Lợi dụng chức vụ quyền hạn xử lý ra sao theo luật mới nhất
Lợi dụng chức vụ quyền hạn xử lý ra sao theo luật mới nhất

1. Lợi dụng chức vụ quyền hạn là gì?

Lợi dụng chức vụ, quyền hạn là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn sử dụng vị trí, quyền lực được giao để thực hiện hành vi trái pháp luật nhằm vụ lợi hoặc vì động cơ cá nhân khác. Theo khoản 6 Điều 3 Nghị quyết 03/2020/NQ-HĐTP, hành vi này được hiểu là "dựa vào chức vụ, quyền hạn được giao để làm trái, không làm hoặc làm không đúng quy định của pháp luật".

2. Lợi dụng chức vụ quyền hạn xử lý ra sao theo luật mới nhất?

Theo quy định tại Điều 356 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ có thể bị xử lý hình sự với mức phạt tù từ 1 năm đến 15 năm, tùy thuộc vào mức độ thiệt hại gây ra và các tình tiết tăng nặng.

  • Phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 1 đến 5 năm:

    • Gây thiệt hại về tài sản từ 10 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng.

    • Gây thiệt hại khác đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

  • Phạt tù từ 5 đến 10 năm:

    • Có tổ chức.

    • Phạm tội 2 lần trở lên.

    • Gây thiệt hại về tài sản từ 200 triệu đồng đến dưới 1 tỷ đồng.

  • Phạt tù từ 10 đến 15 năm:

    • Gây thiệt hại về tài sản từ 1 tỷ đồng trở lên.

Hình phạt bổ sung:

  • Bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 1 đến 5 năm.

  • Có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng.

Cần lưu ý rằng, để cấu thành tội này, hành vi phải gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, tổ chức xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Nếu không có thiệt hại, hành vi có thể bị xử lý theo các tội danh khác như lạm quyền trong khi thi hành công vụ hoặc nhận hối lộ.

3. Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi, gây ảnh hưởng đối với người khác xử lý thế nào?

Theo quy định tại Điều 358 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), nếu một người dùng ảnh hưởng từ chức vụ, quyền hạn của mình trực tiếp hoặc thông qua người khác để yêu cầu, nhận hoặc hứa sẽ nhận bất kỳ lợi ích nào (dưới bất kỳ hình thức nào) nhằm gây tác động đến người có chức vụ, quyền hạn khác để họ làm, không làm một việc trong phạm vi công việc hoặc quyền hạn của họ, hoặc làm việc mà lẽ ra họ không được phép làm, thì hành vi đó là phạm tội và sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Các mức xử phạt cụ thể như sau:

  • Phạt tù từ 1 đến 6 năm đối với các hành vi thông thường.

  • Phạt tù đến 20 năm hoặc tù chung thân nếu phạm tội trong các trường hợp nghiêm trọng như:

    • Nhận tiền, tài sản hay lợi ích vật chất khác có giá trị từ 1 tỷ đồng trở lên;

    • Gây thiệt hại về tài sản từ 5 tỷ đồng trở lên.

Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị:

  • Cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định trong thời gian từ 1 đến 5 năm;

  • Phạt tiền từ 30 triệu đồng đến 100 triệu đồng.

Các hành vi bị truy cứu trách nhiệm hình sự bao gồm:

  • Nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất có giá trị từ 2 triệu đồng đến dưới 100 triệu đồng;

  • Nhận lợi ích dưới 2 triệu đồng nhưng đã từng bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà vẫn tiếp tục vi phạm;

  • Nhận lợi ích phi vật chất như sự ưu ái, hỗ trợ không đúng quy định để trục lợi.

Tùy theo tính chất và mức độ vi phạm, người thực hiện hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi có thể bị phạt từ 1 năm đến tù chung thân.

4. Mức phạt đối với Tội lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản

Theo quy định tại Điều 355 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn để chiếm đoạt tài sản của người khác thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự, với các mức hình phạt được chia thành 4 khung, tùy theo mức độ nghiêm trọng của hành vi:

4.1 Khung 1: Phạt tù từ 1 đến 6 năm

Áp dụng với người chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 2 triệu đồng đến dưới 100 triệu đồng, hoặc dưới 2 triệu đồng nhưng rơi vào một trong các trường hợp sau:

  • Trước đó đã bị xử lý kỷ luật vì hành vi này mà vẫn tái phạm;

  • Đã từng bị kết án về các tội liên quan đến tham nhũng, chức vụ mà chưa được xóa án tích.

4.2 Khung 2: Phạt tù từ 6 đến 13 năm

Áp dụng nếu hành vi phạm tội có tính chất nghiêm trọng hơn, như:

  • Có tổ chức;

  • Sử dụng thủ đoạn tinh vi, nguy hiểm;

  • Phạm tội từ hai lần trở lên;

  • Chiếm đoạt tài sản từ 100 triệu đến dưới 500 triệu đồng;

  • Gây thiệt hại về tài sản từ 1 tỷ đến dưới 3 tỷ đồng;

  • Chiếm đoạt tiền, tài sản dành cho các chương trình như xóa đói giảm nghèo, trợ cấp người có công, quỹ hỗ trợ thiên tai, dịch bệnh hoặc vùng đặc biệt khó khăn.

4.3 Khung 3: Phạt tù từ 13 đến 20 năm

Áp dụng trong các trường hợp:

  • Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 500 triệu đến dưới 1 tỷ đồng;

  • Gây thiệt hại về tài sản từ 3 tỷ đến dưới 5 tỷ đồng;

  • Hành vi gây hậu quả nghiêm trọng như làm tổ chức, doanh nghiệp bị phá sản hoặc ngừng hoạt động;

  • Ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

4.4 Khung 4: Phạt tù 20 năm hoặc tù chung thân

Áp dụng khi:

  • Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 1 tỷ đồng trở lên;

  • Gây thiệt hại về tài sản từ 5 tỷ đồng trở lên.

Ngoài án tù, người phạm tội còn có thể bị:

  • Cấm đảm nhiệm các chức vụ nhất định trong thời gian từ 1 đến 5 năm;

  • Phạt tiền từ 30 triệu đến 100 triệu đồng;

  • Tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

5. Nguyên tắc xử lý đối với tội phạm tham nhũng và các tội phạm khác liên quan đến chức vụ

Theo quy định tại Điều 5 Nghị quyết 03/2020/NQ-HĐTP, việc xử lý tội phạm tham nhũng và các tội phạm khác liên quan đến chức vụ phải tuân theo những nguyên tắc cơ bản sau:

  • Xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật: Các hành vi phạm tội về tham nhũng hoặc liên quan đến quyền lực, chức vụ phải bị xử lý một cách nghiêm khắc, đồng thời đảm bảo tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc của pháp luật hình sự và tố tụng hình sự.

  • Xem xét giảm nhẹ nếu người phạm tội chủ động khắc phục hậu quả: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, nếu người phạm tội tham ô tài sản hoặc nhận hối lộ:

    • Tự nguyện nộp lại ít nhất ¾ số tài sản đã chiếm đoạt hoặc nhận hối lộ, và

    • Tích cực hợp tác với cơ quan chức năng trong việc điều tra, xử lý vụ án hoặc có lập công lớn,
      thì sẽ không bị áp dụng mức hình phạt cao nhất trong khung hình phạt mà họ bị truy tố, xét xử.

  • Có thể được hưởng chính sách khoan hồng đặc biệt: Tòa án sẽ xem xét miễn hình phạt theo Điều 59 Bộ luật Hình sự nếu người phạm tội có ít nhất 2 tình tiết giảm nhẹ (quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự) hoặc là người phạm tội lần đầu, chỉ đóng vai trò giúp sức không đáng kể trong một vụ án có nhiều người liên quan. Những trường hợp đặc biệt có thể được xem xét miễn hình phạt gồm:

    • Không vì vụ lợi cá nhân, mà hành động vì mục đích phát triển kinh tế – xã hội hoặc bảo vệ Tổ quốc;

    • Là người cấp dưới, làm theo chỉ đạo, không nhận được lợi ích gì và không nhận thức đầy đủ hành vi phạm tội, nhưng đã chủ động khai báo trước khi bị phát hiện và tích cực phối hợp với cơ quan chức năng;

    • Chủ động khai báo, hợp tác tốt với cơ quan điều tra, nộp lại toàn bộ tài sản, khắc phục hoàn toàn hậu quả, bồi thường đầy đủ thiệt hại trước khi bị phát hiện;

    • Sau khi bị phát hiện, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đồng thời đã nộp lại toàn bộ tài sản chiếm đoạt và khắc phục, bồi thường đầy đủ thiệt hại.

Nguyên tắc xử lý đối với tội phạm tham nhũng và các tội phạm khác liên quan đến chức vụ
Nguyên tắc xử lý đối với tội phạm tham nhũng và các tội phạm khác liên quan đến chức vụ

6. Câu hỏi thường gặp

6.1. Lợi dụng chức vụ để "chạy việc", "chạy dự án" có bị truy cứu hình sự không?

Có. Nếu người có chức vụ, quyền hạn lợi dụng vị trí của mình để tác động đến người khác làm hoặc không làm việc theo yêu cầu nhằm nhận lợi ích (tiền, tài sản, quyền lợi...), thì có thể bị xử lý hình sự theo Điều 358 Bộ luật Hình sự 2015.

6.2. Hành vi lợi dụng quyền hạn để xin "lợi ích phi vật chất" có bị xử lý không?

Có. Luật hiện hành không chỉ xử lý các hành vi nhận tiền, tài sản mà còn xử lý cả việc nhận lợi ích phi vật chất như chức danh, vị trí, danh hiệu, quyền lợi đặc biệt khác nếu có mục đích trục lợi.

6.3. Nếu người phạm tội chưa nhận lợi ích nhưng đã có hành vi "đòi hỏi", có bị xử lý không?

Có. Chỉ cần có hành vi đòi, nhận hoặc hứa nhận lợi ích dù chưa thực sự nhận cũng đã đủ yếu tố để bị truy cứu trách nhiệm hình sự.