Đọc hiểu Quê hương (có đáp án)
Bài Đọc hiểu Quê hương gồm câu hỏi đọc hiểu và câu hỏi viết có đáp án chi tiết giúp bạn ôn luyện và học tập hiệu quả Ngữ Văn 6.
Đọc hiểu Quê hương (có đáp án)
I. Bài thơ Đọc hiểu Quê hương
QUÊ HƯƠNG
Quê hương là gì hở mẹ?
Mà cô giáo dạy phải yêu.
Quê hương là gì hở mẹ?
Ai đi xa cũng nhớ nhiều.
Quê hương là chùm khế ngọt
Cho con trèo hái mỗi ngày.
Quê hương là đường đi học
Con về rợp bướm vàng bay.
Quê hương là con diều biếc
Tuổi thơ con thả trên đồng.
Quê hương là con đò nhỏ
Êm đềm khua nước ven sông.
Quê hương là cầu tre nhỏ
Mẹ về nón lá nghiêng che
Là hương hoa đồng cỏ nội
Bay trong giấc ngủ đêm hè.
Quê hương là vòng tay ấm
Con nằm ngủ giữa mưa đêm.
Quê hương là đêm trăng tỏ
Hoa cau rụng trắng ngoài thềm.
Quê hương là vàng hoa bí
Là hồng tím giậu mồng tơi
Là đỏ đôi bờ dâm bụt
Màu hoa sen trắng tinh khôi.
Quê hương mỗi người chỉ một
Như là chỉ một mẹ thôi
Quê hương nếu ai không nhớ.
Sẽ không lớn nổi thành người.
(Quê hương - Đỗ Trung Quân)
II. Câu hỏi Đọc hiểu Quê hương
Câu 1: Bài thơ Quê hương được viết theo thể thơ nào?
Trả lời:
Thể thơ: sáu chữ.
Câu 2: Xác định phương thức biểu đạt chính của bài thơ Quê hương?
Trả lời:
Phương thức biểu đạt: biểu cảm.
Câu 3: Việc nhắc lại 2 lần câu hỏi tu từ “Quê hương là gì hả mẹ”? có tác dụng gì?
Trả lời:
Thể hiện sự ngây thơ, trong sáng của tâm hồn trẻ thơ khi khao khát được hiểu về quê hương.
Gợi giọng điệu hồn nhiên, gần gũi, tự nhiên cho toàn bài.
Nhấn mạnh chủ đề, tạo điểm nhấn cảm xúc và khơi mở cho những định nghĩa giản dị, giàu hình ảnh về quê hương ở các khổ thơ tiếp theo.
Câu 4: Tác giả đã dùng những hình ảnh nào để thể hiện tình cảm của mình với quê hương?
Trả lời:
Những hình ảnh dùng để miêu tả quê hương: Chùm khế ngọt, đường đi học rợp bướm vàng, con diều biếc, con đò nhỏ, cầu tre nhỏ, hoa cau, hoa bí, giậu mồng tơi, dâm bụt, hoa sen...
III. Câu hỏi Viết Quê hương
Trả lời:
a. Đảm bảo yêu cầu về hình thức, dung lượng
- Viết đúng hình thức đoạn văn (diễn dịch, quy nạp, móc xích…).
- Đảm bảo dung lượng khoảng 200 chữ.
b. Xác định đúng yêu cầu của đoạn văn: tình cảm của tác giả đối với quê hương.
c. Hệ thống ý
- Tác giả cảm nhận quê hương từ những điều bình dị, gần gũi: chùm khế ngọt, con đường đi học, con diều biếc, con đò nhỏ, cầu tre… → thể hiện sự gắn bó máu thịt.
- Tình yêu quê hương còn gắn liền với tuổi thơ, với những trò chơi, cảnh vật, hương đồng gió nội.
- Tình cảm ấy vừa thân thương vừa thiêng liêng: quê hương được ví như người mẹ – chỉ có một và không thể thay thế.
- Qua giọng thơ hồn nhiên, trong trẻo, tác giả gửi gắm niềm biết ơn, trân trọng và khẳng định vai trò to lớn của quê hương trong việc nuôi dưỡng tâm hồn con người.
d. Chính tả, ngữ pháp: Đảm bảo chuẩn chỉnh, ngữ pháp Tiếng Việt.
e. Sáng tạo: Bố cục rõ ràng, lời văn giàu hình ảnh, cảm xúc.
Đoạn văn tham khảo
Quê hương luôn là điểm tựa tinh thần, là cội nguồn thiêng liêng trong tâm hồn mỗi con người. Trong bài thơ Quê hương của Đỗ Trung Quân, tình cảm của tác giả dành cho quê hương được thể hiện vô cùng tha thiết, chân thành qua những hình ảnh rất đỗi bình dị. Quê hương hiện lên từ chùm khế ngọt, con đường đi học, cánh diều biếc, con đò nhỏ, cầu tre nghiêng che bóng mẹ… Tất cả đều gắn bó mật thiết với tuổi thơ trong sáng, hồn nhiên của tác giả. Qua những chi tiết quen thuộc ấy, quê hương trở thành nơi lưu giữ bao kỉ niệm ngọt ngào, chan chứa tình yêu thương. Không chỉ dừng lại ở sự gần gũi, quê hương còn được ví như người mẹ – thiêng liêng, duy nhất và không thể thay thế. Giọng thơ hồn nhiên, trong trẻo đã truyền tải trọn vẹn tình cảm gắn bó, biết ơn và niềm tự hào sâu nặng về quê hương. Bài thơ như một lời nhắc nhở rằng mỗi người cần yêu mến, giữ gìn và có trách nhiệm với quê hương mình, bởi “Quê hương nếu ai không nhớ/ Sẽ không lớn nổi thành người”.
Trả lời:
a. Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận
- Học sinh biết tạo lập một bài văn nghị luận đảm bảo đủ cấu trúc 3 phần: Mở bài, Thân bài, Kết bài.
- Đảm bảo đúng dung lượng khoảng 400 chữ.
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: vai trò của tinh thần tự học.
c. Bài viết có thể triển khai theo nhiều cách khác nhau song cần đảm bảo các ý sau
* Mở bài
- Giới thiệu vấn đề: Trong xã hội hiện nay, tri thức ngày càng mở rộng, không ai có thể chỉ dựa vào sự dạy bảo của thầy cô mà thành công.
- Nêu vấn đề nghị luận: Tinh thần tự học có vai trò quan trọng, đặc biệt với học sinh.
* Thân bài
- Giải thích
+ Tự học là quá trình tự mình tìm tòi, nghiên cứu, rèn luyện để chiếm lĩnh tri thức và kỹ năng, không phụ thuộc hoàn toàn vào thầy cô hay người khác.
+ Tinh thần tự học là ý thức chủ động, kiên trì và say mê học tập.
- Vai trò của tinh thần tự học.
+ Giúp học sinh mở rộng, đào sâu kiến thức, không bị giới hạn trong sách vở.
+ Rèn luyện kỹ năng tư duy độc lập, sáng tạo, biết cách giải quyết vấn đề.
+ Hình thành phẩm chất tự lập, chủ động – nền tảng cho thành công trong tương lai.
+ Giúp học sinh phát triển toàn diện, biến tri thức thành vốn sống của bản thân.
- Dẫn chứng – phân tích
+ Nhiều tấm gương tự học thành tài: Nguyễn Hiền, Mạc Đĩnh Chi, Abraham Lincoln…
+ Trong thực tế, học sinh có tinh thần tự học thường tiến bộ nhanh và bền vững hơn.
- Phản đề: Ngược lại, người lười biếng, ỷ lại vào người khác sẽ tụt hậu, thiếu kỹ năng sống, khó thành công.
- Bài học nhận thức và hành động
+ Tự học là chìa khóa để tiếp cận tri thức, thành công lâu dài.
+ Mỗi học sinh cần lập kế hoạch học tập, biết tự giác, chủ động, kết hợp giữa học ở lớp và tự học ở nhà.
* Kết bài
- Khẳng định vai trò to lớn của tinh thần tự học đối với học sinh.
- Liên hệ bản thân: Cần rèn luyện ý thức tự học để trở thành người có tri thức và trách nhiệm với tương lai.
d. Chính tả, ngữ pháp: Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp Tiếng Việt.
e. Sáng tạo: Diễn đạt trong sáng, bài viết thể hiện được sự sáng tạo, độc đáo riêng.
Bài viết tham khảo
Trong cuộc sống hiện đại, tri thức trở thành chiếc chìa khóa mở cánh cửa dẫn đến thành công. Nhưng tri thức thì vô cùng rộng lớn, thầy cô hay sách vở chỉ có thể truyền đạt một phần nhỏ. Để nắm bắt và làm chủ tri thức, mỗi người cần có tinh thần tự học. Đối với học sinh, tinh thần tự học lại càng giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong học tập và rèn luyện.
Tự học có thể hiểu là quá trình mỗi cá nhân tự mình tìm tòi, nghiên cứu, rèn luyện nhằm chiếm lĩnh tri thức và kỹ năng, không hoàn toàn phụ thuộc vào sự chỉ dạy của người khác. Tinh thần tự học là thái độ chủ động, kiên trì và say mê trong học tập. Đó không chỉ là hành động học mà còn là một phẩm chất tốt đẹp cần được rèn luyện thường xuyên.
Tinh thần tự học trước hết giúp học sinh mở rộng, đào sâu kiến thức. Nếu chỉ học trên lớp, chúng ta sẽ bị giới hạn trong phạm vi sách giáo khoa. Nhưng với tự học, người học có thể tìm hiểu thêm nhiều nguồn tài liệu khác, từ đó nâng cao tầm hiểu biết. Tự học còn rèn cho học sinh khả năng tư duy độc lập, biết đặt câu hỏi và tự tìm câu trả lời. Nhờ vậy, mỗi người không chỉ tiếp thu thụ động mà còn sáng tạo, biết cách vận dụng tri thức vào thực tiễn. Tinh thần tự học còn góp phần hình thành tính tự lập và trách nhiệm. Khi có ý thức tự học, học sinh sẽ biết chủ động sắp xếp thời gian, lập kế hoạch, kiên trì theo đuổi mục tiêu – đó chính là những kỹ năng cần thiết cho thành công sau này.
Trong lịch sử cũng như đời sống hiện tại, có rất nhiều tấm gương sáng về tinh thần tự học. Nguyễn Hiền – vị trạng nguyên trẻ tuổi nhất trong lịch sử khoa cử Việt Nam – xuất thân nghèo khó nhưng đã vượt lên hoàn cảnh, kiên trì tự học để thành tài. Hay như Abraham Lincoln – Tổng thống Mỹ vĩ đại – từng phải mượn sách để học dưới ánh đèn dầu. Ở thực tế xung quanh chúng ta, những học sinh biết tự giác tìm tòi, chủ động luyện tập thường đạt kết quả bền vững hơn so với những bạn chỉ học khi bị ép buộc.
Ngược lại, sự lười biếng, ỷ lại sẽ khiến con người tụt hậu. Nếu học sinh chỉ trông chờ vào thầy cô, vào việc học thuộc lòng mà thiếu tinh thần tự học, thì kiến thức sẽ nhanh chóng mai một, kỹ năng tư duy không được rèn luyện, cuộc sống sau này dễ gặp thất bại. Vì thế, tự học không chỉ cần thiết mà còn là yêu cầu bắt buộc để mỗi người trưởng thành.
Từ đó, ta rút ra bài học: Mỗi học sinh cần nhận thức rõ tự học chính là con đường vững chắc để tiếp cận tri thức và phát triển bản thân. Trong học tập hằng ngày, chúng ta phải lập kế hoạch, phân bổ thời gian hợp lý, kết hợp giữa học ở lớp với tự học ở nhà, đồng thời giữ cho mình tinh thần kiên trì và hứng thú học tập.
Tinh thần tự học không chỉ giúp con người thành công trong học tập mà còn mở ra khả năng làm chủ cuộc sống. Người có thói quen tự học sẽ không ngừng lớn lên trong tri thức, biết thích ứng với mọi hoàn cảnh, có thể tự tin bước vào tương lai. Với học sinh, đó cũng chính là hành trang quý báu để khẳng định bản thân và đóng góp cho xã hội.
Xem thêm các chương trình khác:
- Giải sgk Địa Lí 6 – Kết nối tri thức
- Giải sbt Địa Lí 6 – Kết nối tri thức
- Lý thuyết Địa Lí 6 – Kết nối tri thức
- Giải sgk Toán 6 – Kết nối tri thức
- Giải Vở thực hành Toán lớp 6 – Kết nối tri thức
- Giải sbt Toán 6 – Kết nối tri thức
- Lý thuyết Toán 6 – Kết nối tri thức
- Chuyên đề dạy thêm Toán 6 Kết nối tri thức (2026 có đáp án)
- Giải sgk Tin học 6 – Kết nối tri thức
- Giải sbt Tin học 6 – Kết nối tri thức
- Lý thuyết Tin học 6 – Kết nối tri thức
- Giải sgk Công nghệ 6 – Kết nối tri thức
- Giải sbt Công nghệ 6 – Kết nối tri thức
- Lý thuyết Công nghệ 6 – Kết nối tri thức
- Giải sgk Lịch sử 6 – Kết nối tri thức
- Giải sbt Lịch sử 6 – Kết nối tri thức
- Lý thuyết Lịch sử lớp 6 - Kết nối tri thức
- Giải sgk GDCD 6 – Kết nối tri thức
- Giải sbt GDCD 6 – Kết nối tri thức
- Lý thuyết GDCD 6 – Kết nối tri thức
- Giải sgk Khoa học tự nhiên 6 – Kết nối tri thức
- Giải sbt Khoa học tự nhiên 6 – Kết nối tri thức
- Lý thuyết Khoa học tự nhiên 6 – Kết nối tri thức
- Giải sgk Tiếng Anh 6 – Global Success
- Giải sbt Tiếng Anh 6 – Kết nối tri thức
- Bài tập Tiếng Anh 6 Global success theo Unit có đáp án
- Trọn bộ Từ vựng Tiếng Anh 6 Global success đầy đủ nhất
- Ngữ pháp Tiếng Anh 6 Global success
