Danh sách 10 tội chỉ khởi tố theo yêu cầu bị hại mới nhất
Danh sách 10 tội chỉ khởi tố theo yêu cầu bị hại mới nhất

1. Khởi tố theo yêu cầu bị hại là gì?

Theo quy định tại khoản 1 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021), khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại là việc cơ quan có thẩm quyền chỉ được khởi tố vụ án khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ đối với một số tội phạm cụ thể. Điều này có nghĩa là, mặc dù có dấu hiệu phạm tội, nhưng nếu không có yêu cầu từ phía bị hại, cơ quan tiến hành tố tụng không được phép khởi tố vụ án.

2. Danh sách 10 tội chỉ khởi tố theo yêu cầu bị hại mới nhất

Theo quy định tại khoản 1 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi bởi khoản 3 Điều 1 Luật Sửa đổi Bộ luật Tố tụng hình sự 2021, có 10 tội danh chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ (trong trường hợp bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất, hoặc đã chết). Danh sách các tội danh này bao gồm:

  • Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 134).

  • Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 135).

  • Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội (Điều 136).

  • Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 138).

  • Tội hiếp dâm (Điều 141).

  • Tội cưỡng dâm (Điều 143).

  • Tội làm nhục người khác (Điều 155).

  • Tội vu khống (Điều 156).

  • Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (Điều 226).

  • Tội xâm phạm quyền tác giả (Điều 225).

Lưu ý rằng, nếu người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ, trừ trường hợp có căn cứ xác định việc rút yêu cầu là do bị ép buộc, cưỡng bức. Trong trường hợp đó, cơ quan tiến hành tố tụng vẫn có thể tiếp tục điều tra và xét xử vụ án.

Danh sách 10 tội chỉ khởi tố theo yêu cầu bị hại
Danh sách 10 tội chỉ khởi tố theo yêu cầu bị hại

3. Bị hại có được rút đơn yêu cầu khi vụ án hình sự đã được khởi tố không?

Người bị hại có quyền rút đơn yêu cầu khởi tố ngay cả khi vụ án hình sự đã được khởi tố, nhưng điều này chỉ áp dụng đối với các tội danh mà pháp luật quy định chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của bị hại. Cụ thể theo khoản 2 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, nếu người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ, trừ trường hợp có căn cứ xác định việc rút yêu cầu là do bị ép buộc, cưỡng bức. Trong trường hợp đó, cơ quan tiến hành tố tụng vẫn tiếp tục điều tra và xét xử vụ án.

4. Tội cố ý gây thương tích bị xử lý ra sao khi bị hại không yêu cầu khởi tố?

Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Việc khởi tố vụ án hình sự đối với tội này không nhất thiết phải có yêu cầu của bị hại, tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của hành vi và tỷ lệ thương tật gây ra.

Ngay cả khi bị hại không có yêu cầu khởi tố, cơ quan tố tụng vẫn có thể khởi tố vụ án nếu hành vi thuộc một trong các trường hợp nghiêm trọng hơn theo Điều 134, cụ thể:

  • Gây thương tích từ 11% đến 30% kèm theo các tình tiết tăng nặng kể trên;

  • Gây thương tích với tỷ lệ từ 31% đến 60%;

  • Gây thương tích từ 31% đến 60% và đi kèm các tình tiết nghiêm trọng như đã nêu;

  • Gây thương tích với tỷ lệ từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người;

  • Làm chết từ hai người trở lên;

  • Gây thương tích nghiêm trọng cho hai người trở lên, mỗi người có tỷ lệ tổn thương từ 61% trở lên;

  • Gây thương tích vùng mặt người khác với tỷ lệ từ 61% trở lên.

5. Xử lý thế nào khi cơ quan điều tra khởi tố bị can trái quy định pháp luật?

Khi cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố bị can mà không có đủ căn cứ pháp lý, người bị khởi tố có thể thực hiện các bước sau để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình:

  • Khiếu nại quyết định khởi tố bị can: Người bị khởi tố có quyền nộp đơn khiếu nại đến cơ quan điều tra cấp trên hoặc Viện kiểm sát cùng cấp để yêu cầu xem xét lại quyết định khởi tố. Thời hạn giải quyết khiếu nại thường là 7 ngày kể từ ngày nhận được đơn.

  • Yêu cầu bồi thường thiệt hại: Nếu việc khởi tố trái pháp luật gây thiệt hại về vật chất hoặc tinh thần, người bị khởi tố có thể yêu cầu Nhà nước bồi thường theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Thiệt hại được bồi thường bao gồm chi phí đi lại, thu nhập bị mất, tổn thất về danh dự, uy tín, sức khỏe, v.v.

  • Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ điều tra: Nếu có căn cứ cho rằng cán bộ điều tra cố ý ra quyết định khởi tố trái pháp luật, người bị khởi tố có thể tố cáo hành vi này đến cơ quan điều tra cấp trên, Viện kiểm sát hoặc cơ quan thanh tra để được xem xét, xử lý theo quy định của pháp luật.

  • Tham khảo ý kiến luật sư: Trong quá trình giải quyết vụ việc, người bị khởi tố nên tham khảo ý kiến của luật sư để được tư vấn và hỗ trợ pháp lý kịp thời, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

6. Câu hỏi thường gặp

6.1 Bị hại có được rút đơn yêu cầu khởi tố không?

Có. Bị hại có quyền rút đơn yêu cầu khởi tố bất kỳ lúc nào trước khi mở phiên tòa sơ thẩm. Nếu rút đơn đúng thời điểm, vụ án có thể bị đình chỉ điều tra theo quy định tại Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự.

6.2 Nếu bị hại rút đơn, vụ án có bị đình chỉ không?

Có thể. Nếu vụ án thuộc loại chỉ khởi tố theo yêu cầu của bị hại, và bị hại rút đơn trước khi mở phiên tòa sơ thẩm thì cơ quan tiến hành tố tụng sẽ đình chỉ vụ án.

6.3 Trong trường hợp nào vẫn bị khởi tố dù bị hại không yêu cầu?

Nếu vụ việc có dấu hiệu cấu thành tội phạm nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, hoặc thuộc nhóm tội không cần đơn yêu cầu (theo quy định pháp luật), thì cơ quan điều tra có thể khởi tố mà không cần đơn của bị hại.