Bị bắt quả tang - Ai phải chứng minh vô tội hoặc có tội quy định mới nhất 2025
Bị bắt quả tang - Ai phải chứng minh vô tội hoặc có tội quy định mới nhất 2025

1. Bị bắt quả tang - Ai phải chứng minh vô tội hoặc có tội quy định mới nhất 2025

Bên cạnh nguyên tắc suy đoán vô tội, Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 cũng đã thể chế hóa một nguyên tắc cơ bản khác vô cùng quan trọng đó là nguyên tắc xác định sự thật của vụ án. Cụ thể tại Điều 15 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 có quy định:

“Điều 15. Xác định sự thật của vụ án

Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội.

Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng các biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội."

Theo đó, từ nguyên tắc trên có thể thấy rằng trách nhiệm chứng minh vô tội hay có tội thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Người bị buộc tội hay người phạm tội quả tang có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội.

2. Nguyên tắc suy đoán vô tội là gì? Chi tiết nguyên tắc suy đoán vô tội theo Bộ luật Tố tụng Hình sự mới nhất 2025

2.1. Nguyên tắc suy đoán vô tội là gì?

Nguyên tắc suy đoán vô tội được quy định tại Điều 13 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, cụ thể như sau:

  • Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
  • Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội.

2.2. Chi tiết nguyên tắc suy đoán vô tội theo Bộ luật Tố tụng Hình sự mới nhất 2025

Nguyên tắc suy đoán vô tội bao gồm các nội dung sau đây:

  • Một là, người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi tội của họ được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định và bị kết tội bởi một bản án có hiệu lực pháp luật.
  • Hai là, khi chưa được chứng minh theo trình tự, thủ tục do luật quy định, chưa có bản án kết tội của toà án đã có hiệu lực pháp luật thì người bị buộc tội phải được coi là người không có tội. Cho nên, cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng không được đối xử với người bị buộc tội như người phạm tội, không được định kiến, thiên lệch khi giải quyết vụ án ngay cả khi bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế, ngăn chặn.
  • Ba là, việc chứng minh phải thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật. Nghiêm cấm sử dụng các hình thức như bức cung, mớm cung trong quá trình thu thập chứng cứ, vì như thế sẽ làm vụ án đi theo hướng sai lệch và vụ án không được sáng tỏa.
  • Bốn là, khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục luật định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội. Mọi nghi ngờ trong quá trình tố tụng đều phải được giải thích theo hướng có lợi cho người bị buộc tội.

Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về bên người buộc tội, người bị buộc có thể sử dụng quyền im lặng để không gây bất lợi cho mình.

3. Việc xác định tuổi của người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi do ai thực hiện?

Căn cứ quy định tại Điều 4 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 như sau:

“Điều 4. Giải thích từ ngữ

1. Trong Bộ luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

...

d) Nguồn tin về tội phạm gồm tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố của cơ quan, tổ chức, cá nhân, lời khai của người phạm tội tự thú và thông tin về tội phạm do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện.

đ) Người bị buộc tội gồm người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo.

...”

Theo đó, người bị buộc tội gồm người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo.

Để biết việc xác định tuổi của người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi do ai thực hiện thì căn cứ quy định tại Điều 417 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 như sau:

“Điều 417. Xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại là người dưới 18 tuổi

1. Việc xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại là người dưới 18 tuổi do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thực hiện theo quy định của pháp luật.

2. Trường hợp đã áp dụng các biện pháp hợp pháp mà vẫn không xác định được chính xác thì ngày, tháng, năm sinh của họ được xác định:

a) Trường hợp xác định được tháng nhưng không xác định được ngày thì lấy ngày cuối cùng của tháng đó làm ngày sinh.

b) Trường hợp xác định được quý nhưng không xác định được ngày, tháng thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong quý đó làm ngày, tháng sinh.

c) Trường hợp xác định được nửa của năm nhưng không xác định được ngày, tháng thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong nửa năm đó làm ngày, tháng sinh.

d) Trường hợp xác định được năm nhưng không xác định được ngày, tháng thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong năm đó làm ngày, tháng sinh.

3. Trường hợp không xác định được năm sinh thì phải tiến hành giám định để xác định tuổi.”

Theo đó, việc xác định tuổi của người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thực hiện theo quy định của pháp luật.

Lưu ý: Trường hợp đã áp dụng các biện pháp hợp pháp mà vẫn không xác định được chính xác thì ngày, tháng, năm sinh của họ được xác định như sau:

  • Trường hợp xác định được tháng nhưng không xác định được ngày thì lấy ngày cuối cùng của tháng đó làm ngày sinh.
  • Trường hợp xác định được quý nhưng không xác định được ngày, tháng thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong quý đó làm ngày, tháng sinh.
  • Trường hợp xác định được nửa của năm nhưng không xác định được ngày, tháng thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong nửa năm đó làm ngày, tháng sinh.
  • Trường hợp xác định được năm nhưng không xác định được ngày, tháng thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong năm đó làm ngày, tháng sinh.

Trong trường hợp không xác định được năm sinh thì phải tiến hành giám định để xác định tuổi.

Bị bắt quả tang - Ai phải chứng minh vô tội hoặc có tội quy định mới nhất 2025
Bị bắt quả tang - Ai phải chứng minh vô tội hoặc có tội quy định mới nhất 2025

4. Người bị tạm giữ có được quyền im lặng khi Cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai không?

Hiện nay, pháp luật Việt Nam không có quy định nào đề cập cụ thể về quyền im lặng. Tuy nhiên, thông qua các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 chúng ta vẫn ghi nhận quyền im lặng của bị can, bị cáo, người bị tạm giữ và người bị bắt khẩn cấp.

Theo đó, đối với người bị tạm giữ, tại khoản 2 Điều 59 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 có quy định như sau:

“Điều 59. Người bị tạm giữ

...

2. Người bị tạm giữ có quyền:

a) Được biết lý do mình bị tạm giữ; nhận quyết định tạm giữ, quyết định gia hạn tạm giữ, quyết định phê chuẩn quyết định gia hạn tạm giữ và các quyết định tố tụng khác theo quy định của Bộ luật này;

b) Được thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều này;

c) Trình bày lời khai, trình bày ý kiến, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội;

d) Tự bào chữa, nhờ người bào chữa;

đ) Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;

e) Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;

g) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng về việc tạm giữ.

...”

Theo đó, người bị tạm giữ có quyền trình bày lời khai, trình bày ý kiến nhưng không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội.

5. Các câu hỏi thường gặp

5.1. Hãy cho biết nguyên tắc suy đoán vô tội là gì?

Nguyên tắc suy đoán vô tội được quy định tại Điều 13 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 như sau: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.

5.2. Nội dung của nguyên tắc không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm?

Nguyên tắc “Không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm”, là một nguyên tắc mới được quy định tại Điều 14 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, theo đó, nếu một người thực hiện hành vi phạm tội thì họ chỉ bị xét xử bởi một Tòa án và chỉ phải chịu trách nhiệm pháp lý bởi một bản án.

5.3. Người tiến hành tố tụng dân sự gồm những ai?

Theo khoản 2 Điều 46 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, người tiến hành tố tụng dân sự gồm có:

  • Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án;
  • Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên.

5.4. Bị can khác gì bị cáo?

  • Bị can là người hoặc pháp nhân bị khởi tố về hình sự. Quyền và nghĩa vụ của bị can là pháp nhân được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật của pháp nhân theo quy định.
  • Bị cáo là người hoặc pháp nhân đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử.

5.5. Khi nào thì được gọi là bị can?

Bị can là người hoặc pháp nhân đã bị khởi tố về hình sự và phải có nghĩa vụ có mặt theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát. Bị can thường bị nhầm lẫn khái niệm với bị cáo.