Công an được phép bắt người không cần lệnh để điều tra trong trường hợp nào?
Công an được phép bắt người không cần lệnh để điều tra trong trường hợp nào?

1. Công an được phép bắt người không cần lệnh để điều tra trong trường hợp nào?

Theo quy định tại các điều 111, 112 và 113 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, công an được phép bắt người trong các trường hợp sau:

  • Bắt bị can, bị cáo để tạm giam;

  • Bắt người trong trường hợp khẩn cấp;

  • Bắt người đang phạm tội quả tang;

  • Bắt người đang bị truy nã.

Cụ thể: Việc bắt bị can, bị cáo để tạm giam áp dụng với những người đã bị khởi tố hình sự hoặc đã có quyết định đưa ra xét xử, nhằm phục vụ cho quá trình điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án. Trường hợp bắt người khẩn cấp được áp dụng khi người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, hoặc sau khi gây án thì bỏ trốn, tiêu hủy chứng cứ.

Việc bắt người phạm tội quả tang là hành động bắt giữ người đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi phạm tội bị phát hiện, bị truy đuổi. Đối với người đang bị truy nã, công an có thể bắt giữ nếu người đó đang lẩn trốn và đã có lệnh truy nã chính thức từ cơ quan điều tra.

Ngoài lực lượng công an, trong trường hợp phạm tội quả tang hoặc truy nã, người dân cũng có quyền bắt giữ. Khi bắt, người dân được phép tước vũ khí, hung khí nếu có, và đưa người bị bắt đến cơ quan công an, viện kiểm sát hoặc UBND gần nhất. Với các trường hợp này, không cần có lệnh bắt.

Tuy nhiên, đối với việc bắt bị can, bị cáo hoặc bắt khẩn cấp, công an bắt buộc phải có lệnh bắt. Lệnh bắt phải có đầy đủ thông tin như: ngày, tháng, năm; họ tên, chức vụ người ra lệnh; thông tin cá nhân của người bị bắt; lý do bắt; chữ ký và dấu xác nhận của người ra lệnh.

Khi thi hành lệnh bắt, người thi hành phải đọc rõ nội dung lệnh, giải thích quyền và nghĩa vụ của người bị bắt, đồng thời phải lập biên bản bắt người. Việc bắt phải có sự chứng kiến của đại diện chính quyền địa phương, cơ quan, tổ chức nơi người bị bắt cư trú hoặc làm việc, hoặc người hàng xóm.

Khác với lệnh bắt bị can, bị cáo – phải có sự phê chuẩn của Viện kiểm sát – lệnh bắt khẩn cấp không cần phê chuẩn trước, nhưng sau đó phải thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát để xin phê chuẩn. Trong vòng 12 giờ, Viện kiểm sát phải quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn. Nếu không phê chuẩn, người ra lệnh bắt phải lập tức trả tự do cho người bị bắt.

Việc bắt người không được tiến hành vào ban đêm, trừ các trường hợp bắt khẩn cấp, bắt quả tang hoặc bắt người đang bị truy nã.

Theo các điều 114 và 115 Bộ luật Tố tụng Hình sự, mọi trường hợp bắt người đều phải lập biên bản, ghi rõ: thời gian, địa điểm, nội dung bắt, diễn biến sự việc, tài liệu hoặc đồ vật bị thu giữ (nếu có), cùng ý kiến, khiếu nại của người bị bắt. Biên bản phải được đọc cho người bị bắt và những người chứng kiến cùng nghe. Tất cả các bên liên quan đều phải ký tên. Nếu có ý kiến khác thì được ghi vào biên bản và ký xác nhận.

Khi nào một người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp? Ai có quyền ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp?
Khi nào một người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp? Ai có quyền ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp?

2. Khi nào một người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp? Ai có quyền ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp?

2.1. Khi nào một người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp?

Theo khoản 1 Điều 110 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định khi thuộc một trong các trường hợp khẩn cấp sau đây thì được giữ người:

  • Có đủ căn cứ để xác định người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;
  • Người cùng thực hiện tội phạm hoặc bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt nhìn thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm mà xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn;
  • Có dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở hoặc nơi làm việc hoặc trên phương tiện của người bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ.

Như vậy, khi thuộc một trong các trường hợp nêu trên thì được ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp.

2.2. Ai có quyền ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp?

Theo khoản 2 Điều 110 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, quy định về việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp, theo đó:

Những người sau đây là người có quyền ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp:

  • Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp;
  • Thủ trưởng đơn vị độc lập cấp trung đoàn và tương đương, Đồn trưởng Đồn biên phòng, Chỉ huy trưởng Biên phòng Cửa khẩu cảng, Chỉ huy trưởng Bộ đội biên phòng tỉnh, thành phố trực truộc trung ương, Cục trưởng Cục trinh sát biên phòng Bộ đội biên phòng, Cục trưởng Cục phòng, chống ma túy và tội phạm Bộ đội biên phòng, Đoàn trưởng Đoàn đặc nhiệm phòng, chống ma túy và tội phạm Bộ đội biên phòng; Tư lệnh vùng lực lượng Cảnh sát biển, Cục trưởng Cục Nghiệp vụ và pháp luật lực lượng Cảnh sát biển, Đoàn trưởng Đoàn đặc nhiệm phòng, chống tội phạm ma túy lực lượng Cảnh sát biển; Chi cục trưởng Chi cục Kiểm ngư vùng;
  • Người chỉ huy tàu bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng.
Ai có quyền bắt người phạm tội quả tang và tước vũ khí, hung khí của người bị bắt?
Ai có quyền bắt người phạm tội quả tang và tước vũ khí, hung khí của người bị bắt?

3. Ai có quyền bắt người phạm tội quả tang và tước vũ khí, hung khí của người bị bắt?

Căn cứ tại Điều 111 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 có quy định về bắt người phạm tội quả tang, như sau:

Bắt người phạm tội quả tang
1. Đối với người đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm mà bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt thì bất kỳ người nào cũng có quyền bắt và giải ngay người bị bắt đến cơ quan Công an, Viện kiểm sát hoặc Ủy ban nhân dân nơi gần nhất. Các cơ quan này phải lập biên bản tiếp nhận và giải ngay người bị bắt hoặc báo ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.
2. Khi bắt người phạm tội quả tang thì người nào cũng có quyền tước vũ khí, hung khí của người bị bắt.
3. Trường hợp Công an xã, phường, thị trấn, Đồn Công an phát hiện bắt giữ, tiếp nhận người phạm tội quả tang thì thu giữ, tạm giữ vũ khí, hung khí và bảo quản tài liệu, đồ vật có liên quan, lập biên bản bắt giữ người, lấy lời khai ban đầu, bảo vệ hiện trường theo quy định của pháp luật; giải ngay người bị bắt hoặc báo ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.

Như vậy, bất kỳ người nào cũng có quyền bắt và giải ngay người phạm tội quả tang đến cơ quan Công an, Viện kiểm sát hoặc Ủy ban nhân dân nơi gần nhất. Khi bắt người phạm tội quả tang thì người nào cũng có quyền tước vũ khí, hung khí của người bị bắt.

Trường hợp Công an xã, phường, thị trấn, Đồn Công an phát hiện bắt giữ, tiếp nhận người phạm tội quả tang thì thu giữ, tạm giữ vũ khí, hung khí và bảo quản tài liệu, đồ vật có liên quan.

4. Ai có thẩm quyển bắt bị can bị cáo để tạm giam?

Căn cứ theo khoản 1 Điều 113 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định như sau:

Điều 113. Bắt bị can, bị cáo để tạm giam
1. Những người sau đây có quyền ra lệnh, quyết định bắt bị can, bị cáo để tạm giam:
a) Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp. Trường hợp này, lệnh bắt phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành;
b) Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp;
c) Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân và Chánh án, Phó Chánh án Tòa án quân sự các cấp; Hội đồng xét xử.
...

Theo đó, thẩm quyền ra lệnh bắt bị cáo để tạm giam sẽ thuộc về:

  • Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp.
  • Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp.
  • Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân và Chánh án, Phó Chánh án Tòa án quân sự các cấp, Hội đồng xét xử.

5. Câu hỏi thường gặp

5.1. Bắt người phạm tội quả tang có cần lệnh bắt không?

Không. Khi người đang phạm tội quả tang (tức là đang thực hiện hành vi phạm tội hoặc vừa mới thực hiện xong và bị phát hiện, truy đuổi), công an có quyền bắt ngay mà không cần lệnh.

5.2. Người dân có được phép bắt người phạm tội quả tang không?

Có. Trong trường hợp phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã, không chỉ công an mà người dân cũng có quyền bắt giữ, tước vũ khí nếu có và áp giải người đó đến cơ quan có thẩm quyền gần nhất.

5.3. Trường hợp nào được coi là “bắt người trong trường hợp khẩn cấp” và có cần lệnh không?

Bắt người trong trường hợp khẩn cấp là khi:

  • Người đó chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng;

  • Sau khi gây án, người đó bỏ trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ.

Trường hợp này công an có thể bắt người không cần lệnh trước, nhưng sau đó phải thông báo ngay cho Viện kiểm sát để xin phê chuẩn.

5.4. Sau khi bắt người trong trường hợp khẩn cấp mà chưa có lệnh, công an phải làm gì?

Công an phải gửi văn bản thông báo ngay cho Viện kiểm sát để xem xét phê chuẩn. Trong vòng 12 giờ, Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc không. Nếu không phê chuẩn, người bị bắt phải được trả tự do ngay.