Bẳng cử nhân là gì? Bằng cử nhân có phải là bằng đại học không?
Bẳng cử nhân là gì? Bằng cử nhân có phải là bằng đại học không?

1. Bằng cử nhân là gì?

Bằng cử nhân (tiếng anh còn gọi là Bachelor’s degree) là một loại bằng được cấp cho những sinh viên đã tốt nghiệp chuyên ngành mà mình chọn như khoa học tự nhiên, khoa học xã hội,... ở bậc đại học. Đây là một trong những loại bằng thuộc văn bằng trong hệ thống giáo dục của Việt Nam.

  • Thông thường, để hoàn thành chương trình cử nhân hệ chính quy của các trường đại học, sinh viên cần trải qua thời gian từ 04 - 07 năm tùy vào lĩnh vực mà sinh viên học và chương trình đào tạo của trường.
  • Tuy vậy, bạn có thể đăng ký học kỳ phụ, học vượt tín chỉ đối với hệ tín chỉ (hay còn gọi là học vượt) để có thể được cấp bằng cử nhân sớm hơn thời gian quy định.
  • Tùy theo hiệu quả học tập quá trình đào tạo, mỗi sinh viên sẽ được cấp bằng cử nhân xếp loại theo điểm trung bình các môn học trong toàn khóa học - GPA (viết tắt của Grade Point Average).
  • Mỗi trường sẽ có những thang điểm căn cứ để đánh giá, xếp loại khác nhau. Có trường sẽ theo thang điểm 10, có trường sẽ theo thang điểm 4.

Nhìn chung, sinh viên sẽ được cấp bằng cử nhân theo 04 cấp độ phân loại như sau:

  • Bằng loại Xuất sắc
  • Bằng loại Giỏi
  • Bằng loại Khá
  • Bằng loại Trung bình

2. Bằng cử nhân có phải là bằng đại học không?

Tại khoản 2 Điều 12 Luật giáo dục 2019 có quy định như sau:

Văn bằng, chứng chỉ

...

2. Văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân gồm bằng tốt nghiệp trung học cơ sở, bằng tốt nghiệp trung học phổ thông, bằng tốt nghiệp trung cấp, bằng tốt nghiệp cao đẳng, bằng cử nhân, bằng thạc sĩ, bằng tiến sĩ và văn bằng trình độ tương đương.

...

Bên cạnh đó, tại Điều 38 Luật giáo dục đại học 2012,được sửa đổi bởi khoản 23 Điều 1 Luật Giáo dục đại học sửa đổi 2018 cũng quy định:

Văn bằng giáo dục đại học

1. Văn bằng giáo dục đại học thuộc hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm bằng cử nhân, bằng thạc sĩ, bằng tiến sĩ và văn bằng trình độ tương đương.

...

Từ những quy định trên có thể thấy bằng cử nhân là một loại bằng đại học.

  • Trong hệ thống giáo dục nhiều quốc gia, bằng cử nhân (bachelor's degree) là một bậc học đại học cơ bản mà sinh viên thường đạt được sau khi hoàn thành chương trình học đại học.
  • Bậc cử nhân thường là bậc học đầu tiên mà sinh viên có thể đạt được trong quá trình theo học ở trường đại học.

Các cấp độ học vấn trong hệ thống giáo dục đại học thường gồm:

  • Cử nhân (Bachelor's degree): Đạt được sau 3-4 năm học đại học (tùy thuộc vào quốc gia và ngành học).
  • Thạc sĩ (Master's degree): Đạt được sau thêm 1-2 năm học sau khi có bằng cử nhân.
  • Tiến sĩ (Doctoral degree/Ph.D.): Đạt được sau 3-6 năm học sau khi có bằng thạc sĩ.

Do đó, bằng cử nhân là một bằng đại học cơ bản, và nó thường là bước đầu tiên trong việc tiếp tục học cao hơn, như làm thạc sĩ hoặc tiến sĩ nếu sinh viên quyết định tiếp tục nghiên cứu chuyên sâu sau khi tốt nghiệp đại học.

3. Bằng cử nhân có những loại nào?

Tính tới thời điểm hiện tại, Việt Nam vẫn chưa có quy định cụ thể về các loại bằng cử nhân trong chương trình giáo dục đại học, mà chỉ đề cập chung chung rằng bằng cử nhân là một loại văn bằng thuộc hệ thống giáo dục quốc dân.

Việt Nam tính tới hiện tại vẫn chưa có quy định cụ thể về các loại bằng cử nhân trong chương trình đại học, mà chỉ là khái niệm bằng cử nhân là bằng thuộc hệ thống giáo dục quốc dân chung chung.

Tuy vậy, ở các quốc gia trên thế giới, bằng cử nhân được chia thành 02 loại căn cứ vào ngành và lĩnh vực cấp bằng.

(1) Bằng Cử nhân Chuyên ngành Khoa học Xã hội - Bachelor of Art (gọi tắt là BA)

  • Bachelor of Art là bằng được trao cho những sinh viên tốt nghiệp các chuyên ngành khoa học xã hội.
  • Những chuyên ngành này là một trong các chương trình giáo dục lâu đời của các trường đại học phương Tây, tập trung vào Liberal Art (nền giáo dục khai phóng).
  • Các lĩnh vực của chuyên ngành này bao gồm: nghệ thuật, văn học, nhân văn, nhân học, lịch sử, khảo cổ tâm lý, dân tộc học, truyền thông, ngoại ngữ,...

Ở nước Anh, chỉ trường Đại học Cambridge và Viện Đại học Oxford ( University of Cambridge và University of Oxford) trao loại bằng Bachelor of Art cho sinh viên tốt nghiệp.

Còn tại Hoa Kỳ, Bachelor of Art được trao cho các sinh viên của tất các các ngành mang tính chất học thuật tại nhiều trường cao đẳng chuyên ngành, đặc biệt là các trường chuyên đào tạo nghệ thuật. Riêng Đại học Harvard (Harvard University), sinh viên tất tất cả các ngành đều được cấp Bachelor of Art.

Bằng Cử nhân Chuyên ngành khoa học tự nhiên (hay còn gọi theo tiếng Anh là BS - Bachelor of Science)

Ngược lại với Bachelor of Art là bằng cho các sinh viên tốt nghiệp chuyên ngành khoa học xã hội, Bachelor of Science là loại bằng cử nhân bằng dành cho các sinh viên tốt nghiệp các chuyên ngành khoa học tự nhiên.

  • Các lĩnh vực cụ thể của chuyên ngành này như: kỹ thuật, điện, cơ khí, y khoa... và các ngành khoa học ứng dụng.
  • Ngoài ra còn có bằng Bachelor of Applied Arts and Sciences (BAAS) về ngành Khoa học ứng dụng.
  • Ở Vương quốc Anh, các trường đại học danh tiếng như Đại học Oxford (University of Oxford), Đại học Cambridge (University of Cambridge), hay hầu hết các trường khác đều cấp bằng này cho các sinh viên tốt nghiệp ngành Khoa học ứng dụng.
Ý nghĩa của bằng cử nhân

4. Ý nghĩa của bằng cử nhân là gì?

Ngày nay, có được một tấm bằng cử nhân danh giá là một điều đáng tự hào và là mơ ước của rất nhiều người. Bởi lẽ nó là minh chứng cho một quá trình rèn lượng, học tập không ngừng của bản thân. Việc sở hữu một tấm bằng cử nhân có thể đem lại cho ta những lợi ích như:

  • Tích lũy được vốn kiến thức chuyên sâu trong quá trình học tập để lấy bằng: Những kiến thức được tiếp thu, trau dồi trong quá trình học tập tại trường sẽ là hành trang vững chắc phục vụ nghề nghiệp tương lai của mỗi cử nhân.
  • Có cơ hội tìm việc làm tốt hơn: Việc sở hữu một tấm bằng cử nhân sẽ tạo cho chúng ta lợi thế lớn trong vô vàn các ứng viên khi đi xin việc và cũng là cơ sở để ta có thể thỏa thuận được mức lương phù hợp với nhà tuyển dụng.
  • Bên cạnh đó, kiến thức ở đại học sẽ là nền tảng tốt nhất để ta có cơ hội thăng tiến, thành công sau này.
  • Bằng cử nhân là bước đầu để vươn tới những học vị cao hơn: Sau khi sở hữu tấm bằng cử nhân, chúng ta có thể tiếp tục học chuyên sâu lên những bậc học, cấp học cao hơn như thạc sĩ, hoặc cao hơn là tiến sĩ.

5. Các câu hỏi thường gặp

5.1. Ai có thẩm quyền cấp bằng cử nhân?

Tại khoản 2 tại Điều 38 Luật giáo dục đại học 2012,được sửa đổi bởi khoản 23 Điều 1 Luật Giáo dục đại học sửa đổi 2018 có quy định như sau:

Văn bằng giáo dục đại học

1. Văn bằng giáo dục đại học thuộc hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm bằng cử nhân, bằng thạc sĩ, bằng tiến sĩ và văn bằng trình độ tương đương.

2. Người học hoàn thành chương trình đào tạo, đạt chuẩn đầu ra của trình độ đào tạo theo quy định, hoàn thành nghĩa vụ, trách nhiệm của người học thì được hiệu trưởng cơ sở giáo dục đại học cấp văn bằng ở trình độ đào tạo tương ứng.

3. Cơ sở giáo dục đại học thiết kế mẫu, in phôi, cấp phát văn bằng cho người học và quản lý văn bằng, chứng chỉ phù hợp với quy định của pháp luật; công bố công khai mẫu văn bằng, thông tin liên quan đến việc cấp văn bằng cho người học trên trang thông tin điện tử của cơ sở giáo dục đại học.

...

Theo đó, thẩm quyền cấp bằng cử nhân thuộc về Hiệu trưởng cơ sở giáo dục đại học.

5.2. Phân biệt giữa bằng cử nhân đại học và bằng kỹ sư

Bằng cử nhân và kỹ sư là hai loại bằng cấp sau khi hoàn thành chương trình học đại học, nhưng chúng có một số điểm khác nhau. Dưới đây là sự khác biệt giữa bằng cử nhân và bằng kỹ sư:

(1) Về khái niệm

  • Bằng cử nhân (Bachelor's degree): Là một bằng đại học cơ bản, được trao cho sinh viên sau khi hoàn thành chương trình học đại học kéo dài từ 3 đến 4 năm. Bằng cử nhân thường có thể liên quan đến nhiều lĩnh vực, chẳng hạn như nghệ thuật, khoa học xã hội, khoa học tự nhiên, kinh tế, v.v.
  • Bằng kỹ sư (Bachelor of Engineering): Là một loại bằng cử nhân chuyên ngành kỹ thuật. Nó cũng được trao cho sinh viên sau khi hoàn thành chương trình học đại học, nhưng chương trình này chuyên về các lĩnh vực kỹ thuật và công nghệ.

(2) Về chuyên ngành

  • Bằng cử nhân: Sinh viên có thể chọn từ nhiều chuyên ngành khác nhau như lịch sử, ngôn ngữ, kỹ thuật, kinh tế, v.v. Bằng cử nhân không yêu cầu chuyên sâu vào một lĩnh vực cụ thể.
  • Bằng kỹ sư: Được tập trung vào các lĩnh vực kỹ thuật như cơ khí, điện tử, máy tính, xây dựng, v.v. Chương trình học của bằng kỹ sư đòi hỏi sinh viên phải chuyên sâu vào một ngành kỹ thuật cụ thể.

(3) Về nội dung chương trình học

  • Bằng cử nhân: Chương trình học đa dạng, bao gồm cả các môn học chung (nền tảng) và các môn học chuyên ngành.
  • Bằng kỹ sư: Chương trình học tập chủ yếu tập trung vào các môn học kỹ thuật chuyên ngành, giúp sinh viên phát triển kiến thức và kỹ năng chuyên môn trong lĩnh vực kỹ thuật.

(4) Về công việc và cơ hội nghề nghiệp

  • Bằng cử nhân: Mở ra cơ hội nghề nghiệp trong nhiều lĩnh vực, bao gồm cả nhân sự, tiếp thị, quản lý, tài chính, v.v.
  • Bằng kỹ sư: Có ưu thế trong các công việc liên quan đến kỹ thuật và công nghệ, và thường có nhiều cơ hội nghề nghiệp trong các ngành công nghiệp kỹ thuật, sản xuất, xây dựng, v.v.

Tóm lại, bằng cử nhân là một bậc học đại học cơ bản và có thể liên quan đến nhiều lĩnh vực, trong khi bằng kỹ sư là một loại bằng cử nhân chuyên về các lĩnh vực kỹ thuật và công nghệ.

5.3. Bằng cao đẳng và bằng cử nhân khác gì nhau?

Theo Điều 38 Luật giáo dục đại học 2012,được sửa đổi bởi khoản 23 Điều 1 Luật Giáo dục đại học sửa đổi 2018 quy định, danh hiệu cử nhân phải là những người tốt nghiệp đại học.

Vì vậy nên, danh hiệu cử nhân cao đẳng của tấm bằng cao đẳng không thể nào giống với danh hiệu cử nhân của bằng đại học.

  • Cao đẳng còn chia ra làm hai loại, một là do Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý gọi là cao đẳng chính quy, hai là do do Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội quản lý gọi là cao đẳng nghề.
  • Nếu có tấm bằng cử nhân đại học, bạn có thể tiếp tục học chuyên sâu hơn cho các học vị cao hơn như: thạc sĩ, tiến sĩ.
  • Còn với tấm bằng cao đẳng, bạn không thể làm được điều đó mà chỉ có thể liên thông lên trình độ đại học và tiếp tục học để lấy bằng cử nhân đại học.

5.4. Hướng dẫn quy đổi điểm hệ 10 sang hệ 4 và ngược lại ở trường đại học theo Thông tư 08/2021/TT-BGDĐT?

Theo khoản 3, khoản 4 Điều 9 Quy chế đào tạo trình độ đại học ban hành kèm Thông tư 08/2021/TT-BGDĐT về đánh giá học phần như sau:

"3. Điểm học phần được tính từ tổng các điểm thành phần nhân với trọng số tương ứng, được làm tròn tới một chữ số thập phân và xếp loại điểm chữ như dưới đây, trừ các trường hợp được quy định tại điểm d khoản này.

a) Loại đạt có phân mức, áp dụng cho các học phần được tính vào điểm trung bình học tập, bao gồm:

A: từ 8,5 đến 10,0;

B: từ 7,0 đến 8,4;

C: từ 5,5 đến 6,9;

D: từ 4,0 đến 5,4.

b) Loại đạt không phân mức, áp dụng cho các học phần chỉ yêu cầu đạt, không tính vào điểm trung bình học tập:

P: từ 5,0 trở lên.

c) Loại không đạt:

F: dưới 4,0.

d) Một số trường hợp đặc biệt sử dụng các điểm chữ xếp loại, không được tính vào điểm trung bình học tập:

I: Điểm chưa hoàn thiện do được phép hoãn thi, kiểm tra;

X: Điểm chưa hoàn thiện do chưa đủ dữ liệu;

R: Điểm học phần được miễn học và công nhận tín chỉ.

4. Học lại, thi và học cải thiện điểm:

a) Sinh viên có điểm học phần không đạt phải đăng ký học lại theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 3 của Quy chế này, trừ trường hợp quy định tại điểm đ khoản 5 Điều này; điểm lần học cuối là điểm chính thức của học phần;

b) Sinh viên đã có điểm học phần đạt được đăng ký học lại để cải thiện điểm theo quy định của cơ sở đào tạo."

Như vậy, quy đổi điểm hệ 10 sang hệ 4 và ngược lại ở trường đại học được hướng dẫn như sau:

5.5. Quy chế của cơ sở đào tạo được quy định như thế nào?

Theo khoản 5, khoản 6 Điều 9 Quy chế đào tạo trình độ đại học ban hành kèm Thông tư 08/2021/TT-BGDĐT về đánh giá học phần như sau:

"5. Quy chế của cơ sở đào tạo quy định:

a) Việc tổ chức đánh giá quá trình học tập, trải nghiệm của sinh viên, bao gồm cả các hoạt động thí nghiệm, thực hành, làm bài tập, trình bày báo cáo như một thành phần của học phần;

b) Việc tổ chức thi, kiểm tra, bao gồm quy định về thời gian ôn thi và thời gian thi, việc làm đề thi, coi thi, chấm thi, phúc tra (nếu có), bảo quản bài thi, việc hoãn thi và miễn thi;

c) Việc tổ chức đánh giá các học phần, đồ án, khóa luận, thực hành và thực tập và các học phần đặc thù khác;

d) Việc có yêu cầu ngưỡng điểm đạt phải cao hơn quy định tại điểm a khoản 3 Điều này; việc áp dụng nhiều mức điểm chữ xếp loại hơn quy định tại khoản 3 Điều này;

đ) Việc cho phép thi lại, đánh giá lại một điểm thành phần để cải thiện điểm học phần từ không đạt thành đạt; trong trường hợp này, điểm học phần sau khi thi lại, đánh giá lại chỉ được giới hạn ở mức điểm D hoặc điểm C;

e) Việc cho phép học lại để cải thiện điểm và quy tắc tính điểm chính thức của học phần trong trường hợp điểm học lần sau thấp hơn.

6. Quy định của cơ sở đào tạo về đánh giá và tính điểm học phần phải phù hợp các nguyên tắc và yêu cầu như sau:

a) Nghiêm túc, khách quan, tin cậy và trung thực;

b) Công bằng đối với tất cả sinh viên trong lớp, giữa các lớp, các khoá học và các hình thức đào tạo."