Các trường hợp chỉ khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại mới nhất 2025
Các trường hợp chỉ khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại mới nhất 2025

1. Các trường hợp chỉ khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại mới nhất 2025

Theo khoản 1 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi 2021) chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các Điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155 và 156 Bộ luật Hình sự 2015 khi có yêu cầu của bị hại;

Hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết trong các trường hợp như sau:

1.1. Trường hợp chỉ khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

Theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi 2017) quy định người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30%;

  • Hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
    • Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;
    • Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm;
    • Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;
    • Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;
    • Có tổ chức;
    • Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
    • Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;
    • Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê;
    • Có tính chất côn đồ;
    • Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

1.2. Trường hợp chỉ khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh

Theo khoản 1 Điều 135 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh như sau:

Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người đó;

Hoặc đối với người thân thích của người đó, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

1.3. Trường hợp chỉ khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội

Theo khoản 1 Điều 136 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ tội phạm như sau:

Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng;

Hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội, thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

1.4. Trường hợp chỉ khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại về tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

Theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi 2017) quy định về tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức của người khác như sau:

Người nào vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm.

1.5. Trường hợp chỉ khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại về tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính

Theo khoản 1 Điều 139 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi 2017) quy định về tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính như sau:

Người nào vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.

1.6. Trường hợp chỉ khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại về tội hiếp dâm

Theo khoản 1 Điều 141 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi 2017) quy định về tội hiếp dâm như sau:

Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của nạn nhân, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

1.7. Trường hợp chỉ khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại về tội cưỡng dâm

Theo khoản 1 Điều 143 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về tội cưỡng dâm như sau:

Người nào dùng mọi thủ đoạn khiến người lệ thuộc mình hoặc người đang ở trong tình trạng quẫn bách phải miễn cưỡng giao cấu hoặc miễn cưỡng thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

1.8. Trường hợp chỉ khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại về tội làm nhục người khác

Theo khoản 1 Điều 155 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về tội làm nhục người khác như sau:

Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

1.9. Trường hợp chỉ khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại về tội vu khống

Theo khoản 1 Điều 156 Bộ luật Hình sự 2015 quy định người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

  • Bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác;
  • Bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền.

Như vậy, cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự chỉ được khởi tố nếu có yêu cầu của bị hại nếu thuộc các trường hợp theo quy định của pháp luật.

Quyền và nghĩa vụ của bị hại trong tố tụng hình sự
Quyền và nghĩa vụ của bị hại trong tố tụng hình sự

2. Quyền và nghĩa vụ của bị hại trong tố tụng hình sự

Tại Khoản 3, 4 và 5 Điều 62 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định về quyền và nghĩa vụ của bị hại trong tố tụng hình sự như sau:

  • (1) Bị hại hoặc người đại diện của họ có quyền:
    • Được thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ của mình;
    • Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;
    • Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;
    • Đề nghị giám định, định giá tài sản theo quy định của pháp luật;
    • Được thông báo kết quả điều tra, giải quyết vụ án;
    • Đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật;
    • Đề nghị hình phạt, mức bồi thường thiệt hại, biện pháp bảo đảm bồi thường;
    • Tham gia phiên tòa; trình bày ý kiến, đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi bị cáo và người khác tham gia phiên tòa; tranh luận tại phiên tòa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; xem biên bản phiên tòa;
    • Tự bảo vệ, nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình;
    • Tham gia các hoạt động tố tụng theo quy định;
    • Yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp khác của mình, người thân thích của mình khi bị đe dọa;
    • Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án;
    • Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;
    • Các quyền khác theo quy định của pháp luật.
    • Trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của bị hại thì bị hại hoặc người đại diện của họ trình bày lời buộc tội tại phiên tòa.
  • (2) Bị hại có nghĩa vụ:
    • Có mặt theo giấy triệu tập của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; trường hợp cố ý vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan thì có thể bị dẫn giải;
    • Chấp hành quyết định, yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Trường hợp bị hại chết, mất tích, bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì người đại diện thực hiện quyền và nghĩa vụ của người bị hại quy định trên.

Cơ quan, tổ chức là bị hại có sự chia, tách, sáp nhập, hợp nhất thì người đại diện theo pháp luật hoặc tổ chức, cá nhân kế thừa quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức đó có những quyền và nghĩa vụ theo quy định trên.

Căn cứ khởi tố vụ án hình sự
Căn cứ khởi tố vụ án hình sự

3. Căn cứ khởi tố vụ án hình sự

Theo Điều 143 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định chỉ được khởi tố vụ án khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm. Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên những căn cứ:

  • Tố giác của cá nhân;
  • Tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân;
  • Tin báo trên phương tiện thông tin đại chúng;
  • Kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước;
  • Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm;
  • Người phạm tội tự thú.

4. Câu hỏi thường gặp

4.1. Bị hại có quyền tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình không?

Có. Bị hại có quyền tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc nhờ người khác (luật sư, người bảo vệ quyền lợi) tham gia bảo vệ trong quá trình tố tụng.

4.2. Bị hại có thể đề nghị giám định hoặc định giá tài sản không?

Có. Bị hại có quyền yêu cầu giám định, định giá tài sản liên quan đến thiệt hại do tội phạm gây ra, theo quy định của pháp luật.

4.3. Bị hại có thể yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng không?

Bị hại có quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, giám định viên, người định giá, phiên dịch viên... nếu có căn cứ cho rằng họ không đảm bảo tính khách quan, công bằng.

4.4. Nếu bị hại bị đe dọa, họ có quyền yêu cầu gì?

Bị hại có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền áp dụng các biện pháp bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản và các quyền lợi hợp pháp của mình và người thân khi bị đe dọa.