 346 Điều). Bộ luật TTHS 2015 gồm các Phần sau:
- Những quy định chung
- Khởi tố, điều tra vụ án hình sự
- Truy tố
- Xét xử vụ án hình sự
- Một số quy định về thi hành bản án, quyết định của Tòa án
- Xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật
- Thủ tục đặc biệt
- Hợp tác quốc tế
- Điều khoản thi hành
Bộ luật tố tụng HS 2015 có một số quy định nổi bật sau:
- Điều 73 về quyền và nghĩa vụ của người bào chữa
Người bào chữa có quyền quy định tại Khoản 1 Điều 73 Bộ luật 101/2015/QH13, trong đó có quyền:
+ Gặp, hỏi người bị buộc tội;
+ Có mặt trong hoạt động đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói và hoạt động điều tra khác theo Bộ luật tố tụng hình sự 2015;
+ Xem biên bản về hoạt động tố tụng có sự tham gia của mình, quyết định tố tụng liên quan đến người mà mình bào chữa;
+ Đề nghị tiến hành hoạt động tố tụng theo Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; đề nghị triệu tập người làm chứng, người tham gia tố tụng khác, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;
+ Kiểm tra, đánh giá và trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;
- Điều 78 Bộ luật số 101 tố tụng hình sự 2015 quy định thủ tục đăng ký bào chữa
+ Trong mọi trường hợp tham gia tố tụng, người bào chữa phải đăng ký bào chữa.
+ Khi đăng ký bào chữa, người bào chữa phải xuất trình các giấy tờ:
Luật sư xuất trình Thẻ luật sư kèm theo bản sao có chứng thực và giấy yêu cầu luật sư;
Người đại diện của người bị buộc tội xuất trình CMND hoặc thẻ Căn cước công dân kèm theo bản sao có chứng thực và giấy tờ có xác nhận về mối quan hệ của họ với người bị buộc tội;
Bào chữa viên nhân dân xuất trình CMND hoặc thẻ Căn cước công dân kèm theo bản sao có chứng thực và văn bản cử bào chữa viên nhân dân;
Trợ giúp viên pháp lý, luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý xuất trình văn bản cử người thực hiện trợ giúp pháp lý và Thẻ trợ giúp viên pháp lý hoặc Thẻ luật sư kèm theo bản sao có chứng thực.
- Điều 85 Luật 101/2015/QH13 bổ sung một số vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự gồm:
+ Nguyên nhân và điều kiện phạm tội;
+ Những tình tiết khác liên quan đến việc loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt.
- Quy định dữ liệu điện tử tại Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
+ Dữ liệu điện tử được thu thập từ phương tiện điện tử, mạng máy tính, mạng viễn thông, trên đường truyền và các nguồn điện tử khác.
+ Giá trị chứng cứ của dữ liệu điện tử được xác định căn cứ vào cách thức khởi tạo, lưu trữ hoặc truyền gửi dữ liệu điện tử; cách thức bảo đảm và duy trì tính toàn vẹn của dữ liệu điện tử; cách thức xác định người khởi tạo và các yếu tố phù hợp khác.
- Điều 143 Bộ luật tố tụng hình sự bổ sung căn cứ khởi tố vụ án hình sự:
+ Kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước;
Kiến nghị khởi tố là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiến nghị bằng văn bản và gửi kèm theo chứng cứ, tài liệu liên quan cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có thẩm quyền xem xét, xử lý vụ việc có dấu hiệu tội phạm.
- Khám nghiệm tử thi theo Điều 202 Luật số 101/2015/QH13
Khi khám nghiệm tử thi phải tiến hành chụp ảnh, mô tả dấu vết để lại trên tử thi; chụp ảnh, thu thập, bảo quản mẫu vật phục vụ công tác trưng cầu giám định; ghi rõ kết quả khám nghiệm vào biên bản. Biên bản khám nghiệm tử thi được lập theo Điều 178 Bộ luật TTHS 2015.
- Điều 215 Bộ luật tố tụng HS 2015 quy định yêu cầu định giá tài sản
+ Khi cần xác định giá của tài sản để giải quyết vụ án hình sự, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng ra văn bản yêu cầu định giá tài sản.
+ Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra văn bản yêu cầu định giá tài sản, cơ quan yêu cầu định giá phải giao hoặc gửi văn bản yêu cầu định giá tài sản, hồ sơ, đối tượng yêu cầu định giá tài sản cho Hội đồng định giá tài sản được yêu cầu; gửi văn bản yêu cầu định giá tài sản cho Viện kiểm sát có thẩm quyền thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra.
- Trường hợp áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt tại Điều 224 Bộ luật 101/2015/QH13
Có thể áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt đối với các trường hợp:
+ Tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội phạm về ma túy, tội phạm về tham nhũng, tội khủng bố, tội rửa tiền;
+ Tội phạm khác có tổ chức thuộc loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
- Điều 322 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định việc tranh luận tại phiên tòa
+ Bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác có quyền trình bày ý kiến, đưa ra chứng cứ, tài liệu và lập luận của mình để đối đáp với Kiểm sát viên về những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội; tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; nhân thân và vai trò của bị cáo trong vụ án; những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt; trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp; nguyên nhân, điều kiện phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án.
Bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác có quyền đưa ra đề nghị của mình.
+ Kiểm sát viên phải đưa ra chứng cứ, tài liệu và lập luận để đối đáp đến cùng từng ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa.
Người tham gia tranh luận có quyền đáp lại ý kiến của người khác.
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 có hiệu lực từ ngày 01/07/2016.
Văn bản tiếng việt
Văn bản tiếng anh
1. Khi có căn cứ cho rằng người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội không có năng lực trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 21 của Bộ luật hình sự thì tuỳ từng giai đoạn tố tụng, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án phải trưng cầu giám định pháp y tâm thần.
2. Căn cứ kết luận giám định pháp y tâm thần, Viện kiểm sát quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh trong giai đoạn điều tra, truy tố; Tòa án quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh trong giai đoạn xét xử và thi hành án.
1. Đối với vụ án mà có căn cứ cho rằng người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội không có năng lực trách nhiệm hình sự, Cơ quan điều tra phải làm sáng tỏ:
a) Hành vi nguy hiểm cho xã hội đã xảy ra;
b) Tình trạng tâm thần và bệnh tâm thần của người có hành vi nguy hiểm cho xã hội;
c) Người có hành vi nguy hiểm cho xã hội có mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình hay không.
2. Khi tiến hành tố tụng, Cơ quan điều tra phải bảo đảm có người bào chữa tham gia tố tụng từ khi xác định được người có hành vi nguy hiểm cho xã hội mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi. Người đại diện của người đó có thể tham gia tố tụng trong trường hợp cần thiết.
1. Khi Cơ quan điều tra trưng cầu giám định pháp y tâm thần mà kết quả giám định xác định bị can mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi thì Cơ quan điều tra gửi văn bản đề nghị áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh cùng kết luận giám định cho Viện kiểm sát cùng cấp để xem xét, quyết định.
Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị của Cơ quan điều tra cùng kết luận giám định, Viện kiểm sát quyết định áp dụng biện pháp chữa bệnh đối với bị can hoặc yêu cầu Cơ quan điều tra trưng cầu giám định bổ sung, giám định lại nếu thấy chưa đủ căn cứ để quyết định.
2. Trường hợp Viện kiểm sát ra quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh thì Cơ quan điều tra phải ra quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ điều tra đối với bị can.
1. Sau khi nhận được hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra, nếu có căn cứ cho rằng bị can không có năng lực trách nhiệm hình sự thì Viện kiểm sát trưng cầu giám định pháp y tâm thần.
2. Căn cứ vào kết luận giám định, Viện kiểm sát có thể ra một trong các quyết định:
a) Tạm đình chỉ vụ án và áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh;
b) Đình chỉ vụ án và áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh;
c) Trả hồ sơ để điều tra bổ sung;
d) Truy tố bị can trước Tòa án.
3. Ngoài quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh, Viện kiểm sát có thể giải quyết vấn đề khác liên quan đến vụ án.
1. Sau khi thụ lý vụ án, nếu có căn cứ cho rằng bị can, bị cáo không có năng lực trách nhiệm hình sự thì Tòa án trưng cầu giám định pháp y tâm thần.
2. Căn cứ vào kết luận giám định, Tòa án có thể ra một trong những quyết định:
a) Quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án và áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh;
b) Trả hồ sơ để điều tra lại hoặc điều tra bổ sung;
c) Miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt và áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh;
d) Đưa vụ án ra xét xử.
3. Ngoài quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh, Tòa án có thể giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại hoặc vấn đề khác liên quan đến vụ án.
1. Trường hợp có căn cứ cho rằng người đang chấp hành án phạt tù mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi thì Trại giam, Trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh đề nghị Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu nơi người bị kết án chấp hành án phạt tù trưng cầu giám định pháp y tâm thần.
2. Căn cứ kết luận giám định pháp y tâm thần, Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh hoặc Chánh án Tòa án quân sự cấp quân khu nơi người bị kết án đang chấp hành án phạt tù ra quyết định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù và áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh.
Sau khi khỏi bệnh, người đó phải tiếp tục chấp hành án phạt tù nếu không có lý do để miễn chấp hành hình phạt tù.
1. Việc khiếu nại và giải quyết khiếu nại quyết định của Viện kiểm sát về việc áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh được thực hiện theo quy định tại Chương XXXIII của Bộ luật này.
2. Việc kháng cáo, kháng nghị quyết định của Tòa án về việc áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh được thực hiện như đối với quyết định sơ thẩm quy định tại Bộ luật này.
3. Quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh có hiệu lực thi hành cho đến khi có quyết định khác thay thế hoặc hủy bỏ quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh.
1. Biện pháp bắt buộc chữa bệnh được thực hiện ở cơ sở bắt buộc chữa bệnh tâm thần do Viện kiểm sát hoặc Tòa án chỉ định theo quy định của pháp luật.
2. Khi có thông báo của thủ trưởng cơ sở bắt buộc chữa bệnh tâm thần về việc người bị bắt buộc chữa bệnh đã khỏi bệnh thì cơ quan đã đề nghị áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh hoặc Viện kiểm sát, Tòa án đã ra quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh trưng cầu giám định pháp y tâm thần về tình trạng bệnh của người bị bắt buộc chữa bệnh.
Căn cứ kết luận giám định về việc người bị bắt buộc chữa bệnh đã khỏi bệnh, Viện kiểm sát, Tòa án ra quyết định đình chỉ thi hành biện pháp bắt buộc chữa bệnh.
3. Quyết định đình chỉ thi hành biện pháp bắt buộc chữa bệnh phải được cơ quan đã đề nghị áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh hoặc Viện kiểm sát, Tòa án gửi ngay cho cơ sở bắt buộc chữa bệnh và người đại diện của người bị bắt buộc chữa bệnh.
4. Các hoạt động tố tụng, việc chấp hành hình phạt đã bị tạm đình chỉ có thể được phục hồi theo quy định của Bộ luật này.
PROCEDURES FOR THE ENFORCEMENT OF CIVIL COMMITMENT
Article 447. Circumstances and authority to enforce civil commitment
1. Investigation authorities, procuracies and courts, as per the progress of legal proceedings, shall requisition forensic psychiatric assessment on the grounds that the perpetrators of acts dangerous to society do not have criminal capacity as per Article 21 of the Cirminal Law.
2. The procuracy shall rely on the findings of the forensic psychiatric assessment to make decisions on the enforcement of civil commitment during the stage of investigation and prosecution. Similar decisions during the stage of adjudication and sentence enforcement shall fall into the authority of the Court.
Article 448. Investigative activities against person with uncertain criminal capacity
1. Investigation authorities must clarify these matters on the grounds that the person causing danger to society does not have criminal capacity:
a) The acts endangering society occurred;
b) Mental conditions and illness of the person endangering society;
c) Whether the person endangering society loses sense of awareness or ability to control his actions.
2. Investigation authorities, when conducting legal proceedings, must assure the presence of a defense counsel after the person endangering society is determined to succumb to mental illness or other diseases that deprive him of sense of awareness or ability to control actions. A representative of the mentally ill person can participate in legal proceedings when necessary.
Article 449. Enforcement of civil commitment during the stage of investigation
1. When the forensic psychiatric assessment, as requisitioned by investigation authorities, finds the suspect mentally ill or deprived of sense of awareness or ability to control actions due to other diseases, investigation authorities shall propose in writing civil commitment with findings of the assessment to the equivalent Procuracy for approval.
In 03 days upon the receipt of the written proposition from investigation authorities and findings of the assessment, the Procuracy shall decide to enforce medical treatments against the suspect or request the investigation authorities to requisition further or repeated assessments if considering existing grounds insufficient.
2. If the Procuracy decides to enforce civil commitment, the investigation authorities must decide to suspend or terminate investigative activities against the suspect.
Article 450. Decisions by the Procuracy during the stage of prosecution
1. After receiving the case file and investigative findings, the Procuracy, if finding grounds of the suspect’s possession of no criminal capacity, shall requisition a forensic psychiatric assessment.
2. The procuracy shall consider the findings of the assessment to make one of these decisions:
a) Suspend the case and enforce civil commitment;
b) Dismiss the case and enforce civil commitment;
c) Return the case file for further investigation;
d) Prosecute the suspect before a Court.
3. Apart from civil commitment, the Procuracy can handle other issues of the case.
Article 451. Decisions by the Court during the stage of adjudication
1. The court, after accepting the case and grasping grounds that the suspect or defendant does not possess criminal capacity, shall requisition forensic psychiatric assessment.
2. The court shall consider the findings of the assessment and make one of these decisions:
a) Suspend or dismiss the case and enforce civil commitment;
b) Return case files for repeated or further investigation;
c) Grant exemption of criminal liabilities or penalties, and enforce civil commitment;
d) Try the case.
3. The court, apart from its decision to enforce civil commitment, can handle matters of compensation or other issues of the case.
Article 452. Enforcement of civil commitment against persons incarcerated
1. The prison, detention center or criminal sentence enforcement unit of the provincial Police office shall propose the provincial People’s Court or military Court of the military zone, at the place of a prisoner's imprisonment, to requisition forensic psychiatric assessment on the grounds that such prisoner allegedly succumbs to mental illness or other diseases bereaving him of abilities of perception or action control.
2. The president of the provincial People’s Court or military Court of the military zone, at the place of the prisoner’s imprisonment, shall consider the findings of the forensic psychiatric assessment and decide to suspend the execution of the jail sentence and enforce civil commitment.
The said person, when cured, shall continue serving time if it is unjustifiable to excuse the jail sentence.
Article 453. Complaints, appeals and protests
1. The filing and handling of complaints against a Procuracy's decisions to enforce civil commitment shall abide by Chapter XXXIII of this Law.
2. The filing of appeals or protests to a Court's rulings on the enforcement of civil commitment shall follow the stipulations for appeals or protests to the rulings of a first-instance court in this Law.
3. A decision to enforce civil commitment shall mantain its effect until it is replaced by another decision or rendered void.
Article 454. Termination of civil commitment
1. Civil commitment shall transpire at a mandatory mental treatment facility designated by the Procuracy or Court according to the laws.
2. When the head of the mandatory mental treatment facility announces the successful healing of a person forced to undergo medical treatments, the authority proposing such treatments or the Procuracy or Court enforcing the treatments shall requisition a forensic psychiatric assessment of the conditions of the said person.
The procuracy or court shall consider the assessment's findings on the treated person and decide to terminate civil commitment.
3. The authority proposing civil commitment or the Procuracy or Court must promptly send the decision to terminate treatments to the treatment facility and the representative of the person forced to receive treatments.
4. Legal proceedings and sentences suspended can only be resumed according to this Law.
Văn bản liên quan
Cập nhật
Điều 155. Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại
Điều 157. Căn cứ không khởi tố vụ án hình sự
Điều 268. Thẩm quyền xét xử của Tòa án
Điều 285. Viện kiểm sát rút quyết định truy tố
Điều 367. Thủ tục xem xét bản án tử hình trước khi thi hành
Điều 401. Thời hạn kháng nghị theo thủ tục tái thẩm
Ðiều 419. Áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế
Điều 447. Điều kiện và thẩm quyền áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh
Điều 57. Người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố
Điều 58. Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt
Điều 65. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án
Điều 73. Quyền và nghĩa vụ của người bào chữa
Điều 75. Lựa chọn người bào chữa
Điều 76. Chỉ định người bào chữa
Điều 78. Thủ tục đăng ký bào chữa
Điều 80. Gặp người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đang bị tạm giam
Điều 83. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố
Điều 84. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự
Điều 148. Tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố
Điều 241. Áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế
Điều 278. Áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế
Điều 347. Áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế
Điều 133. Chương trình an toàn, vệ sinh lao động
Mục 4. LAO ĐỘNG LÀ NGƯỜI KHUYẾT TẬT
Điều 41. Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát
Điều 42. Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên
Điều 110. Giữ người trong trường hợp khẩn cấp
Điều 125. Hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp ngăn chặn
Điều 156. Thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự
Điều 169. Chuyển vụ án để điều tra
Điều 173. Thời hạn tạm giam để điều tra
Điều 180. Thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can
Điều 228. Hủy bỏ việc áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt
Điều 236. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố
Điều 238. Giao, nhận hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra
Điều 246. Giải quyết yêu cầu điều tra bổ sung của Tòa án
Điều 368. Thủ tục xét tha tù trước thời hạn có điều kiện
Điều 433. Khởi tố bị can, thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố bị can đối với pháp nhân
Điều 443. Tạm đình chỉ điều tra, đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án, đình chỉ bị can, bị cáo
Điều 457. Quyết định áp dụng thủ tục rút gọn
Bài viết liên quan
Tội đánh bạc có được xoá án tích không? Điều kiện và thủ tục để xóa án tích tội đánh bạc theo luật hiện hành 2025
Tội đánh bạc có được xoá án tích không? Điều kiện và thủ tục để xóa án tích tội đánh bạc theo luật hiện hành 2025
Đánh bạc là hành vi phổ biến trong đời sống xã hội, tồn tại dưới nhiều hình thức từ truyền thống như xóc đĩa, lô đề, bài bạc cho đến các phương thức hiện đại qua mạng internet. Tuy nhiên, không phải ai cũng hiểu rõ khi nào hành vi đánh bạc sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự, và đâu là ranh giới giữa xử phạt hành chính và truy tố hình sự. Trong bối cảnh pháp luật hình sự Việt Nam có những sửa đổi, bổ sung mới nhất năm 2025, việc nắm rõ quy định pháp lý hiện hành, mức xử phạt cụ thể, cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trong tội đánh bạc là điều cần thiết để người dân phòng tránh rủi ro pháp lý. Bài viết dưới đây sẽ làm rõ thắc mắc Tội đánh bạc có được xoá án tích không? Điều kiện và thủ tục để xóa án tích tội đánh bạc theo luật hiện hành 2025 26/05/2025Luật mới nhất 2025 bị can, bị cáo có quyền im lặng không? Có bị tuyên án bất lợi không?
Luật mới nhất 2025 bị can, bị cáo có quyền im lặng không? Có bị tuyên án bất lợi không?
Quyền im lặng là một trong những quyền cơ bản của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự, nhằm bảo đảm nguyên tắc suy đoán vô tội và quyền tự bào chữa. Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều người vẫn thắc mắc. bị can, bị cáo có thực sự được im lặng theo pháp luật Việt Nam? Nếu không khai báo hoặc từ chối trả lời câu hỏi thì có bị xem là tình tiết bất lợi hay không? Với những thay đổi trong Bộ luật Tố tụng Hình sự và các văn bản hướng dẫn có hiệu lực từ năm 2025, vấn đề này ngày càng được làm rõ hơn cả về lý luận lẫn thực tiễn. Bài viết dưới đây sẽ phân tích cụ thể quyền im lặng theo quy định mới nhất, đồng thời giải đáp lo ngại về việc bị tuyên án bất lợi khi lựa chọn giữ quyền im lặng trong quá trình điều tra và xét xử. 25/05/2025Bị bắt quả tang - Ai phải chứng minh vô tội hoặc có tội quy định mới nhất 2025
Bị bắt quả tang - Ai phải chứng minh vô tội hoặc có tội quy định mới nhất 2025
Trong thực tế tố tụng hình sự, nhiều người cho rằng khi bị bắt quả tang thì nghiễm nhiên bị coi là có tội. Tuy nhiên, theo nguyên tắc suy đoán vô tội được quy định trong Bộ luật Tố tụng Hình sự, kể cả trong trường hợp bị bắt quả tang, người bị buộc tội vẫn được pháp luật bảo đảm quyền được coi là vô tội cho đến khi có bản án kết tội hợp pháp. Vấn đề đặt ra là. ai có trách nhiệm chứng minh bị can, bị cáo có tội – người bị bắt hay cơ quan tiến hành tố tụng? Bài viết này sẽ làm rõ quy định pháp luật mới nhất năm 2025 về nghĩa vụ chứng minh trong trường hợp bắt quả tang, giúp bạn đọc hiểu đúng bản chất pháp lý và bảo vệ quyền lợi chính đáng trong quá trình tố tụng. 25/05/2025Nguyên tắc suy đoán vô tội là gì? Chi tiết nguyên tắc suy đoán vô tội theo Bộ luật Tố tụng Hình sự mới nhất 2025
Nguyên tắc suy đoán vô tội là gì? Chi tiết nguyên tắc suy đoán vô tội theo Bộ luật Tố tụng Hình sự mới nhất 2025
Nguyên tắc suy đoán vô tội là một trong những nguyên tắc cơ bản, cốt lõi của pháp luật tố tụng hình sự hiện đại, thể hiện tinh thần thượng tôn pháp luật và bảo đảm quyền con người trong tố tụng. Theo đó, một người bị buộc tội được coi là vô tội cho đến khi được chứng minh là có tội theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định và có bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của tòa án. Tại Việt Nam, nguyên tắc này được quy định rõ trong Bộ luật Tố tụng Hình sự và tiếp tục được khẳng định, làm rõ trong các sửa đổi, bổ sung mới nhất của năm 2025. Bài viết dưới đây sẽ phân tích chi tiết nội dung, ý nghĩa và cách áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội trong thực tiễn tố tụng hình sự hiện nay. 25/05/2025Cản trở người thi hành công vụ là gì? Hình phạt mới nhất 2025 tội cản trở người thi hành công vụ ra sao?
Cản trở người thi hành công vụ là gì? Hình phạt mới nhất 2025 tội cản trở người thi hành công vụ ra sao?
Trong quá trình thực hiện chức năng quản lý nhà nước, các cơ quan công quyền và người thi hành công vụ thường xuyên phải đối mặt với những hành vi chống đối, gây rối hoặc cản trở từ một bộ phận cá nhân, tổ chức thiếu ý thức chấp hành pháp luật. Những hành vi này không chỉ gây khó khăn cho hoạt động quản lý nhà nước mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội. Hãy cùng tìm hiểu về cản trở người thi hành công vụ là gì? Hình phạt mới nhất 2025 tội cản trở người thi hành công vụ ra sao? 29/05/2025Giam giữ người quá thời hạn quy định là vi phạm quyền nào của công dân?
Giam giữ người quá thời hạn quy định là vi phạm quyền nào của công dân?
Trong một nhà nước pháp quyền, quyền tự do thân thể là một trong những quyền cơ bản và thiêng liêng nhất của công dân, được pháp luật bảo đảm và Hiến pháp ghi nhận. Tuy nhiên, trên thực tế, vẫn tồn tại những trường hợp giam giữ người quá thời hạn luật định – một hành vi không chỉ trái pháp luật mà còn xâm phạm nghiêm trọng đến quyền con người. Vậy cụ thể, việc giam giữ người quá thời hạn quy định đã vi phạm quyền nào của công dân? 29/05/2025Tội đánh bạc khoản 2 có được hưởng án treo không? Điều kiện xét duyệt theo luật mới nhất 2025
Tội đánh bạc khoản 2 có được hưởng án treo không? Điều kiện xét duyệt theo luật mới nhất 2025
Đánh bạc là hành vi phổ biến trong đời sống xã hội, tồn tại dưới nhiều hình thức từ truyền thống như xóc đĩa, lô đề, bài bạc cho đến các phương thức hiện đại qua mạng internet. Tuy nhiên, không phải ai cũng hiểu rõ khi nào hành vi đánh bạc sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự, và đâu là ranh giới giữa xử phạt hành chính và truy tố hình sự. Trong bối cảnh pháp luật hình sự Việt Nam có những sửa đổi, bổ sung mới nhất năm 2025, việc nắm rõ quy định pháp lý hiện hành, mức xử phạt cụ thể, cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trong tội đánh bạc là điều cần thiết để người dân phòng tránh rủi ro pháp lý. Bài viết dưới đây sẽ làm rõ thắc mắc Tội đánh bạc khoản 2 có được hưởng án treo không? Điều kiện xét duyệt theo luật mới nhất 2025 26/05/2025Tội tổ chức đánh bạc tạm giam bao lâu theo luật mới nhất 2025?
Tội tổ chức đánh bạc tạm giam bao lâu theo luật mới nhất 2025?
Trong xã hội hiện đại, các hành vi vi phạm pháp luật ngày càng trở nên đa dạng và tinh vi, trong đó tổ chức đánh bạc là một trong những hiện tượng gây nhức nhối và ảnh hưởng tiêu cực đến trật tự an toàn xã hội. Không chỉ đơn thuần là hành vi cá cược ăn tiền, tổ chức đánh bạc còn tiềm ẩn nhiều hệ lụy nghiêm trọng như phát sinh tội phạm, rối loạn kinh tế gia đình, và làm suy giảm đạo đức xã hội. Hãy cùng tìm hiểu về tội tổ chức đánh bạc tạm giam bao lâu theo luật mới nhất 2025? 28/05/2025Khoản 1 tội đánh bạc mức phạt tiền và hình thức xử lý theo BLHS mới nhất 2025
Khoản 1 tội đánh bạc mức phạt tiền và hình thức xử lý theo BLHS mới nhất 2025
ánh bạc là hành vi phổ biến trong đời sống xã hội, tồn tại dưới nhiều hình thức từ truyền thống như xóc đĩa, lô đề, bài bạc cho đến các phương thức hiện đại qua mạng internet. Tuy nhiên, không phải ai cũng hiểu rõ khi nào hành vi đánh bạc sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự, và đâu là ranh giới giữa xử phạt hành chính và truy tố hình sự. Trong bối cảnh pháp luật hình sự Việt Nam có những sửa đổi, bổ sung mới nhất năm 2025, việc nắm rõ quy định pháp lý hiện hành, mức xử phạt cụ thể, cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trong tội đánh bạc là điều cần thiết để người dân phòng tránh rủi ro pháp lý. Bài viết dưới đây sẽ làm rõ Khoản 1 tội đánh bạc mức phạt tiền và hình thức xử lý theo BLHS mới nhất 2025 26/05/2025Đánh bài bị bắt có bị đi tù không theo quy định mới nhất 2025?
