Tìm kiếm
Chương XXVII Bộ luật Tố tụng hình sự 2015: Thủ tục xem xét lại quyết định của hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
| Số hiệu: | 101/2015/QH13 | Loại văn bản: | Luật |
| Nơi ban hành: | Thủ tướng Chính phủ | Người ký: | Nguyễn Sinh Hùng |
| Ngày ban hành: | 27/11/2015 | Ngày hiệu lực: | 01/01/2018 |
| Ngày công báo: | 31/12/2015 | Số công báo: | Từ số 1271 đến số 1272 |
| Lĩnh vực: | Trách nhiệm hình sự, Thủ tục Tố tụng | Tình trạng: | Còn hiệu lực |
TÓM TẮT VĂN BẢN
Bộ luật tố tụng hình sự 2015 vừa được ban hành ngày 27/11/2015 với nhiều quy định mới về cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng hình sự; người tham gia tố tụng HS; bào chữa, bảo về quyền và nghĩa vụ của bị hại, đương sự; biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế;...
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 gồm 9 Phần, 36 Chương, 510 Điều (thay vì Bộ luật Tố tụng Hình sự 2003 gồm 8 Phần, 37 Chương, 346 Điều). Bộ luật TTHS 2015 gồm các Phần sau:
- Những quy định chung
- Khởi tố, điều tra vụ án hình sự
- Truy tố
- Xét xử vụ án hình sự
- Một số quy định về thi hành bản án, quyết định của Tòa án
- Xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật
- Thủ tục đặc biệt
- Hợp tác quốc tế
- Điều khoản thi hành
Bộ luật tố tụng HS 2015 có một số quy định nổi bật sau:
- Điều 73 về quyền và nghĩa vụ của người bào chữa
Người bào chữa có quyền quy định tại Khoản 1 Điều 73 Bộ luật 101/2015/QH13, trong đó có quyền:
+ Gặp, hỏi người bị buộc tội;
+ Có mặt trong hoạt động đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói và hoạt động điều tra khác theo Bộ luật tố tụng hình sự 2015;
+ Xem biên bản về hoạt động tố tụng có sự tham gia của mình, quyết định tố tụng liên quan đến người mà mình bào chữa;
+ Đề nghị tiến hành hoạt động tố tụng theo Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; đề nghị triệu tập người làm chứng, người tham gia tố tụng khác, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;
+ Kiểm tra, đánh giá và trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;
- Điều 78 Bộ luật số 101 tố tụng hình sự 2015 quy định thủ tục đăng ký bào chữa
+ Trong mọi trường hợp tham gia tố tụng, người bào chữa phải đăng ký bào chữa.
+ Khi đăng ký bào chữa, người bào chữa phải xuất trình các giấy tờ:
Luật sư xuất trình Thẻ luật sư kèm theo bản sao có chứng thực và giấy yêu cầu luật sư;
Người đại diện của người bị buộc tội xuất trình CMND hoặc thẻ Căn cước công dân kèm theo bản sao có chứng thực và giấy tờ có xác nhận về mối quan hệ của họ với người bị buộc tội;
Bào chữa viên nhân dân xuất trình CMND hoặc thẻ Căn cước công dân kèm theo bản sao có chứng thực và văn bản cử bào chữa viên nhân dân;
Trợ giúp viên pháp lý, luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý xuất trình văn bản cử người thực hiện trợ giúp pháp lý và Thẻ trợ giúp viên pháp lý hoặc Thẻ luật sư kèm theo bản sao có chứng thực.
- Điều 85 Luật 101/2015/QH13 bổ sung một số vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự gồm:
+ Nguyên nhân và điều kiện phạm tội;
+ Những tình tiết khác liên quan đến việc loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt.
- Quy định dữ liệu điện tử tại Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
+ Dữ liệu điện tử được thu thập từ phương tiện điện tử, mạng máy tính, mạng viễn thông, trên đường truyền và các nguồn điện tử khác.
+ Giá trị chứng cứ của dữ liệu điện tử được xác định căn cứ vào cách thức khởi tạo, lưu trữ hoặc truyền gửi dữ liệu điện tử; cách thức bảo đảm và duy trì tính toàn vẹn của dữ liệu điện tử; cách thức xác định người khởi tạo và các yếu tố phù hợp khác.
- Điều 143 Bộ luật tố tụng hình sự bổ sung căn cứ khởi tố vụ án hình sự:
+ Kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước;
Kiến nghị khởi tố là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiến nghị bằng văn bản và gửi kèm theo chứng cứ, tài liệu liên quan cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có thẩm quyền xem xét, xử lý vụ việc có dấu hiệu tội phạm.
- Khám nghiệm tử thi theo Điều 202 Luật số 101/2015/QH13
Khi khám nghiệm tử thi phải tiến hành chụp ảnh, mô tả dấu vết để lại trên tử thi; chụp ảnh, thu thập, bảo quản mẫu vật phục vụ công tác trưng cầu giám định; ghi rõ kết quả khám nghiệm vào biên bản. Biên bản khám nghiệm tử thi được lập theo Điều 178 Bộ luật TTHS 2015.
- Điều 215 Bộ luật tố tụng HS 2015 quy định yêu cầu định giá tài sản
+ Khi cần xác định giá của tài sản để giải quyết vụ án hình sự, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng ra văn bản yêu cầu định giá tài sản.
+ Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra văn bản yêu cầu định giá tài sản, cơ quan yêu cầu định giá phải giao hoặc gửi văn bản yêu cầu định giá tài sản, hồ sơ, đối tượng yêu cầu định giá tài sản cho Hội đồng định giá tài sản được yêu cầu; gửi văn bản yêu cầu định giá tài sản cho Viện kiểm sát có thẩm quyền thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra.
- Trường hợp áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt tại Điều 224 Bộ luật 101/2015/QH13
Có thể áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt đối với các trường hợp:
+ Tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội phạm về ma túy, tội phạm về tham nhũng, tội khủng bố, tội rửa tiền;
+ Tội phạm khác có tổ chức thuộc loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
- Điều 322 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định việc tranh luận tại phiên tòa
+ Bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác có quyền trình bày ý kiến, đưa ra chứng cứ, tài liệu và lập luận của mình để đối đáp với Kiểm sát viên về những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội; tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; nhân thân và vai trò của bị cáo trong vụ án; những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt; trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp; nguyên nhân, điều kiện phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án.
Bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác có quyền đưa ra đề nghị của mình.
+ Kiểm sát viên phải đưa ra chứng cứ, tài liệu và lập luận để đối đáp đến cùng từng ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa.
Người tham gia tranh luận có quyền đáp lại ý kiến của người khác.
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 có hiệu lực từ ngày 01/07/2016.
Văn bản tiếng việt
Văn bản tiếng anh
1. Khi có căn cứ xác định quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc phát hiện tình tiết quan trọng mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung quyết định mà Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao không biết được khi ra quyết định đó, nếu Ủy ban thường vụ Quốc hội yêu cầu, Ủy ban tư pháp của Quốc hội, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao kiến nghị, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đề nghị thì Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối phải mở phiên họp để xem xét lại quyết định đó.
2. Trường hợp Ủy ban thường vụ Quốc hội yêu cầu thì Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có trách nhiệm báo cáo Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
3. Trường hợp Ủy ban tư pháp của Quốc hội, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao kiến nghị thì Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao mở phiên họp xem xét kiến nghị đó.
Trường hợp Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đề nghị thì báo cáo Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao mở phiên họp xem xét đề nghị đó.
1. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải tham dự phiên họp của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để xem xét kiến nghị của Ủy ban tư pháp của Quốc hội, kiến nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
2. Đại diện Ủy ban tư pháp của Quốc hội được mời tham dự phiên họp của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để xem xét kiến nghị của Ủy ban tư pháp của Quốc hội.
3. Trường hợp xét thấy cần thiết, Tòa án nhân dân tối cao có thể mời cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan tham dự phiên họp.
1. Sau khi nhận được kiến nghị của Ủy ban tư pháp của Quốc hội, của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc sau khi Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có văn bản đề nghị xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao gửi cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao bản sao văn bản kiến nghị hoặc đề nghị đó kèm theo hồ sơ vụ án để Viện kiểm sát nhân dân tối cao chuẩn bị ý kiến phát biểu tại phiên họp xem xét kiến nghị, đề nghị.
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao tổ chức thẩm định hồ sơ để báo cáo Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xem xét, quyết định tại phiên họp.
2. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được kiến nghị của Ủy ban tư pháp của Quốc hội, kiến nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc kể từ ngày Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có văn bản đề nghị thì Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao phải mở phiên họp xem xét kiến nghị, đề nghị đó và thông báo bằng văn bản cho Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao về thời gian, địa điểm mở phiên họp xem xét kiến nghị, đề nghị.
1. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao tự mình hoặc phân công một thành viên Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao trình bày tóm tắt nội dung vụ án và quá trình giải quyết vụ án.
2. Đại diện Ủy ban tư pháp của Quốc hội, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có kiến nghị, đề nghị xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao trình bày về các vấn đề sau:
a) Nội dung kiến nghị, đề nghị;
b) Căn cứ kiến nghị, đề nghị;
c) Phân tích chứng cứ cũ và chứng cứ mới bổ sung (nếu có) để làm rõ việc vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hoặc những tình tiết quan trọng mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
3. Trường hợp xem xét kiến nghị của Ủy ban tư pháp của Quốc hội hoặc xem xét đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao phát biểu ý kiến về tính có căn cứ và hợp pháp của kiến nghị, đề nghị; nêu rõ quan điểm và lý do nhất trí hoặc không nhất trí với kiến nghị, đề nghị đó.
4. Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thảo luận và biểu quyết theo đa số về việc nhất trí hoặc không nhất trí với kiến nghị, đề nghị xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
5. Trường hợp nhất trí với kiến nghị của Ủy ban tư pháp của Quốc hội, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao thì Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quyết định về việc mở phiên họp để xem xét lại quyết định của mình.
6. Mọi diễn biến tại phiên họp xem xét kiến nghị, đề nghị và các quyết định được thông qua tại phiên họp được ghi vào biên bản phiên họp và lưu hồ sơ xem xét kiến nghị, đề nghị.
Sau khi kết thúc phiên họp, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao gửi văn bản thông báo kết quả phiên họp về việc nhất trí hoặc không nhất trí kiến nghị, đề nghị cho Ủy ban tư pháp của Quốc hội, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Văn bản thông báo phải nêu rõ lý do của việc nhất trí hoặc không nhất trí với kiến nghị, đề nghị đó.
Trường hợp không nhất trí kết quả xem xét kiến nghị, đề nghị của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì Ủy ban tư pháp của Quốc hội, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có quyền báo cáo Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định.
1. Trường hợp có yêu cầu của Ủy ban thường vụ Quốc hội hoặc có quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nhất trí xem xét lại quyết định của mình thì Chánh án Tòa án nhân dân tối cao tổ chức việc thẩm định hồ sơ vụ án và tổ chức việc xác minh, thu thập chứng cứ, tài liệu, đồ vật trong trường hợp cần thiết.
2. Việc thẩm định hồ sơ vụ án, xác minh, thu thập chứng cứ, tài liệu, đồ vật phải làm rõ có hay không có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc có hay không có tình tiết quan trọng mới làm thay đổi cơ bản nội dung quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
1. Trong thời hạn 04 tháng kể từ ngày nhận được yêu cầu của Ủy ban thường vụ Quốc hội hoặc kể từ ngày có quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nhất trí xem xét lại quyết định của mình, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao phải mở phiên họp.
2. Tòa án nhân dân tối cao gửi cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao văn bản thông báo về thời gian, địa điểm mở phiên họp xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao kèm theo hồ sơ vụ án trong trường hợp có yêu cầu của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
1. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải tham dự phiên họp xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và phát biểu quan điểm về việc có hay không có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc có hay không có tình tiết mới quan trọng làm thay đổi cơ bản nội dung quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và quan điểm về việc giải quyết vụ án.
2. Sau khi nghe Chánh án Tòa án nhân dân tối cao báo cáo, nghe ý kiến của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan tham dự (nếu có), Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quyết định:
a) Không chấp nhận yêu cầu của Ủy ban thường vụ Quốc hội, kiến nghị của Ủy ban tư pháp của Quốc hội, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và giữ nguyên quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
b) Hủy quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật có vi phạm pháp luật và quyết định về nội dung vụ án;
c) Hủy quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật;
d) Hủy quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật có vi phạm pháp luật để điều tra lại hoặc xét xử lại.
3. Quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao phải được ít nhất ba phần tư tổng số thành viên của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao biểu quyết tán thành.
Sau khi Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ra một trong các quyết định quy định tại Điều 411 của Bộ luật này, Tòa án nhân dân tối cao gửi quyết định cho Ủy ban thường vụ Quốc hội, Ủy ban tư pháp của Quốc hội, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án đã giải quyết vụ án và những người có liên quan.
PROCEDURES FOR THE REVIEW OF RULINGS BY THE JUSTICES’ COUNCIL OF THE SUPREME PEOPLE’S COURT
Article 404. Requests, requisitions and propositions for the review of rulings by the Justices’ Council of the Supreme People’s Court
1. In the presence of grounds that indicate the serious breach of laws in the rulings by the Justices’ Council of the Supreme People’s Court, the Justices’ Council of the Supreme People’s Court must meet and review such rulings at the requests by the Standing Committee of the National Assembly or as per the requisitions by the Judiciary Committee of the National Assembly or the head of the Supreme People’s Procuracy or according to the propositions by President of the Supreme People’s Court. The same applies upon the revelation of new significant facts that were beyond the knowledge of the Justices’ Council of the Supreme People's Court upon the passing of its rulings and may alter the fundamentals of such rulings.
2. The president of the Supreme People’s Court, at the requests the Standing Committee of the National Assembly, shall be held responsible for reporting to the Justices’ Council of the Supreme People’s Court for the review of the rulings of the Justices’ Council of the Supreme People's Court.
3. In response to the requisitions by the Judiciary Committee of the National Assembly and the head of the Supreme People's Procuracy, the Justices’ Council of the Supreme People's Court shall conduct the meeting to review its rulings.
In response to the propositions by the President of the Supreme People's Court, the Justices’ Council of the Supreme People's Court shall enter a meeting to review its rulings.
Article 405. Participants in the meeting organized by the Justices’ Council of the Supreme People’s Court for examination of requisitions and propositions
1. The head of the Supreme People’s Procuracy must attend the meeting of the Justices’ Council of the Supreme People’s Court to examine the requisitions by the Judicial Committee of the National Assembly or by the head of the Supreme People’s Procuracy or the propositions by the President of the Supreme People's Court.
2. The representative of the Judicial Committee of the National Assembly shall be invited to the meeting of the Justices’ Council of the Supreme People’s Court to examine the requisitions by the Judicial Committee of the National Assembly.
3. Relevant authorities and entities can be invited by the Supreme People's Court to the meeting, if deemed necessary.
Article 406. Preparation of the meeting for examination of requisitions and propositions
1. Upon the receipt of requisitions from the Judicial Committee of the National Assembly or the head of the Supreme People’s Procuracy or written propositions from the President of the Supreme People’s Court for the review of the rulings of the Justices' Council of the Supreme People's Court, the Supreme People's Court shall send copies of such requisitions or propositions and case files to the Supreme People’s Procuracy for the latter’s preparation of its presentation in the meeting for examination of such requisitions or propositions.
The president of the Supreme People’s Court shall have documents examined and report to the Justices’ Council of the Supreme People’s Court for the latter to consider details and make decisions in the meeting.
2. In 30 days upon the receipt of requisitions from the Judicial Committee of the National Assembly or the head of the Supreme People’s Procuracy or upon the proposition in writing by the President of the Supreme People’s Court, the Justices’ Council of the Supreme People’s Court must carry out the meeting to examine such requisitions or propositions. Moreover, the head of the Supreme People’s Procuracy shall be informed in writing of the time and location of such meeting.
Article 407. Procedures for the organization of a meeting for examination of requisitions and propositions
1. The president of the Supreme People’s Court shall himself or assign a member of the Justices’ Council of the Supreme People’s Court to present the case and its settlement in brief.
2. The representative of the Judicial Committee of the National Assembly, the President of the Supreme People’s Court, the head of the Supreme People's Procuracy, requisitioning for or proposing the review of the rulings of the Justices' Council of the Supreme People's Court, shall present the following particulars:
a) The content of the requisitions or propositions;
b) The grounds for such requisitions or propositions;
c) The analysis of evidences existing and arising (if any) to evince the serious breach of laws in the rulings of the Justices’ Council of the Supreme People's Court, or new facts that may alter the fundamentals of such rulings.
3. For the examination of requisitions from the Judicial Committee of the national Assembly or propositions from the President of the Supreme People’s Court, the head of the Supreme People’s Procuracy shall state opinions on the grounds and validity of such requisitions or propositions and specify standpoints and reasons for his consent to or dissent against such propositions or requisitions.
4. Justices’ Council of the Supreme People's Court discuss details and take vote under majority rule on its accord or discord with the requisitions or propositions for the review of the rulings of the Justices’ Council of the Supreme People’s Court.
5. Justices’ Council of the Supreme People’s Court, if concurring with requisitions from the Judicial Committee of the National Assembly or the head of the Supreme People’s Procuracy or propositions from the President of the Supreme People’s Court, shall decide to engage in a meeting to review its rulings.
6. Every event of the meeting for examination of requisitions or propositions and the decisions passed in such meeting shall be inputted into the meeting record and the archive of documents for examination of such requisitions or propositions.
Article 408. Notice of results of the meeting for examination of requisitions or propositions
At the end of the meeting, the Justices’ Council of the Supreme People’s Court shall inform the Judicial Committee of the National Assembly and the head of the Supreme People's Procuracy in writing of the results of the meeting and the accord or discord with the requisitions or propositions. The written notice must specify reasons for the consent to or dissent against requisitions or propositions.
If the result of the examination meeting of the Justices’ Council of the Supreme People’s Court is deemed not satisfactory, the Judicial Committee of the National Assembly, the head of the Supreme People’s Procuracy and the President of the Supreme People’s Court shall be entitled to report to the Standing Committee of the National Assembly for the latter’s decisions.
Article 409. Assessment of case files; verification and collection of evidences, documents and items
1. At the requests by the Standing Committee of the National Assembly or as per the consent of the Justices' Council of the Supreme People's Court to the review of its rulings, the President of the Supreme People's Court shall organize the assessment of case files and the verification and collection of evidences, documents and items, if necessary.
2. The assessment of case files, verification and collection of evidences, documents and items must clarify the existence of serious violations of laws or new significant facts that may alter the fundamentals of the rulings of the Justices' Council of the Supreme People's Court.
Article 410. Time limit for the start of the meeting to review rulings of Justices’ Council of the Supreme People’s Court
1. In 04 months upon the receipt of requests from the Standing Committee of the National Assembly or upon the consent of the Justices’ Council of the Supreme People’s Court to the review of its rulings, the Justices’ Council of the Supreme People’s Court must open the meeting.
2. At the requests for the Standing Committee of the National Assembly, the Supreme People’s Court shall inform the Supreme People’s Procuracy in writing of the time and location of the meeting to review the former’s rulings and provide case files.
Article 411. Procedures and authority to review the rulings of the Justices’ Council of the Supreme People's Court
1. The head of the Supreme People’s Procuracy must attend the meeting to review the rulings of the Justices’ Council of the Supreme People’s Court and express opinions on the existence of serious violations of laws or new significant facts that may alter the fundamentals of the rulings of Justices' Council of the Supreme People's Court. Moreover, he shall state standpoints on the settlement of the case.
2. After the report by the President of the Supreme People's Court and presentations by the head of the Supreme People’s Procuracy and concerned authorities and entities (if any), the Justices’ Council of the Supreme People's Court shall decide to:
a) Refuse the requests by the Standing Committee of the National Assembly, requisitions by the Judicial Committee of the National Assembly or the head of the Supreme People’s Procuracy, and propositions by the President of the Supreme People’s Court, and sustain the rulings of the Justices’ Council of the Supreme People’s Court;
b) Rescind the rulings of the Justices’ Council of the Supreme People’s Court, effective sentences and rulings in violation of the laws and decisions on the particulars of the case;
c) Rescind the rulings of the Justices’ Council of the Supreme People’s Court, effective sentences and rulings and determine liabilities for amends according to the laws;
d) Rescind the rulings of the Justices’ Council of the Supreme People’s Court, effective sentences and rulings in violation of the laws for re-investigation or retrial.
3. Rulings of the Justices’ Council of the People’s Supreme Court must be approved by more than three fourth of its members.
Article 412. Delivery of decisions by the Justices’ Council of the Supreme People’s Court on the review of its rulings
After the Justices’ Council of the Supreme People’s Court issues one of the decisions as defined in Article 411 of this Law, the Supreme People’s Court shall deliver such decision to the Standing Committee and the Judicial Committee of the National Assembly, the Supreme People's Procuracy, investigation authorities, procuracies and courts that settled the case and concerned individuals.
Văn bản liên quan
Cập nhật
Điều 155. Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại
Điều 157. Căn cứ không khởi tố vụ án hình sự
Điều 268. Thẩm quyền xét xử của Tòa án
Điều 285. Viện kiểm sát rút quyết định truy tố
Điều 367. Thủ tục xem xét bản án tử hình trước khi thi hành
Điều 401. Thời hạn kháng nghị theo thủ tục tái thẩm
Ðiều 419. Áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế
Điều 447. Điều kiện và thẩm quyền áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh
Điều 57. Người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố
Điều 58. Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt
Điều 65. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án
Điều 73. Quyền và nghĩa vụ của người bào chữa
Điều 75. Lựa chọn người bào chữa
Điều 76. Chỉ định người bào chữa
Điều 78. Thủ tục đăng ký bào chữa
Điều 80. Gặp người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đang bị tạm giam
Điều 83. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố
Điều 84. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự
Điều 148. Tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố
Điều 241. Áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế
Điều 278. Áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế
Điều 347. Áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế
Điều 133. Chương trình an toàn, vệ sinh lao động
Mục 4. LAO ĐỘNG LÀ NGƯỜI KHUYẾT TẬT
Điều 41. Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát
Điều 42. Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên
Điều 110. Giữ người trong trường hợp khẩn cấp
Điều 125. Hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp ngăn chặn
Điều 156. Thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự
Điều 169. Chuyển vụ án để điều tra
Điều 173. Thời hạn tạm giam để điều tra
Điều 180. Thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can
Điều 228. Hủy bỏ việc áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt
Điều 236. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố
Điều 238. Giao, nhận hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra
Điều 246. Giải quyết yêu cầu điều tra bổ sung của Tòa án
Điều 368. Thủ tục xét tha tù trước thời hạn có điều kiện
Điều 433. Khởi tố bị can, thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố bị can đối với pháp nhân
Điều 443. Tạm đình chỉ điều tra, đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án, đình chỉ bị can, bị cáo
Điều 457. Quyết định áp dụng thủ tục rút gọn
Bài viết liên quan
Tội tham nhũng bị phạt tiền, phạt tù ra sao mới nhất 2025?
Tội tham nhũng bị phạt tiền, phạt tù ra sao mới nhất 2025?
Tội tham nhũng là một trong những tội phạm nghiêm trọng ảnh hưởng lớn đến bộ máy nhà nước và xã hội, do đó pháp luật Việt Nam quy định các hình phạt rất nghiêm khắc nhằm ngăn chặn và răn đe. Theo quy định mới nhất đến năm 2025, người phạm tội tham nhũng có thể bị xử lý hình sự bằng các hình phạt chính như phạt tiền, phạt tù với mức án tù dao động từ vài năm đến tù chung thân, thậm chí trong những trường hợp đặc biệt nghiêm trọng có thể bị áp dụng hình phạt tử hình. Ngoài ra, các biện pháp bổ sung như tịch thu tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ cũng được áp dụng nhằm đảm bảo hiệu quả phòng, chống tham nhũng. 31/05/2025Người giao hàng vô tình vận chuyển ma túy có bị phạt tù hay không?
Người giao hàng vô tình vận chuyển ma túy có bị phạt tù hay không?
Trong các vụ án ma túy, không ít trường hợp người giao hàng khai rằng họ không biết mình đang vận chuyển chất ma túy. Vấn đề pháp lý đặt ra là liệu người giao hàng vô tình này có phải chịu trách nhiệm hình sự và bị phạt tù hay không? Theo quy định của Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành, yếu tố nhận thức và lỗi cố ý của người phạm tội là cơ sở quan trọng để xác định trách nhiệm hình sự, do đó việc xem xét kỹ càng từng trường hợp cụ thể là cần thiết. 31/05/2025Chống người cảnh sát giao thông phạt đến gần 40 triệu theo luật mới nhất 2025?
Chống người cảnh sát giao thông phạt đến gần 40 triệu theo luật mới nhất 2025?
Trong quá trình thực hiện chức năng quản lý nhà nước, các cơ quan công quyền và người thi hành công vụ thường xuyên phải đối mặt với những hành vi chống đối, gây rối hoặc cản trở từ một bộ phận cá nhân, tổ chức thiếu ý thức chấp hành pháp luật. Những hành vi này không chỉ gây khó khăn cho hoạt động quản lý nhà nước mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội. Hãy cùng tìm hiểu về chống người cảnh sát giao thông phạt đến gần 40 triệu theo luật mới nhất 2025? 29/05/2025Không chấp hành mệnh lệnh của người thi hành công vụ có phải là phạm tội chống người thi hành công vụ không?
Không chấp hành mệnh lệnh của người thi hành công vụ có phải là phạm tội chống người thi hành công vụ không?
Trong quá trình thực hiện chức năng quản lý nhà nước, các cơ quan công quyền và người thi hành công vụ thường xuyên phải đối mặt với những hành vi chống đối, gây rối hoặc cản trở từ một bộ phận cá nhân, tổ chức thiếu ý thức chấp hành pháp luật. Những hành vi này không chỉ gây khó khăn cho hoạt động quản lý nhà nước mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội. Hãy cùng tìm hiểu về quy định không chấp hành mệnh lệnh của người thi hành công vụ có phải là phạm tội chống người thi hành công vụ không? 29/05/2025Cản trở người thi hành công vụ gây thương tích mức phạt mới nhất 2025 quy định thế nào?
Cản trở người thi hành công vụ gây thương tích mức phạt mới nhất 2025 quy định thế nào?
Trong quá trình thực hiện chức năng quản lý nhà nước, các cơ quan công quyền và người thi hành công vụ thường xuyên phải đối mặt với những hành vi chống đối, gây rối hoặc cản trở từ một bộ phận cá nhân, tổ chức thiếu ý thức chấp hành pháp luật. Những hành vi này không chỉ gây khó khăn cho hoạt động quản lý nhà nước mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội. Hãy cùng tìm hiểu về cản trở người thi hành công vụ gây thương tích mức phạt mới nhất 2025 quy định thế nào? 29/05/2025Chống đối người thi hành công vụ là gì? Hình phạt mới nhất 2025 tội chống đối người thi hành công vụ ra sao?
Chống đối người thi hành công vụ là gì? Hình phạt mới nhất 2025 tội chống đối người thi hành công vụ ra sao?
Trong quá trình thực hiện chức năng quản lý nhà nước, các cơ quan công quyền và người thi hành công vụ thường xuyên phải đối mặt với những hành vi chống đối, gây rối hoặc cản trở từ một bộ phận cá nhân, tổ chức thiếu ý thức chấp hành pháp luật. Những hành vi này không chỉ gây khó khăn cho hoạt động quản lý nhà nước mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội. Hãy cùng tìm hiểu về chống đối người thi hành công vụ là gì? Hình phạt mới nhất 2025 tội chống đối người thi hành công vụ ra sao? 29/05/2025Xử lý thế nào khi cơ quan điều tra khởi tố bị can trái quy định pháp luật?
Xử lý thế nào khi cơ quan điều tra khởi tố bị can trái quy định pháp luật?
Việc khởi tố bị can là một trong những giai đoạn quan trọng nhất của quá trình tố tụng hình sự, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Tuy nhiên, trong thực tiễn, không loại trừ khả năng cơ quan điều tra có thể thực hiện việc này một cách trái quy định pháp luật, gây ra những hậu quả nghiêm trọng. Vậy, phải làm gì khi cơ quan điều tra khởi tố bị can trái quy định pháp luật? Bài viết này sẽ đi sâu phân tích các dấu hiệu của việc khởi tố trái pháp luật, đồng thời đưa ra các giải pháp và quyền của cá nhân để bảo vệ mình trong tình huống này. 31/05/2025Tội cố ý gây thương tích bị xử lý ra sao khi bị hại không yêu cầu khởi tố?
Tội cố ý gây thương tích bị xử lý ra sao khi bị hại không yêu cầu khởi tố?
Trong lĩnh vực pháp luật hình sự, việc xử lý hành vi phạm tội thường tuân theo nguyên tắc "khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử". Tuy nhiên, với một số tội danh, đặc biệt là tội cố ý gây thương tích, việc bị hại không yêu cầu khởi tố có thể dẫn đến những tình huống pháp lý phức tạp. Vậy, khi bị hại không đưa ra yêu cầu này, tội cố ý gây thương tích sẽ được xử lý ra sao? Bài viết này sẽ phân tích chi tiết các quy định pháp luật liên quan, làm rõ những trường hợp ngoại lệ và các hình thức xử lý có thể áp dụng trong tình huống này. 31/05/2025Bị hại có được rút đơn yêu cầu khi vụ án hình sự đã được khởi tố không?
Bị hại có được rút đơn yêu cầu khi vụ án hình sự đã được khởi tố không?
Trong tố tụng hình sự, quyền của bị hại đóng vai trò quan trọng, đặc biệt là trong các vụ án chỉ khởi tố theo yêu cầu của bị hại. Tuy nhiên, một câu hỏi thường trực đặt ra là. Bị hại có được rút đơn yêu cầu khi vụ án hình sự đã được khởi tố hay không? Việc rút yêu cầu này có ảnh hưởng như thế nào đến quá trình giải quyết vụ án? Bài viết này sẽ làm rõ những quy định pháp luật liên quan đến vấn đề này, giúp bạn đọc hiểu rõ hơn về quyền và giới hạn quyền của bị hại trong các giai đoạn tố tụng. 31/05/2025Danh sách 10 tội chỉ khởi tố theo yêu cầu bị hại mới nhất 2025
