Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không? (ảnh 1)
Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?

1. Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?

Theo Điều 16 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội như sau:

Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội

...

Người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm; nếu hành vi thực tế đã thực hiện có đủ yếu tố cấu thành của một tội khác, thì người đó phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này.

Căn cứ trên quy định người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm; nếu hành vi thực tế đã thực hiện có đủ yếu tố cấu thành của một tội khác, thì người đó phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này.

Như vậy, có thể thấy người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự cho tội danh định phạm.

Tuy nhiên, nếu các yếu tố cấu thành một tội danh khác thì người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự cho tội danh đó.

2. Phạm tội chưa đạt khác tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội ở điểm nào?

Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không? (ảnh 1)

Phạm tội chưa đạt khác tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội ở điểm nào?

Phạm tội chưa đạt

Tự ý nửa chừng chấm dứt phạm tội

Căn cứ pháp lý

Điều 15 BLHS năm 2015

Điều 16 BLHS năm 2015

Khái niệm

Phạm tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội.

Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là trường hợp một người tự mình không thực hiện tội phạm đến cùng mặc dù khách quan không có gì ngăn cản.

Bản chất

Thực hiện một phần hành vi phạm tội nhưng chưa hoàn thành do nguyên nhân khách quan.

Tự nguyện ngừng hành vi phạm tội mà không bị ngăn cản.

Nguyên nhân

Nguyên nhân khách quan, không nằm trong ý muốn của người phạm tội

Nguyên nhân chủ quan, xuất phát từ ý chí của người phạm tội

Hậu quả pháp lý

Căn cứ theo Điều 15 BLHS năm 2015, người phạm tội chưa đạt phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa đạt.

Bên cạnh đó, Điều 57 BLHS năm 2015 quy định như sau:

- Đối với hành vi chuẩn bị phạm tội và hành vi phạm tội chưa đạt, hình phạt được quyết định theo các điều của Bộ luật này về các tội phạm tương ứng tùy theo tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, mức độ thực hiện ý định phạm tội và những tình tiết khác khiến cho tội phạm không thực hiện được đến cùng.

- Đối với trường hợp phạm tội chưa đạt, nếu điều luật được áp dụng có quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình thì áp dụng hình phạt tù không quá 20 năm; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định.

Căn cứ theo Điều 16 BLHS năm 2015, người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm; nếu hành vi thực tế đã thực hiện có đủ yếu tố cấu thành của một tội khác, thì người đó phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này.

Ví dụ

Anh A có ý định trộm cắp tài sản của nhà B. A đã chuẩn bị đầy đủ dụng cụ và đột nhập vào nhà B. Tuy nhiên, khi A đang tìm kiếm tài sản để trộm, B trở về nhà và phát hiện ra hành vi của A. A bị bắt giữ trước khi kịp lấy bất kỳ tài sản nào.

Phân tích: Trong trường hợp này, A đã có ý định và bắt đầu thực hiện hành vi trộm cắp, nhưng chưa hoàn thành do bị phát hiện và ngăn cản bởi B. Đây là phạm tội chưa đạt vì hành vi phạm tội chưa được hoàn thành do nguyên nhân khách quan.

Anh C cũng có ý định trộm cắp tài sản của nhà D. C đã chuẩn bị dụng cụ và đột nhập vào nhà D. Tuy nhiên, sau khi vào nhà D và chuẩn bị lấy tài sản, C tự suy nghĩ lại và quyết định không thực hiện hành vi trộm cắp nữa. C rời khỏi nhà D mà không lấy bất kỳ tài sản nào.

Phân tích: Trong trường hợp này, C đã có ý định và bắt đầu thực hiện hành vi trộm cắp, nhưng tự nguyện ngừng lại và không tiếp tục hành vi. Đây là tự ý chấm dứt phạm tội vì C tự nguyện ngừng thực hiện hành vi phạm tội mà không bị ngăn cản.

3. Các câu hỏi thường gặp

3.1. Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là gì?

Theo Điều 16 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội như sau:

Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội

Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là tự mình không thực hiện tội phạm đến cùng, tuy không có gì ngăn cản.

....

Theo đó, tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là tự mình không thực hiện tội phạm đến cùng, tuy không có gì ngăn cản.

3.2. Có thể được miễn trách nhiệm hình sự trong trường hợp nào?

Theo khoản 2 Điều 29 Bộ luật Hình sự 2015 (được bổ sung bởi điểm a khoản 1 Điều 2 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017) quy định về căn cứ miễn trách nhiệm hình sự như sau:

  • Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử do chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa;
  • Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử, người phạm tội mắc bệnh hiểm nghèo dẫn đến không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội nữa;
  • Trước khi hành vi phạm tội bị phát giác, người phạm tội tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm và lập công lớn hoặc có cống hiến đặc biệt, được Nhà nước và xã hội thừa nhận.
  • Bên cạnh đó, người thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng do vô ý gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả và được người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự.

Ngoài ra, nếu có một trong những căn cứ sau đây thì người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự gồm:

  • Khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do có sự thay đổi chính sách, pháp luật làm cho hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa;
  • Khi có quyết định đại xá.

3.3. Như thế nào được coi là phạm tội chưa đạt theo Bộ luật Hình sự 2025?

Có 3 giai đoạn tội phạm như sau:

  • Chuẩn bị phạm tội
  • Phạm tội chưa đạt
  • Phạm tội hoàn thành

Căn cứ Điều 15 Bộ luật Hình sự 2015 quy định phạm tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội. Người phạm tội chưa đạt phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa đạt.

3.4. Phạm tội chưa đạt được chia thành mấy loại theo Bộ luật Hình sự 2025?

Phạm tội chưa đạt có hai dạng như sau:

  • Phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành (chưa đạt về hậu quả, chưa hoàn thành về hành vi): Người phạm tội vì những nguyên nhân khách quan mà chưa thực hiện hết các hành vi cho là cần thiết để gây ra hậu quả của tội phạm, do đó, hậu quả của tội phạm đã không xảy ra.

Ví dụ: A cầm cây gỗ dài định đánh vào lưng B thì có người ngăn cản, A không thể thực hiện hành vi của mình. Hành vi này của A là hành vi phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành.

  • Phạm tội chưa đạt đã hoàn thành: Người phạm tội đã thực hiện được hết những hành vi cho là cần thiết để gây ra hậu quả, nhưng hậu quả đã không xảy ra do nguyên nhân ngoài ý muốn.

Ví dụ: A dùng cây kéo nhọn đâm nhiều lần vào ngực B để giết chết B sau đó thấy B bất tỉnh nên A đã bỏ đi. B được phát hiện và đưa đi cấp cứu kịp thời nên không chết. Hành vi này của A là hành vi phạm tội chưa đạt đã hoàn thành.