Tội loạn luân bị xử lý thế nào theo BLHS mới nhất 2025?
Tội loạn luân bị xử lý thế nào theo BLHS mới nhất 2025?

1. Tội loạn luân bị xử lý thế nào theo BLHS mới nhất 2025?

Theo quy định của Bộ luật Hình sự 2015, tội loạn luân được xếp vào nhóm tội xâm phạm đến khách thể là chế độ hôn nhân và gia đình, theo đó, căn cứ Điều 184 Bộ luật Hình sự 2015, xử lý tội loạn luân như sau:

Người nào giao cấu với người mà biết rõ người đó cùng dòng máu về trực hệ, là anh chị em cùng cha mẹ, anh chị em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

Trong đó, căn cứ Khoản 17 Điều 3 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, những người có cùng dòng máu về trực hệ được định nghĩa là:

17. Những người cùng dòng máu về trực hệ là những người có quan hệ huyết thống, trong đó, người này sinh ra người kia kế tiếp nhau.

Hiện nay, không có văn bản hướng dẫn cụ thể nào về tội loạn luân còn hiệu lực, tuy nhiên, có thể áp dụng tinh thần của Thông tư liên tịch 01/2001/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC, hướng dẫn một số điều về các tội phạm xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình của Bộ luật Hình sự năm 1999 để giải thích thêm về tội loạn luân, theo đó:

  • Loạn luân là việc giao cấu giữa cha, mẹ với con; giữa ông, bà với cháu nội, cháu ngoại; giữa anh chị em cùng cha mẹ; giữa anh chị em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha.
  • Để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội loạn luân cần phải xác định rõ hành vi giao cấu là thuận tình, không có dấu hiệu dùng vũ lực hoặc cưỡng ép và được thực hiện với người từ đủ 16 tuổi trở lên. Trong trường hợp tuy hành vi giao cấu giữa những người nói trên là thuận tình, nhưng nếu hành vi đó được thực hiện đối với trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, thì không truy cứu trách nhiệm hình sự về tội loạn luân mà phải truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giao cấu với trẻ em.
  • Trong trường hợp hành vi loạn luân kèm theo dấu hiệu dùng vũ lực, đe đoạ dùng vũ lực, lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác, thì tuỳ trường hợp người thực hiện hành vi đó phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội hiếp dâm hoặc tội hiếp dâm trẻ em.
  • Nếu hành vi loạn luân kèm theo dấu hiệu lợi dụng quan hệ lệ thuộc khiến bên kia phải miễn cưỡng cho giao cấu, thì tuỳ trường hợp người thực hiện hành vi đó phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cưỡng dâm hoặc tội cưỡng dâm trẻ em.
  • Trong mọi trường hợp hành vi loạn luân được thực hiện đối với trẻ em dưới 13 tuổi, thì người thực hiện hành vi loạn luân phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội hiếp dâm trẻ em.

2. Phạm tội loạn luân đối với người chưa thành niên xử lý như thế nào?

Phạm tội loạn luân đối với người chưa thành niên xử lý như thế nào?
Phạm tội loạn luân đối với người chưa thành niên xử lý như thế nào?

Người chưa thành niên được xác định là người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi, theo hướng dẫn trong Thông tư liên tịch 01/2001/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC,trong trường hợp tuy hành vi giao cấu giữa những người nói trên là thuận tình, nhưng nếu hành vi đó được thực hiện đối với trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, thì không truy cứu trách nhiệm hình sự về tội loạn luân mà phải truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giao cấu với trẻ em. Theo đó, căn cứ Điều 145 Bộ luật Hình sự năm 2015, hành vi giao cấu với người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi được quy định như sau:

Điều 145. Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi

1. Người nào đủ 18 tuổi trở lên mà giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 142 và Điều 144 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a) Phạm tội 02 lần trở lên;

b) Đối với 02 người trở lên;

c) Có tính chất loạn luân;

d) Làm nạn nhân có thai;

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

e) Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

b) Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội.

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Như vậy, khung hình phạt cao nhất đối với tội danh này là 15 năm tù.

3. Ấu dâm là gì? Hiếp dâm trẻ em mức phạt mới nhất 2025 ra sao?

Những tình tiết định khung tăng nặng, giảm nhẹ của tội hiếp dâm
Ấu dâm là gì? Hiếp dâm trẻ em mức phạt mới nhất 2025 ra sao?

Trong pháp luật Việt Nam, không có khái niệm cụ thể về “ấu dâm” trong các văn bản quy phạm pháp luật, bao gồm cả Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, “ấu dâm” được hiểu là những hành vi xâm hại tình dục trẻ em – cụ thể là người dưới 16 tuổi, và được xử lý thông qua các tội danh cụ thể trong Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Trẻ em là người dưới 16 tuổi, theo quy định hiện hành của Bộ luật Hình sự 2015, hành vi hiếp dâm trẻ em gồm 02 trường hợp, nạn nhân từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi và trường hợp nạn nhân chưa đủ 13 tuổi.

  • Trong trường hợp nạn nhân từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, hành vi phạm tội của tội này được quy định như hành vi phạm tội của tội hiếp dâm;
  • Trong trường hợp nạn nhân chưa đủ 13 tuổi, hành vi phạm tội của tội này được quy định chỉ là hành vi giao cấu hoặc hành vi quan hệ tình dục khác mà không đòi hỏi có thủ đoạn phạm tội như tội hiếp dâm (không cần dấu hiệu "trái với ý muốn của nạn nhân" như được quy định của hành vi hiếp dâm).

Tội hiếp dâm người dưới 16 tuồi có 03 khung hình phạt chính và 01 khung hình phạt bổ sung.

  • Khung hình cơ bản có mức phạt tù từ 07 năm đến 15 năm tù.
  • Khung hình phạt tăng nặng thứ nhất có mức phạt tù từ 12 năm đến 20 năm được quy định trong trường hợp phạm tội có các tình tiết sau:
    • Có tính chất loạn luân;
    • Làm nạn nhân có thai;
    • Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỉ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đế 60%;
    • Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh;
    • Phạm tội 02 lần trở lên;
    • Phạm tội đối với 02 người trở lên;
    • Tái phạm nguy hiểm.
  • Khung hình phạt tăng nặng thứ hai có mức phạt tù từ 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình được quy định cho trường hợp phạm tội có một trong các tình tiết định khung tăng nặng sau:
    • Có tổ chức;
    • Nhiều người hiếp một người;
    • Đối với người dưới 10 tuổi;
    • Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối lọa tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỉ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên;
    • Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội;
    • Làm nạn nhân chết hoặc tự sát.

4. Câu hỏi thường gặp

4.1 Hình phạt cao nhất đối với tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi được quy định như thế nào?

Căn cứ Khoản 3 Điều 142 Bộ luật Hình sự 2015, hình phạt cao nhất đối với tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi là tử hình.

4.2 Hình phạt cao nhất đối với tội hiếp dâm được quy định như thế nào?

Căn cứ Khoản 3 Điều 141 Bộ luật Hình sự 2015, hình phạt cao nhất đối với tội hiếp dâm là chung thân.

4.3 Giao cấu với người dưới 13 tuổi có phải là hành vi hiếp dâm không?

Sự đồng ý hay không đồng ý của người bị hiếp dâm là người dưới 13 tuổi không phải là yếu tố cấu thành tội phạm của tội này, do đó, khi thực hiện hành vi giao cấu, kể cả người bị giao cấu là người dưới 13 tuổi đồng ý, người thực hiệ hành vi giao cấu vẫn cấu thành tội hiếp dâm đối với người dưới 16 tuổi.

4.4 Hiếp dâm làm cho nạn nhân chết có mức hình phạt như thế nào?

Trong trường hợp nạn nhân là người dưới 16 tuổi, việc hiếp dâm làm cho nạn nhân chết có thể bị truy tố với khung hình phạt cao nhất là tử hình, trường hợp là người trên 16 tuổi, mức phạt cao nhất là chung thân.