3. Nghĩa vụ thông báo khuyết tật của tài sản tặng cho quy định ra sao?  Nghĩa vụ thông báo khuyết tật của tài sản tặng cho được quy định tại Điều 465 Bộ luật Dân sự năm 2015, nhằm bảo vệ quyền lợi của bên nhận tài sản khi tài sản được tặng cho có khuyết tật ảnh hưởng đến giá trị hoặc công dụng của nó. Cụ thể:  Nghĩa vụ thông báo khuyết tật của tài sản tặng cho: Bên tặng cho có nghĩa vụ thông báo cho bên được tặng cho về các khuyết tật của tài sản mà mình biết hoặc phải biết. Khuyết tật ở đây có thể là về mặt chất lượng, tính năng sử dụng hoặc những vấn đề khác khiến tài sản không thể sử dụng hoặc sử dụng không đạt yêu cầu. Nếu bên tặng cho không thông báo về khuyết tật của tài sản, và bên nhận tài sản phát hiện ra sau khi nhận tài sản, bên tặng cho có thể phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại hoặc thực hiện các nghĩa vụ khác như bảo hành, sửa chữa tài sản hoặc giảm giá trị tài sản cho bên nhận. Trách nhiệm khi không thông báo khuyết tật: Nếu tài sản có khuyết tật mà bên tặng cho không thông báo và bên nhận tài sản bị thiệt hại do khuyết tật đó, bên tặng cho có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bên nhận. Mức bồi thường có thể bao gồm chi phí sửa chữa, khôi phục tài sản hoặc chi phí khác do bên nhận phải bỏ ra để khắc phục khuyết tật của tài sản. Trường hợp bên nhận tài sản biết rõ hoặc có lý do để biết về khuyết tật của tài sản khi nhận, thì bên tặng cho không phải chịu trách nhiệm. Khuyết tật ảnh hưởng đến giá trị hoặc công dụng: Khuyết tật của tài sản cần phải ảnh hưởng trực tiếp đến giá trị sử dụng của tài sản. Nếu khuyết tật không ảnh hưởng đến giá trị sử dụng hoặc chỉ làm giảm một phần công dụng của tài sản mà không đến mức gây thiệt hại lớn cho bên nhận, bên tặng cho không có nghĩa vụ bồi thường. Thời gian thông báo và yêu cầu khắc phục khuyết tật: Bên nhận tài sản có quyền yêu cầu bên tặng cho khắc phục khuyết tật trong thời gian hợp lý sau khi phát hiện ra khuyết tật. Nếu bên tặng cho không thực hiện nghĩa vụ này, bên nhận có thể yêu cầu giảm giá trị tài sản hoặc yêu cầu bồi thường thiệt hại.  Tóm lại, nghĩa vụ thông báo khuyết tật của tài sản tặng cho là một phần quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của bên nhận tài sản. Bên tặng cho có trách nhiệm thông báo về mọi khuyết tật mà mình biết hoặc phải biết, và nếu không thông báo, sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bên nhận.
Nghĩa vụ thông báo khuyết tật của tài sản tặng cho quy định ra sao?

1. Nghĩa vụ thông báo khuyết tật của tài sản tặng cho quy định ra sao?

Nghĩa vụ thông báo khuyết tật của tài sản tặng cho được quy định tại Điều 465 Bộ luật Dân sự năm 2015, nhằm bảo vệ quyền lợi của bên nhận tài sản khi tài sản được tặng cho có khuyết tật ảnh hưởng đến giá trị hoặc công dụng của nó. Cụ thể:

  • Nghĩa vụ thông báo khuyết tật của tài sản tặng cho:
    • Bên tặng cho có nghĩa vụ thông báo cho bên được tặng cho về các khuyết tật của tài sản mà mình biết hoặc phải biết. Khuyết tật ở đây có thể là về mặt chất lượng, tính năng sử dụng hoặc những vấn đề khác khiến tài sản không thể sử dụng hoặc sử dụng không đạt yêu cầu.
    • Nếu bên tặng cho không thông báo về khuyết tật của tài sản, và bên nhận tài sản phát hiện ra sau khi nhận tài sản, bên tặng cho có thể phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại hoặc thực hiện các nghĩa vụ khác như bảo hành, sửa chữa tài sản hoặc giảm giá trị tài sản cho bên nhận.
  • Trách nhiệm khi không thông báo khuyết tật:
    • Nếu tài sản có khuyết tật mà bên tặng cho không thông báo và bên nhận tài sản bị thiệt hại do khuyết tật đó, bên tặng cho có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bên nhận. Mức bồi thường có thể bao gồm chi phí sửa chữa, khôi phục tài sản hoặc chi phí khác do bên nhận phải bỏ ra để khắc phục khuyết tật của tài sản.
    • Trường hợp bên nhận tài sản biết rõ hoặc có lý do để biết về khuyết tật của tài sản khi nhận, thì bên tặng cho không phải chịu trách nhiệm.
  • Khuyết tật ảnh hưởng đến giá trị hoặc công dụng:
    • Khuyết tật của tài sản cần phải ảnh hưởng trực tiếp đến giá trị sử dụng của tài sản. Nếu khuyết tật không ảnh hưởng đến giá trị sử dụng hoặc chỉ làm giảm một phần công dụng của tài sản mà không đến mức gây thiệt hại lớn cho bên nhận, bên tặng cho không có nghĩa vụ bồi thường.
  • Thời gian thông báo và yêu cầu khắc phục khuyết tật:
    • Bên nhận tài sản có quyền yêu cầu bên tặng cho khắc phục khuyết tật trong thời gian hợp lý sau khi phát hiện ra khuyết tật. Nếu bên tặng cho không thực hiện nghĩa vụ này, bên nhận có thể yêu cầu giảm giá trị tài sản hoặc yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Tóm lại, nghĩa vụ thông báo khuyết tật của tài sản tặng cho là một phần quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của bên nhận tài sản. Bên tặng cho có trách nhiệm thông báo về mọi khuyết tật mà mình biết hoặc phải biết, và nếu không thông báo, sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bên nhận.

2. Hợp đồng tặng cho tài sản cần đảm bảo những điều kiện gì để có giá trị pháp lý?

Hợp đồng tặng cho tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên nhận tặng mà không yêu cầu đền bù. Để hợp đồng tặng cho tài sản có giá trị pháp lý, cần đảm bảo các điều kiện sau:

  • Sự tự nguyện của các bên:
    Cả bên tặng cho và bên nhận tặng cho phải tự nguyện tham gia ký kết hợp đồng, không bị ép buộc hoặc lừa dối. Hợp đồng tặng cho tài sản không hợp lệ nếu có dấu hiệu của sự ép buộc, gian dối hoặc lừa đảo.
  • Có tài sản xác định và quyền sở hữu hợp pháp:
    Tài sản được tặng cho phải là tài sản của bên tặng cho và có quyền sở hữu hợp pháp. Bên tặng cho phải có quyền sở hữu, sử dụng, định đoạt tài sản đó. Nếu tài sản không thuộc quyền sở hữu của bên tặng cho hoặc không có quyền định đoạt, hợp đồng tặng cho sẽ không hợp pháp.
  • Hình thức hợp đồng:
    Hợp đồng tặng cho tài sản phải được lập bằng văn bản nếu là tài sản có giá trị lớn như bất động sản (nhà đất, đất đai). Đối với tài sản có giá trị nhỏ hơn, các bên có thể thỏa thuận bằng lời nói hoặc văn bản, nhưng nếu có tranh chấp, việc có hợp đồng viết sẽ giúp chứng minh thỏa thuận rõ ràng.
  • Quyền và nghĩa vụ của các bên:
    Hợp đồng phải rõ ràng về quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan, đặc biệt là đối với bên tặng cho và bên nhận tặng. Bên tặng cho có nghĩa vụ chuyển giao tài sản, còn bên nhận tặng có quyền nhận tài sản đó. Nếu có điều kiện về việc sử dụng tài sản sau khi nhận, cần ghi rõ trong hợp đồng.
  • Đảm bảo không vi phạm pháp luật:
    Hợp đồng tặng cho tài sản không được vi phạm các quy định của pháp luật, ví dụ như không được tặng cho tài sản mà có hành vi gian lận, trốn thuế, hoặc vi phạm các quy định về quyền sở hữu tài sản. Trong trường hợp tài sản là tài sản cấm hoặc có nguồn gốc không hợp pháp, hợp đồng sẽ bị vô hiệu.
  • Chứng nhận hoặc công chứng (nếu cần thiết):
    Mặc dù không phải tất cả hợp đồng tặng cho tài sản đều yêu cầu công chứng, nhưng đối với các tài sản có giá trị lớn (như nhà cửa, đất đai), hợp đồng tặng cho nên được công chứng để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên và tránh tranh chấp sau này.

Để hợp đồng tặng cho tài sản có giá trị pháp lý, các bên cần đảm bảo các điều kiện trên, từ sự tự nguyện tham gia đến việc có tài sản hợp pháp và thực hiện theo đúng quy định pháp luật. Nếu hợp đồng tặng cho tài sản được lập đúng quy trình, các bên sẽ tránh được rủi ro và bảo vệ quyền lợi của mình một cách hợp pháp.

3. Trách nhiệm do cố ý tặng cho tài sản không thuộc sở hữu của mình quy định ra sao?

Tặng cho tài sản có điều kiện là gì? Quy định tặng cho tài sản
Trách nhiệm do cố ý tặng cho tài sản không thuộc sở hữu của mình quy định ra sao?

Hợp đồng tặng cho tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, còn bên được tặng cho đồng ý nhận. Tại Điều 460 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định trách nhiệm do cố ý tặng cho tài sản không thuộc sở hữu của mình. Theo đó, trường hợp bên tặng cho cố ý tặng cho tài sản không thuộc sở hữu của mình mà bên được tặng cho không biết hoặc không thể biết về việc đó thì bên tặng cho phải thanh toán chi phí để làm tăng giá trị của tài sản cho bên được tặng cho khi chủ sở hữu lấy lại tài sản.

Tại Điều 158 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của luật. Quyền hiếm hữu là việc chủ thể nắm giữ, chi phối tài sản một cách trực tiếp hoặc gián tiếp như chủ thể có quyền đối với tài sản. Quyền sử dụng là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản. Quyền định đoạt là quyền chuyển giao quyền sở hữu tài sản, từ bỏ quyền sở hữu, tiêu dùng hoặc tiêu hủy tài sản. Như vậy, người có quyền sở hữu tài sản có quyền định đoạt với tài sản đó. tặng cho tài sản là quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu đối với tài sản bất kỳ thuộc sở hữu của mình. Việc định đoạt tài sản không thuộc sở hữu của mình sẽ phải chịu trách nhiệm dân sự quy định tại Điều 460 Bộ luật Dân sự năm 2015. Bên tặng cho tài sản phải chịu trách nhiệm khi:

(1) Bên tặng cho cố ý tặng cho tài sản không thuộc sở hữu của mình, đây là trường hợp bên tặng cho biết rõ mình không có quyền với tài sản đó nhưng vẫn mang tặng cho người khác, bên tặng cho không có sự đồng ý của chủ sở hữu mà đem tài sản tặng cho người khác. Nhưng trong trường hợp bên tặng cho ngay tình, tức không biết rằng tài sản không thuộc sở hữu của mình thì không được xem là căn cứ làm phát sinh trách nhiệm dân sự của họ.

(2) Bên được tặng không biết hoặc không thể biết về việc tài sản tặng cho không thuộc sở hữu của bên tặng cho, các chủ thể chỉ được pháp luật bảo vệ khi ngay tình, nếu bên được tặng cho biết rõ bên tặng cho không có quyền đối với tài sản mà vẫn nhận tài sản đó thì họ có trách nhiệm trả lại tài sản cho chủ sở hữu. Tức bên tặng cho không phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình nữa. Nếu thỏa mãn hai điều kiện trên bên tặng cho có trách nhiệm phải thanh toán chi phí để làm tăng giá trị của tài sản cho bên được tặng cho khi chủ sở hữu lấy lại tài sản. Khi được tặng cho tài sản, bên được tặng cho có thể sửa chữa, đầu tư làm tăng giá trị của tài sản. Công việc đó có thể làm phát sinh một khoản chi phí nhất định.

Điều 460. Trách nhiệm do cố ý tặng cho tài sản không thuộc sở hữu của mình

Trường hợp bên tặng cho cố ý tặng cho tài sản không thuộc sở hữu của mình mà bên được tặng cho không biết hoặc không thể biết về việc đó thì bên tặng cho phải thanh toán chi phí để làm tăng giá trị của tài sản cho bên được tặng cho khi chủ sở hữu lấy lại tài sản.

4. Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất có phải công chứng không?

MỘT SỐ ĐIỀU CẦN VIẾT VỀ HỢP ĐỒNG TẶNG CHO TÀI SẢN

Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất có phải công chứng không

Công chức hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất được quy định tại khoản 3 Điều 27 Luật Đất đai 2024 quy định như sau:

Quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất

...

3. Việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện các quyền của người sử dụng đất được thực hiện như sau:

a) Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản này;

b) Hợp đồng cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp; hợp đồng chuyển nhượng, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, tài sản gắn liền với đất mà một bên hoặc các bên tham gia giao dịch là tổ chức hoạt động kinh doanh bất động sản được công chứng hoặc chứng thực theo yêu cầu của các bên;

c) Văn bản về thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật về dân sự;

d) Việc công chứng, chứng thực thực hiện theo quy định của pháp luật về công chứng, chứng thực.

Như vậy, hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực.

5. Những câu hỏi thường gặp

5.1. Trong trường hợp tài sản tặng cho có khuyết tật, bên tặng cho có nghĩa vụ thông báo hay bồi thường thiệt hại cho bên nhận tài sản hay không?

Theo quy định tại Điều 465 Bộ luật Dân sự năm 2015, bên tặng cho tài sản có nghĩa vụ thông báo cho bên nhận về các khuyết tật của tài sản mà mình biết hoặc phải biết. Nếu bên tặng cho không thông báo về khuyết tật và bên nhận phát hiện sau khi nhận tài sản, bên tặng cho có thể phải bồi thường thiệt hại hoặc chịu trách nhiệm sửa chữa tài sản, làm tăng giá trị tài sản cho bên nhận nếu khuyết tật ảnh hưởng đến giá trị hoặc công dụng của tài sản.

5.2. Khi tài sản tặng cho không thuộc sở hữu của bên tặng cho, bên tặng cho sẽ phải chịu trách nhiệm như thế nào theo quy định của pháp luật?

Nếu tài sản tặng cho không thuộc sở hữu của bên tặng cho, theo Điều 460 Bộ luật Dân sự năm 2015, bên tặng cho sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Nếu bên tặng cho cố ý tặng cho tài sản không thuộc sở hữu của mình mà bên nhận không biết, bên tặng cho phải thanh toán chi phí để làm tăng giá trị tài sản cho bên nhận khi chủ sở hữu lấy lại tài sản. Tuy nhiên, nếu bên tặng cho không biết tài sản không thuộc sở hữu của mình và bên nhận cũng không biết, thì không phát sinh trách nhiệm đối với bên tặng cho.