Phân biệt trả hồ sơ để điều tra bổ sung và trả hồ sơ để truy tố lại chuẩn quy định mới nhất 2025
Phân biệt trả hồ sơ để điều tra bổ sung và trả hồ sơ để truy tố lại chuẩn quy định mới nhất

1. Phân biệt trả hồ sơ để điều tra bổ sung và trả hồ sơ để truy tố lại chuẩn quy định mới nhất 2025

Trả hồ sơ điều tra bổ sung và trả hồ sơ truy tố lại là hai khái niệm khác nhau, được quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

Trả hồ sơ điều tra bổ sung

Trả hồ sơ truy tố lại

Trường hợp trả hồ sơ

(1) Viện kiểm sát trả hồ sơ vụ án trước khi xét xử vụ án hình sự

- Còn thiếu chứng cứ để chứng minh một trong những vấn đề sau mà Viện kiểm sát không thể tự mình bổ sung được;

+ Có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội;

+ Ai là người thực hiện hành vi phạm tội; có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý; có năng lực trách nhiệm hình sự hay không; mục đích, động cơ phạm tội;

+ Những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo và đặc điểm về nhân thân của bị can, bị cáo;

+ Tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra;

+ Nguyên nhân và điều kiện phạm tội;

+ Những tình tiết khác liên quan đến việc loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt.

- Có căn cứ khởi tố bị can về một hay nhiều tội phạm khác;

- Có người đồng phạm hoặc người phạm tội khác liên quan đến vụ án nhưng chưa được khởi tố bị can;

- Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.

(2) Tòa án trả hồ sơ vụ án tại phiên tòa xét xử vụ án hình sự

- Khi thiếu chứng cứ dùng để chứng minh một trong những vấn đề sau mà không thể bổ sung tại phiên tòa được:

+ Có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội;

+ Ai là người thực hiện hành vi phạm tội; có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý; có năng lực trách nhiệm hình sự hay không; mục đích, động cơ phạm tội;

+ Những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo và đặc điểm về nhân thân của bị can, bị cáo;

+ Tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra;

+ Nguyên nhân và điều kiện phạm tội;

+ Những tình tiết khác liên quan đến việc loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt.

- Có căn cứ cho rằng ngoài hành vi mà Viện kiểm sát đã truy tố, bị can còn thực hiện hành vi khác mà quy định là tội phạm;

- Có căn cứ cho rằng còn có đồng phạm khác hoặc có người khác thực hiện hành vi mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm liên quan đến vụ án nhưng chưa được khởi tố vụ án, khởi tố bị can;

- Việc khởi tố, điều tra, truy tố vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng.

(Quy định tại Điều 245 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015)

Trường hợp xét thấy cần xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn tội danh Viện kiểm sát truy tố thì Tòa án trả hồ sơ để Viện kiểm sát truy tố lại.

(Quy định tại Điều 298 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015)

Người có thẩm quyền

Viện Kiểm sát hoặc Tòa án

Tòa án

Cơ quan thực hiện việc điều tra bổ sung

Cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát

Viện kiểm sát

Mục đích

Bổ sung thông tin để làm rõ hơn vụ án và có thể quyết định liệu có đưa ra truy cứu trách nhiệm hình sự hay không.

Cần xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn tội danh Viện kiểm sát truy tố

Thời hạn điều tra bổ sung

Trường hợp vụ án do Viện kiểm sát trả lại để yêu cầu điều tra bổ sung thì thời hạn điều tra bổ sung không quá 02 tháng và chỉ được trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung hai lần.

Nếu do Tòa án trả lại để yêu cầu điều tra bổ sung thì thời hạn điều tra bổ sung không quá 01 tháng và chỉ được trả hồ sơ để điều tra bổ sung một lần và Hội đồng xét xử chỉ được trả hồ sơ để điều tra bổ sung một lần.

(Quy định tại khoản 2 Điều 174 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015)

Tòa án trả lại để yêu cầu điều tra bổ sung thì thời hạn điều tra bổ sung không quá 01 tháng và chỉ được trả hồ sơ để điều tra bổ sung một lần và Hội đồng xét xử chỉ được trả hồ sơ để điều tra bổ sung một lần.

(Quy định tại khoản 2 Điều 174 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015)

Thời hạn trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong vụ án hình sự tối đa bao lâu?

Thời hạn trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong vụ án hình sự tối đa bao lâu?

2. Thời hạn trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong vụ án hình sự tối đa bao lâu?

Căn cứ Điều 174 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định thời hạn phục hồi điều tra, điều tra bổ sung, điều tra lại:

Thời hạn phục hồi điều tra, điều tra bổ sung, điều tra lại
...
2. Trường hợp vụ án do Viện kiểm sát trả lại để yêu cầu điều tra bổ sung thì thời hạn điều tra bổ sung không quá 02 tháng; nếu do Tòa án trả lại để yêu cầu điều tra bổ sung thì thời hạn điều tra bổ sung không quá 01 tháng. Viện kiểm sát chỉ được trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung hai lần. Thẩm phán chủ tọa phiên tòa chỉ được trả hồ sơ để điều tra bổ sung một lần và Hội đồng xét xử chỉ được trả hồ sơ để điều tra bổ sung một lần.
Thời hạn điều tra bổ sung tính từ ngày Cơ quan điều tra nhận lại hồ sơ vụ án và yêu cầu điều tra bổ sung.
...

Theo đó, thời hạn trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung trong tố tụng hình sự được quy định như sau:

  • Trường hợp do Viện kiểm sát trả lại trước khi xét xử thì thời hạn điều tra bổ sung không quá 02 tháng;
  • Trường hợp do Tòa án trả khi xét xử thì thời hạn điều tra bổ sung không quá 01 tháng.

Lưu ý: Chỉ được trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung một lần và thời hạn điều tra bổ sung tính từ ngày Cơ quan điều tra nhận lại hồ sơ vụ án và yêu cầu điều tra bổ sung.

Trường hợp nào thì hồ sơ vụ án được trả để điều tra bổ sung tại phiên tòa xét xử vụ án hình sự?

Trường hợp nào thì hồ sơ vụ án được trả để điều tra bổ sung tại phiên tòa xét xử vụ án hình sự?

3. Trường hợp nào thì hồ sơ vụ án được trả để điều tra bổ sung tại phiên tòa xét xử vụ án hình sự?

Căn cứ Điều 280 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung:

Trả hồ sơ để điều tra bổ sung
1. Thẩm phán chủ tọa phiên tòa ra quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung khi thuộc một trong các trường hợp:
a) Khi thiếu chứng cứ dùng để chứng minh một trong những vấn đề quy định tại Điều 85 của Bộ luật này mà không thể bổ sung tại phiên tòa được;
b) Có căn cứ cho rằng ngoài hành vi mà Viện kiểm sát đã truy tố, bị can còn thực hiện hành vi khác mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm;
c) Có căn cứ cho rằng còn có đồng phạm khác hoặc có người khác thực hiện hành vi mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm liên quan đến vụ án nhưng chưa được khởi tố vụ án, khởi tố bị can;
d) Việc khởi tố, điều tra, truy tố vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng.
2. Trường hợp Viện kiểm sát phát hiện có căn cứ trả hồ sơ để điều tra bổ sung thì Viện kiểm sát có văn bản đề nghị Tòa án trả hồ sơ.
...

Như vậy, tại phiên tòa xét xử vụ án hình sự thì hồ sơ vụ án được trả để điều tra bổ sung trong trường hợp sau:

  • Khi thiếu chứng cứ dùng để chứng minh một trong những vấn đề sau mà không thể bổ sung tại phiên tòa được:
    • Có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội;
    • Ai là người thực hiện hành vi phạm tội; có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý; có năng lực trách nhiệm hình sự hay không; mục đích, động cơ phạm tội;
    • Những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo và đặc điểm về nhân thân của bị can, bị cáo;
    • Tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra;
    • Nguyên nhân và điều kiện phạm tội;
    • Những tình tiết khác liên quan đến việc loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt.
  • Có căn cứ cho rằng ngoài hành vi mà Viện kiểm sát đã truy tố, bị can còn thực hiện hành vi khác mà quy định là tội phạm;
  • Có căn cứ cho rằng còn có đồng phạm khác hoặc có người khác thực hiện hành vi mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm liên quan đến vụ án nhưng chưa được khởi tố vụ án, khởi tố bị can;
  • Việc khởi tố, điều tra, truy tố vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng.

4. Câu hỏi thường gặp

4.1. Trường hợp điều tra bổ sung không làm rõ được nội dung theo yêu cầu thì giải quyết thế nào?

Nếu sau khi điều tra bổ sung mà nội dung yêu cầu vẫn không được làm rõ, Viện kiểm sát cần đánh giá lại toàn bộ chứng cứ, có thể ra quyết định đình chỉ vụ án, đình chỉ bị can, hoặc vẫn truy tố nếu xét thấy đủ căn cứ. Trường hợp hồ sơ được chuyển lại Tòa án, Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc toàn diện để ra bản án phù hợp.

4.2. Trả hồ sơ điều tra bổ sung có bị xem là kéo dài vụ án trái pháp luật không?

Không. Việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung là một quyền tố tụng hợp pháp nếu có căn cứ rõ ràng và tuân thủ đúng trình tự, thủ tục. Tuy nhiên, nếu lạm dụng quyền này để trì hoãn giải quyết vụ án thì sẽ bị xem là vi phạm nguyên tắc tố tụng hình sự và có thể bị xem xét trách nhiệm.

4.3. Có thể trả hồ sơ điều tra bổ sung ở giai đoạn phúc thẩm không?

Không. Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 không quy định trả hồ sơ để điều tra bổ sung ở giai đoạn phúc thẩm. Nếu tại cấp phúc thẩm phát hiện có tình tiết mới hoặc sai sót nghiêm trọng, Tòa án phúc thẩm có thể hủy bản án sơ thẩm và yêu cầu điều tra lại từ đầu.

4.4. Việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung có bị giới hạn bởi thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự không?

Có. Việc trả hồ sơ điều tra bổ sung không được vượt quá thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 27 Bộ luật Hình sự. Nếu thời hiệu đã hết, thì vụ án không được tiếp tục điều tra, truy tố hay xét xử nữa, trừ trường hợp thời hiệu được gia hạn theo luật định.