Tìm kiếm
Chương VI Bộ luật Tố tụng hình sự 2015: Chứng minh và chứng cứ
| Số hiệu: | 101/2015/QH13 | Loại văn bản: | Luật |
| Nơi ban hành: | Thủ tướng Chính phủ | Người ký: | Nguyễn Sinh Hùng |
| Ngày ban hành: | 27/11/2015 | Ngày hiệu lực: | 01/01/2018 |
| Ngày công báo: | 31/12/2015 | Số công báo: | Từ số 1271 đến số 1272 |
| Lĩnh vực: | Trách nhiệm hình sự, Thủ tục Tố tụng | Tình trạng: | Còn hiệu lực |
TÓM TẮT VĂN BẢN
Bộ luật tố tụng hình sự 2015 vừa được ban hành ngày 27/11/2015 với nhiều quy định mới về cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng hình sự; người tham gia tố tụng HS; bào chữa, bảo về quyền và nghĩa vụ của bị hại, đương sự; biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế;...
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 gồm 9 Phần, 36 Chương, 510 Điều (thay vì Bộ luật Tố tụng Hình sự 2003 gồm 8 Phần, 37 Chương, 346 Điều). Bộ luật TTHS 2015 gồm các Phần sau:
- Những quy định chung
- Khởi tố, điều tra vụ án hình sự
- Truy tố
- Xét xử vụ án hình sự
- Một số quy định về thi hành bản án, quyết định của Tòa án
- Xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật
- Thủ tục đặc biệt
- Hợp tác quốc tế
- Điều khoản thi hành
Bộ luật tố tụng HS 2015 có một số quy định nổi bật sau:
- Điều 73 về quyền và nghĩa vụ của người bào chữa
Người bào chữa có quyền quy định tại Khoản 1 Điều 73 Bộ luật 101/2015/QH13, trong đó có quyền:
+ Gặp, hỏi người bị buộc tội;
+ Có mặt trong hoạt động đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói và hoạt động điều tra khác theo Bộ luật tố tụng hình sự 2015;
+ Xem biên bản về hoạt động tố tụng có sự tham gia của mình, quyết định tố tụng liên quan đến người mà mình bào chữa;
+ Đề nghị tiến hành hoạt động tố tụng theo Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; đề nghị triệu tập người làm chứng, người tham gia tố tụng khác, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;
+ Kiểm tra, đánh giá và trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;
- Điều 78 Bộ luật số 101 tố tụng hình sự 2015 quy định thủ tục đăng ký bào chữa
+ Trong mọi trường hợp tham gia tố tụng, người bào chữa phải đăng ký bào chữa.
+ Khi đăng ký bào chữa, người bào chữa phải xuất trình các giấy tờ:
Luật sư xuất trình Thẻ luật sư kèm theo bản sao có chứng thực và giấy yêu cầu luật sư;
Người đại diện của người bị buộc tội xuất trình CMND hoặc thẻ Căn cước công dân kèm theo bản sao có chứng thực và giấy tờ có xác nhận về mối quan hệ của họ với người bị buộc tội;
Bào chữa viên nhân dân xuất trình CMND hoặc thẻ Căn cước công dân kèm theo bản sao có chứng thực và văn bản cử bào chữa viên nhân dân;
Trợ giúp viên pháp lý, luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý xuất trình văn bản cử người thực hiện trợ giúp pháp lý và Thẻ trợ giúp viên pháp lý hoặc Thẻ luật sư kèm theo bản sao có chứng thực.
- Điều 85 Luật 101/2015/QH13 bổ sung một số vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự gồm:
+ Nguyên nhân và điều kiện phạm tội;
+ Những tình tiết khác liên quan đến việc loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt.
- Quy định dữ liệu điện tử tại Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
+ Dữ liệu điện tử được thu thập từ phương tiện điện tử, mạng máy tính, mạng viễn thông, trên đường truyền và các nguồn điện tử khác.
+ Giá trị chứng cứ của dữ liệu điện tử được xác định căn cứ vào cách thức khởi tạo, lưu trữ hoặc truyền gửi dữ liệu điện tử; cách thức bảo đảm và duy trì tính toàn vẹn của dữ liệu điện tử; cách thức xác định người khởi tạo và các yếu tố phù hợp khác.
- Điều 143 Bộ luật tố tụng hình sự bổ sung căn cứ khởi tố vụ án hình sự:
+ Kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước;
Kiến nghị khởi tố là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiến nghị bằng văn bản và gửi kèm theo chứng cứ, tài liệu liên quan cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có thẩm quyền xem xét, xử lý vụ việc có dấu hiệu tội phạm.
- Khám nghiệm tử thi theo Điều 202 Luật số 101/2015/QH13
Khi khám nghiệm tử thi phải tiến hành chụp ảnh, mô tả dấu vết để lại trên tử thi; chụp ảnh, thu thập, bảo quản mẫu vật phục vụ công tác trưng cầu giám định; ghi rõ kết quả khám nghiệm vào biên bản. Biên bản khám nghiệm tử thi được lập theo Điều 178 Bộ luật TTHS 2015.
- Điều 215 Bộ luật tố tụng HS 2015 quy định yêu cầu định giá tài sản
+ Khi cần xác định giá của tài sản để giải quyết vụ án hình sự, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng ra văn bản yêu cầu định giá tài sản.
+ Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra văn bản yêu cầu định giá tài sản, cơ quan yêu cầu định giá phải giao hoặc gửi văn bản yêu cầu định giá tài sản, hồ sơ, đối tượng yêu cầu định giá tài sản cho Hội đồng định giá tài sản được yêu cầu; gửi văn bản yêu cầu định giá tài sản cho Viện kiểm sát có thẩm quyền thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra.
- Trường hợp áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt tại Điều 224 Bộ luật 101/2015/QH13
Có thể áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt đối với các trường hợp:
+ Tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội phạm về ma túy, tội phạm về tham nhũng, tội khủng bố, tội rửa tiền;
+ Tội phạm khác có tổ chức thuộc loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
- Điều 322 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định việc tranh luận tại phiên tòa
+ Bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác có quyền trình bày ý kiến, đưa ra chứng cứ, tài liệu và lập luận của mình để đối đáp với Kiểm sát viên về những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội; tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; nhân thân và vai trò của bị cáo trong vụ án; những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt; trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp; nguyên nhân, điều kiện phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án.
Bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác có quyền đưa ra đề nghị của mình.
+ Kiểm sát viên phải đưa ra chứng cứ, tài liệu và lập luận để đối đáp đến cùng từng ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa.
Người tham gia tranh luận có quyền đáp lại ý kiến của người khác.
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 có hiệu lực từ ngày 01/07/2016.
Văn bản tiếng việt
Văn bản tiếng anh
Khi điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải chứng minh:
1. Có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội;
2. Ai là người thực hiện hành vi phạm tội; có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý; có năng lực trách nhiệm hình sự hay không; mục đích, động cơ phạm tội;
3. Những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo và đặc điểm về nhân thân của bị can, bị cáo;
4. Tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra;
5. Nguyên nhân và điều kiện phạm tội;
6. Những tình tiết khác liên quan đến việc loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt.
Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định, được dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án.
1. Chứng cứ được thu thập, xác định từ các nguồn:
a) Vật chứng;
b) Lời khai, lời trình bày;
c) Dữ liệu điện tử;
d) Kết luận giám định, định giá tài sản;
đ) Biên bản trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án;
e) Kết quả thực hiện ủy thác tư pháp và hợp tác quốc tế khác;
g) Các tài liệu, đồ vật khác.
2. Những gì có thật nhưng không được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì không có giá trị pháp lý và không được dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án hình sự.
1. Để thu thập chứng cứ, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có quyền tiến hành hoạt động thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật này; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp chứng cứ, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử, trình bày những tình tiết làm sáng tỏ vụ án.
2. Để thu thập chứng cứ, người bào chữa có quyền gặp người mà mình bào chữa, bị hại, người làm chứng và những người khác biết về vụ án để hỏi, nghe họ trình bày về những vấn đề liên quan đến vụ án; đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử liên quan đến việc bào chữa.
3. Những người tham gia tố tụng khác, cơ quan, tổ chức hoặc bất cứ cá nhân nào đều có thể đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử và trình bày những vấn đề có liên quan đến vụ án.
4. Khi tiếp nhận chứng cứ, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử liên quan đến vụ án do những người quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này cung cấp, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải lập biên bản giao nhận và kiểm tra, đánh giá theo quy định của Bộ luật này.
5. Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày lập biên bản về hoạt động điều tra, thu thập, nhận được tài liệu liên quan đến vụ án mà Kiểm sát viên không trực tiếp kiểm sát theo quy định của Bộ luật này thì Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có trách nhiệm chuyển biên bản, tài liệu này cho Viện kiểm sát để kiểm sát việc lập hồ sơ vụ án. Trường hợp do trở ngại khách quan thì thời hạn này có thể kéo dài nhưng không quá 15 ngày. Trong thời hạn 03 ngày, Viện kiểm sát đóng dấu bút lục và sao lưu biên bản, tài liệu lưu hồ sơ kiểm sát và bàn giao nguyên trạng tài liệu, biên bản đó cho Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Việc giao, nhận tài liệu, biên bản được lập biên bản theo quy định tại Điều 133 của Bộ luật này.
Vật chứng là vật được dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội, vật mang dấu vết tội phạm, vật là đối tượng của tội phạm, tiền hoặc vật khác có giá trị chứng minh tội phạm và người phạm tội hoặc có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án.
1. Vật chứng phải được bảo quản nguyên vẹn, không để mất mát, lẫn lộn, hư hỏng. Việc bảo quản vật chứng được thực hiện như sau:
a) Vật chứng cần được niêm phong thì phải niêm phong ngay sau khi thu thập. Việc niêm phong, mở niêm phong được lập biên bản và đưa vào hồ sơ vụ án. Việc niêm phong, mở niêm phong vật chứng được thực hiện theo quy định của Chính phủ;
b) Vật chứng là tiền, vàng, bạc, kim khí quý, đá quý, đồ cổ, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, vũ khí quân dụng phải được giám định ngay sau khi thu thập và phải chuyển ngay để bảo quản tại Kho bạc Nhà nước hoặc cơ quan chuyên trách khác. Nếu vật chứng là tiền, vàng, bạc, kim khí quý, đá quý, đồ cổ lưu dấu vết của tội phạm thì tiến hành niêm phong theo quy định tại điểm a khoản này; vật chứng là vi khuẩn nguy hại, bộ phận cơ thể người, mẫu mô, mẫu máu và các mẫu vật khác của cơ thể người được bảo quản tại cơ quan chuyên trách theo quy định của pháp luật;
c) Vật chứng không thể đưa về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng để bảo quản thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng giao vật chứng đó cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp đồ vật, tài sản hoặc người thân thích của họ hoặc chính quyền địa phương, cơ quan, tổ chức nơi có vật chứng bảo quản;
d) Vật chứng thuộc loại mau hỏng hoặc khó bảo quản thì cơ quan có thẩm quyền trong phạm vi quyền hạn của mình quyết định bán theo quy định của pháp luật và chuyển tiền đến tài khoản tạm giữ của cơ quan có thẩm quyền tại Kho bạc Nhà nước để quản lý;
đ) Vật chứng đưa về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng bảo quản thì cơ quan Công an nhân dân, Quân đội nhân dân, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có trách nhiệm bảo quản vật chứng trong giai đoạn điều tra, truy tố; cơ quan thi hành án dân sự có trách nhiệm bảo quản vật chứng trong giai đoạn xét xử và thi hành án.
2. Người có trách nhiệm bảo quản vật chứng mà để mất mát, hư hỏng, phá hủy niêm phong, tiêu dùng, sử dụng trái phép, chuyển nhượng, đánh tráo, cất giấu, hủy hoại vật chứng của vụ án thì tuỳ tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của luật.
Trường hợp thêm, bớt, sửa đổi, đánh tráo, hủy, làm hư hỏng vật chứng của vụ án nhằm làm sai lệch hồ sơ vụ án thì phải chịu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của luật.
1. Người làm chứng trình bày những gì mà họ biết nguồn tin về tội phạm, về vụ án, nhân thân của người bị buộc tội, bị hại, quan hệ giữa họ với người bị buộc tội, bị hại, người làm chứng khác và trả lời những câu hỏi đặt ra.
2. Không được dùng làm chứng cứ những tình tiết do người làm chứng trình bày nếu họ không thể nói rõ vì sao biết được tình tiết đó.
1. Bị hại trình bày những tình tiết về nguồn tin về tội phạm, vụ án, quan hệ giữa họ với người bị buộc tội và trả lời những câu hỏi đặt ra.
2. Không được dùng làm chứng cứ những tình tiết do bị hại trình bày nếu họ không thể nói rõ vì sao biết được tình tiết đó.
1. Nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự trình bày những tình tiết liên quan đến việc bồi thường thiệt hại do tội phạm gây ra.
2. Không được dùng làm chứng cứ những tình tiết do nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự trình bày nếu họ không thể nói rõ vì sao biết được tình tiết đó.
1. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án trình bày những tình tiết trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ.
2. Không được dùng làm chứng cứ những tình tiết do người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án trình bày nếu họ không thể nói rõ vì sao biết được tình tiết đó.
Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người phạm tội tự thú, đầu thú, người bị bắt, bị tạm giữ trình bày những tình tiết liên quan đến việc họ bị nghi thực hiện tội phạm.
Người tố giác, báo tin về tội phạm trình bày những tình tiết liên quan đến việc họ tố giác, báo tin về tội phạm.
Người chứng kiến trình bày những tình tiết mà họ đã chứng kiến trong hoạt động tố tụng.
1. Dữ liệu điện tử là ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự được tạo ra, lưu trữ, truyền đi hoặc nhận được bởi phương tiện điện tử.
2. Dữ liệu điện tử được thu thập từ phương tiện điện tử, mạng máy tính, mạng viễn thông, trên đường truyền và các nguồn điện tử khác.
3. Giá trị chứng cứ của dữ liệu điện tử được xác định căn cứ vào cách thức khởi tạo, lưu trữ hoặc truyền gửi dữ liệu điện tử; cách thức bảo đảm và duy trì tính toàn vẹn của dữ liệu điện tử; cách thức xác định người khởi tạo và các yếu tố phù hợp khác.
1. Kết luận giám định là văn bản do cá nhân hoặc cơ quan, tổ chức giám định lập để kết luận chuyên môn về những vấn đề được trưng cầu, yêu cầu giám định.
2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân kết luận về vấn đề được trưng cầu, yêu cầu giám định và phải chịu trách nhiệm về kết luận đó.
Nếu việc giám định do tập thể giám định tiến hành thì tất cả thành viên đều ký vào bản kết luận. Trường hợp có ý kiến khác nhau thì mỗi người ghi ý kiến kết luận của mình vào bản kết luận.
3. Trường hợp cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng không đồng ý với kết luận giám định thì phải nêu rõ lý do, nếu kết luận chưa rõ hoặc chưa đầy đủ thì quyết định giám định bổ sung hoặc giám định lại theo thủ tục chung quy định tại Bộ luật này.
4. Kết luận giám định của người được trưng cầu giám định thuộc trường hợp phải từ chối hoặc thay đổi thì không có giá trị pháp lý và không được dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án.
1. Kết luận định giá tài sản là văn bản do Hội đồng định giá tài sản lập để kết luận về giá của tài sản được yêu cầu.
Hội đồng định giá tài sản kết luận giá của tài sản và phải chịu trách nhiệm về kết luận đó.
2. Kết luận định giá tài sản phải có chữ ký của tất cả thành viên Hội đồng định giá tài sản. Trường hợp không đồng ý với giá của tài sản do Hội đồng quyết định thì thành viên của Hội đồng ghi ý kiến kết luận của mình vào bản kết luận.
3. Trường hợp cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng không đồng ý với kết luận định giá tài sản thì phải nêu rõ lý do; nếu kết luận chưa rõ thì quyết định định giá lại theo thủ tục chung quy định tại Bộ luật này.
4. Kết luận định giá của Hội đồng định giá tài sản vi phạm quy định của Bộ luật này, quy định khác của pháp luật về định giá thì không có giá trị pháp lý và không được dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án.
Những tình tiết được ghi trong biên bản về hoạt động kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử được lập theo quy định của Bộ luật này có thể được coi là chứng cứ.
Kết quả thực hiện ủy thác tư pháp và hợp tác quốc tế khác do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cung cấp có thể được coi là chứng cứ nếu phù hợp với chứng cứ khác của vụ án.
Vật chứng phải được thu thập kịp thời, đầy đủ, mô tả đúng thực trạng vào biên bản và đưa vào hồ sơ vụ án. Trường hợp vật chứng không thể đưa vào hồ sơ vụ án thì phải chụp ảnh, có thể ghi hình để đưa vào hồ sơ vụ án. Vật chứng phải được niêm phong, bảo quản theo quy định của pháp luật.
1. Việc xử lý vật chứng do Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra quyết định nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn điều tra; do Viện kiểm sát quyết định nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn truy tố; do Chánh án Tòa án quyết định nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn chuẩn bị xét xử; do Hội đồng xét xử quyết định nếu vụ án đã đưa ra xét xử. Việc thi hành quyết định về xử lý vật chứng phải được ghi vào biên bản.
2. Vật chứng được xử lý như sau:
a) Vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội, vật cấm tàng trữ, lưu hành thì bị tịch thu, nộp ngân sách nhà nước hoặc tiêu hủy;
b) Vật chứng là tiền bạc hoặc tài sản do phạm tội mà có thì bị tịch thu, nộp ngân sách nhà nước;
c) Vật chứng không có giá trị hoặc không sử dụng được thì bị tịch thu và tiêu hủy.
3. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, cơ quan, người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều này có quyền:
a) Trả lại ngay tài sản đã thu giữ, tạm giữ nhưng không phải là vật chứng cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp tài sản đó;
b) Trả lại ngay vật chứng cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp nếu xét thấy không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án và thi hành án;
c) Vật chứng thuộc loại mau hỏng hoặc khó bảo quản thì có thể được bán theo quy định của pháp luật; trường hợp không bán được thì tiêu hủy;
d) Vật chứng là động vật hoang dã và thực vật ngoại lai thì ngay sau khi có kết luận giám định phải giao cho cơ quan quản lý chuyên ngành có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật.
4. Trường hợp có tranh chấp về quyền sở hữu đối với vật chứng thì giải quyết theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
1. Phương tiện điện tử phải được thu giữ kịp thời, đầy đủ, mô tả đúng thực trạng và niêm phong ngay sau khi thu giữ. Việc niêm phong, mở niêm phong được tiến hành theo quy định của pháp luật.
Trường hợp không thể thu giữ phương tiện lưu trữ dữ liệu điện tử thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng sao lưu dữ liệu điện tử đó vào phương tiện điện tử và bảo quản như đối với vật chứng, đồng thời yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan lưu trữ, bảo toàn nguyên vẹn dữ liệu điện tử mà cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã sao lưu và cơ quan, tổ chức, cá nhân này phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.
2. Khi thu thập, chặn thu, sao lưu dữ liệu điện tử từ phương tiện điện tử, mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc trên đường truyền, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng tiến hành phải lập biên bản và đưa vào hồ sơ vụ án.
3. Khi nhận được quyết định trưng cầu giám định của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thì cá nhân, tổ chức có trách nhiệm thực hiện phục hồi, tìm kiếm, giám định dữ liệu điện tử.
4. Việc phục hồi, tìm kiếm, giám định dữ liệu điện tử chỉ được thực hiện trên bản sao; kết quả phục hồi, tìm kiếm, giám định phải chuyển sang dạng có thể đọc, nghe hoặc nhìn được.
5. Phương tiện điện tử, dữ liệu điện tử được bảo quản như vật chứng theo quy định của Bộ luật này. Khi xuất trình chứng cứ là dữ liệu điện tử phải kèm theo phương tiện lưu trữ dữ liệu hoặc bản sao dữ liệu điện tử.
1. Mỗi chứng cứ phải được kiểm tra, đánh giá để xác định tính hợp pháp, xác thực và liên quan đến vụ án. Việc xác định những chứng cứ thu thập được phải bảo đảm đủ để giải quyết vụ án hình sự.
2. Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình phải kiểm tra, đánh giá đầy đủ, khách quan, toàn diện mọi chứng cứ đã thu thập được về vụ án.
ATTESTATION AND EVIDENCE
Article 85. Attestation in criminal lawsuits
Competent procedural authorities, when investing, prosecuting and hearing criminal lawsuits must attest:
1. The existence of the crime, time, space and facts of the crime;
2. The perpetrator of the crime; the presence of guilt, intentional or unintentional acts; the existence of criminal capacity; purposes and motive of the crime;
3. Facts aggravating and mitigating criminal liabilities of suspects, defendants and identity traits of suspects and defendants;
4. Nature and severity of damages caused by the crime;
5. Reasons and conditions leading to the crime;
6. Other facts in connection with the exclusion or exemption of criminal liabilities and impunity.
Evidences are de facto and collected as per the sequence and formalities defined by this Law. Evidences are grounds for the determination of a crime, perpetrators of such crime and other valuable facts for the settlement of the case.
Article 87. Sources of evidences
1. Evidences are collected and determined from these sources:
a) Exhibits;
b) Statements, presentations;
c) Electronic data;
d) Findings of expert examination and valuation;
dd) Records of legal proceedings, investigation, prosecution, adjudication, sentence enforcement;
e) Results of judicial delegation and other international cooperations;
g) Other documents and items.
2. Palpable things not collected as per the sequence and formalities as per this Law bear no legal effect and are not evidences for the settlement of criminal lawsuits.
Article 88. Collection of evidences
1. Competent procedural authorities, to collect evidences, are entitled to perform activities of evidence collection as per this Law, and to request other authorities and entities to provide evidences, documents, items, electronic data and facts that solve the case.
2. Defense counsels, to collect evidences, are entitled to meet persons whom they defend, crime victims, witness testifiers and other individuals knowledgeable about the case to put questions and hear such persons’ stories related to the case; to request authorities and entities to provide documents, items and electronic data for pleading.
3. Other participants in legal proceedings, authorities and entities can provide evidences, documents, items, electronic data and relate matters of the case.
4. Competent procedural authorities, when receiving evidences, documents, items and electronic data related to the case from individuals as stated in Point 2 and Point 3 of this Article, shall make written records of submission, verify and assess such as per this Law.
5. In 05 days’ time upon making written records of investigative activities, collecting and receiving documents on the case, which procurators do not directly administer according to this Law, investigation authorities and units assigned to investigate are responsible for transferring such records and documents to the Procurarcy for the latter’s administration of the establishment of case files. Such deadline may be extended for at most 15 days in case of objective obstacles. In 03 days' time, the Procuracy affixes seal on records and documents for administration and have them archived and transferred to investigation authorities and units assigned to investigate. The delivery of records and documents are executed in writing according to Article 133 of this Law.
Exhibits include tools and means of crimes, objects with criminal traces, criminals' targets, money or other items as satisfactory evidences of crimes and malefactors or of significance to the settlement of cases.
Article 90. Preservation of exhibits
1. Exhibits must be preserved intact and protected from loss, disorder and deterioration. Exhibits are preserved as follows:
a) Sealing of exhibits that must be stored in sealed containers shall be done upon the acquisition of such items. Sealing and removal of seal are executed in writing and inputted in case files. Sealing and removal of seal on exhibits abide by the government's regulations;
b) Exhibits including money, gold, silver, precious metals, precious stones, antiques, explosives, inflammables, toxic, radioactive substances and military arms must undergo expert examination upon the acquisition of such items and must be subsequently transferred in prompt manner to the State Treasury or specialized units for storage. If exhibits are money, gold, silver, precious metals, precious stones and antiques with criminal traces, they shall be put in sealed containers as per Point a of this Section. If exhibits are harmful bacteria, body parts, tissue samples, blood samples and other samples from human body, they shall be preserved at specialized authorities according to the laws.
c) If exhibits cannot be transported to competent procedural authorities for preservation, competent procedural authorities shall give them to lawful owners or managers of such items or to their kindred or to local authorities or organizations adjacent to the said exhibits;
d) If exhibits are susceptible to damage or subject to difficult process of preservation, competent authorities within their powers shall sanction the sale of such items as per the laws and transfer earnings to a temporary account of a competent authority in the State Treasury for management;
dd) If exhibits are preserved by competent procedural authorities, the units in people's police force, People’s Army force and other units assigned to investigate are responsible for preserving such exhibits during the stage of investigation and prosecution while authorities for civil sentence enforcement are liable for preserving them during the stage of adjudication and sentence enforcement.
2. If individuals liable for preserving exhibits brook damage, loss, breakage of seal, consumption, illegal use, transfer, swap, concealment or destruction of such exhibits, disciplinary penalties or criminal prosecution shall be imposed according to the nature and severity of violations as per the laws.
If exhibits are inserted, dwindled, modified, swapped, disposed or broken to falsify case files, criminal liabilities shall be imposed. Amends for damage of exhibits are mandatory as per the laws.
Article 91. Deposition by witness testifiers
1. Witness testifiers depose their knowledge of the crimes, cases, kin and their relationship with accused persons or aggrieved, other witness testifiers and respond to questions.
2. If witness testifiers state facts whose origin cannot be clarified, such facts shall not become evidence.
Article 92. Deposition by crime victims
1. Crime victims depose the facts on the crimes, cases, their relationship with accused persons and respond to inquiries.
2. If circumstances leading to crime victims’ knowledge of certain facts cannot be clarified, such facts shall not be deemed as evidence.
Article 93. Deposition by civil plaintiffs and civil defendants
1. Civil plaintiffs and civil defendants state facts on amends for damage caused by crimes.
2. If civil plaintiffs or civil defendants fail to clarify situations leading to their knowledge of certain facts, such facts shall not be considered as evidence.
Article 94. Deposition by individuals having interests and duties related to the lawsuit
1. Individuals having duties and interests in connection with the lawsuit state facts directly related to their duties and benefits.
2. If such individuals fail to explain the origin of their acquisition of certain facts, such facts shall not be qualified as evidence.
Article 95. Deposition by emergency detainees, accused persons or facing requisitions for charges, offenders confessing or surrendering, arrestees and temporary detainees
Emergency detainees, accused persons and facing requisitions for charges, offenders confessing and surrendering, arrestees and temporary detainees state facts directly related to their alleged acts of crime.
Article 96. Statements by denouncers and informants
Denouncers and informants state facts related to their denunciation and information of the crimes.
Article 97. Deposition by witnesses
Witnesses state facts that they perceive from legal proceedings.
Article 98. Deposition by suspects and defendants
1. Suspects and defendants state facts of the cases.
2. The admission of crimes by suspects or defendants, if matching other evidences, shall be valid evidence.
The admission of crimes by suspects or defendants shall not be the sole evidence for conviction.
1. Electronic data is composed of signals, letters, numbers, images, sound or similar elements created, stored and transmitted or acquired through electronic media.
2. Electronic data is collected through electronic media, computer networks, telecommunication networks, transmission lines and other electronic sources.
3. Electronic data constitutes evident values according to the methods of its creation, storage or transmission; the methods for assurance and maintenance of the entirety of electronic data; and the methods for identifying creators and other proper factors.
Article 100. Results of expert examination
1. Results of a expert examination are produced by entities conducting such examination in writing to give final professional findings on matters examined as per requisition or petition.
2. Authorities and entities are held liable for conclusions they have made regarding matters examined as per requisition or petition.
If a team of expert witnesses carry out a expert examination, all of its members shall affix signatures on the final report. Each person, if providing different opinions, shall have their findings presented in the final report.
3. If competent procedural authorities disagree with the results of a expert examination, their reasons must be specified. If results are found unclear or inadequate, expert examinations shall be furthered or repeated according to this Law.
4. Findings given by expert witnesses who must decline to perform examinations or submit to replacement shall be deemed null and invalid for the settlement of the case.
Article 101. Results of valuation
1. Results of valuation are produced by the Panel of valuation in writing to conclude values of property as per requests.
The Panel of valuation is held liable for its findings on property values.
2. All members of the Panel of valuation must affix signatures on the written conclusion of valuation. A member of the Panel, if debating property values determined by the Panel, shall present his findings in the final report.
3. If competent procedural authorities disagree with the findings on valuation, their reasons must be specified. If findings are found obscure, valuation process shall be repeated according to this Law.
4. If findings from the Panel of valuation violate this Law or other laws, they shall be invalid and not usable for the settlement of the case.
Article 102. Records of inspection and verification of criminal information, charges, investigations, prosecution, adjudication
The facts on inspection and verification of criminal information, charges, investigations, prosecution and adjudication, which are established and recorded in writing according to this Law, shall be evidences.
Article 103. Results of legal delegation and international cooperation
The results of legal delegation and international cooperation from competent foreign authorities, if matching other evidences, shall become evidences.
Article 104. Other documents and items in the case
Case facts available in documents and items from authorities and entities may become evidences. If such documents and items possess traits as defined in Article 89 of this Law, they shall be exhibits.
Article 105. Acquisition of exhibits
Exhibits must be acquired promptly and fully and their actual conditions must be described precisely in writing and in case files. If exhibits cannot be put in case files, they shall be photographed and recorded by camcorder to be stored in case files. Exhibits must be sealed or preserved as per the laws.
Article 106. Handling of exhibits
1. Investigation authorities and units assigned to investigate make decisions on the handling of exhibits if the case is dismissed at the stage of investigation. The procuracy decides the handling of exhibits if the case is dismissed at the stage of prosecution. The court president governs the handling of exhibits if the case if dismissed at the preliminary stage of adjudication. The Trial panel make decisions on the handling of exhibits if the case is heard.
The enforcement of decisions on the handling of exhibits must be executed in writing.
2. Exhibits are handled as follows:
a) Exhibits including tools or means of crime, objects prohibited from storage and trading shall be seized, confiscated into the state budget or disposed;
b) Exhibits including money or property gained through criminal acts shall be seized and confiscated into the state budget.
c) Exhibits that are not valuable and usable shall be seized and disposed.
3. During the processes of investigation, prosecution and adjudication, the competent authorities and individuals as stated in Section 1 are entitled to
a) Return property seized and detained but not deemed as evidences to legitimate owners or managers of such in promptly manner;
b) Return evidences to legitimate owners or managers if such return is deemed not to affect the settlement of the case and the enforcement of sentences;
c) Evidences susceptible to damage or subject to strenuous preservation may be sold as per the laws. If they are not salable, disposal shall occur;
d) Evidences including wild animals and exotic plants shall be handled by competent specialized control units immediately after the release of findings of expert examinations as per the laws.
4. If disputes over the ownership of exhibits exist, the settlement of such shall be governed by the Civil procedure code.
Article 107. Acquisition of electronic means and data
1. Electronic media must be obtained promptly and fully, described precisely by actual conditions and sealed upon acquisition. Sealing and unsealing shall abide by the laws.
If electronic data storing means cannot be seized, competent procedural authorities shall copy electronic data into another electronic medium for storage of evidence. Moreover, relevant authorities and entities shall be requested to store and preserve the entirety of electronic data that competent procedural authorities have copied, and assume legal liabilities for storage and preservation of such data.
2. Competent procedural authorities, when attaining, intercepting and copying electronic data from electronic media, computer networks or transmission lines, must execute written records for case files.
3. Upon receiving competent procedural authorities’ requisition for expert examination, entities deemed responsible shall restore, search and examine electronic data.
4. Only copies of electronic data shall be restored, sought and examined. Results from restoration, search and expert examination must be converted to readable, audible or visible formats.
5. Electronic media and data are preserved as evidences according to this Law. Electronic data, when displayed as evidences, must come with its storage means or copies.
Article 108. Inspection and evaluation of evidences
1. Each evidence must be inspected and evaluated to verify its validity, authenticity and connection with the case. The verification of evidences acquired must be adequate to settle criminal cases.
2. Authorized procedural persons within their powers and duties must inspect and evaluate all evidences of the case in fully, unbiased and thorough manners.
Văn bản liên quan
Cập nhật
Điều 155. Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại
Điều 157. Căn cứ không khởi tố vụ án hình sự
Điều 268. Thẩm quyền xét xử của Tòa án
Điều 285. Viện kiểm sát rút quyết định truy tố
Điều 367. Thủ tục xem xét bản án tử hình trước khi thi hành
Điều 401. Thời hạn kháng nghị theo thủ tục tái thẩm
Ðiều 419. Áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế
Điều 447. Điều kiện và thẩm quyền áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh
Điều 57. Người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố
Điều 58. Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt
Điều 65. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án
Điều 73. Quyền và nghĩa vụ của người bào chữa
Điều 75. Lựa chọn người bào chữa
Điều 76. Chỉ định người bào chữa
Điều 78. Thủ tục đăng ký bào chữa
Điều 80. Gặp người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đang bị tạm giam
Điều 83. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố
Điều 84. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự
Điều 148. Tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố
Điều 241. Áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế
Điều 278. Áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế
Điều 347. Áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế
Điều 133. Chương trình an toàn, vệ sinh lao động
Mục 4. LAO ĐỘNG LÀ NGƯỜI KHUYẾT TẬT
Điều 41. Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát
Điều 42. Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên
Điều 110. Giữ người trong trường hợp khẩn cấp
Điều 125. Hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp ngăn chặn
Điều 156. Thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự
Điều 169. Chuyển vụ án để điều tra
Điều 173. Thời hạn tạm giam để điều tra
Điều 180. Thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can
Điều 228. Hủy bỏ việc áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt
Điều 236. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố
Điều 238. Giao, nhận hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra
Điều 246. Giải quyết yêu cầu điều tra bổ sung của Tòa án
Điều 368. Thủ tục xét tha tù trước thời hạn có điều kiện
Điều 433. Khởi tố bị can, thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố bị can đối với pháp nhân
Điều 443. Tạm đình chỉ điều tra, đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án, đình chỉ bị can, bị cáo
Điều 457. Quyết định áp dụng thủ tục rút gọn
Bài viết liên quan
Hành vi chống đối CSGT có thể bị đi tù theo luật mới nhất 2025?
Hành vi chống đối CSGT có thể bị đi tù theo luật mới nhất 2025?
Thời gian gần đây, nhiều vụ việc người dân có hành vi chống đối, lăng mạ, thậm chí hành hung Cảnh sát giao thông (CSGT) khi bị kiểm tra, xử lý vi phạm đang có xu hướng gia tăng và gây bức xúc trong dư luận. Không ít người cho rằng đây chỉ là hành vi vi phạm hành chính và sẽ chỉ bị xử phạt tiền. Tuy nhiên, theo quy định mới nhất của Bộ luật Hình sự năm 2025, tùy tính chất, mức độ vi phạm, hành vi chống đối CSGT có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự với mức án lên đến nhiều năm tù giam. Bài viết dưới đây sẽ làm rõ các trường hợp người vi phạm có thể bị đi tù khi chống đối lực lượng CSGT theo quy định pháp luật mới nhất. 27/05/2025Tội làm chết người trong khi thi hành công vụ hình phạt cao nhất là bao nhiêu năm?
Tội làm chết người trong khi thi hành công vụ hình phạt cao nhất là bao nhiêu năm?
Trong quá trình thực thi công vụ, đặc biệt là các nhiệm vụ liên quan đến cưỡng chế, bắt giữ hoặc trấn áp hành vi vi phạm pháp luật, người thi hành công vụ buộc phải sử dụng quyền hạn được pháp luật trao cho. Tuy nhiên, nếu vượt quá giới hạn cần thiết và gây hậu quả nghiêm trọng như làm chết người, thì hành vi đó có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Vậy, trong trường hợp người thi hành công vụ gây ra cái chết cho người khác, hình phạt cao nhất theo quy định pháp luật hiện hành là bao nhiêu năm tù? Bài viết dưới đây sẽ làm rõ tội danh này theo quy định của Bộ luật Hình sự hiện hành, cập nhật đến năm 2025. 27/05/2025Mức phạt đối với hành vi chống người thi hành công vụ theo luật hình sự mới nhất 2025
Mức phạt đối với hành vi chống người thi hành công vụ theo luật hình sự mới nhất 2025
Hành vi chống người thi hành công vụ là một trong những vi phạm nghiêm trọng gây ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội và cản trở hoạt động thực thi pháp luật. Với mục tiêu tăng cường tính răn đe và bảo vệ người đang thực hiện nhiệm vụ theo quy định pháp luật, Bộ luật Hình sự năm 2025 đã có những sửa đổi, bổ sung quan trọng liên quan đến tội danh này. Bài viết dưới đây sẽ phân tích cụ thể mức phạt đối với hành vi chống người thi hành công vụ theo quy định mới nhất, đồng thời cung cấp những lưu ý pháp lý quan trọng để người dân hiểu rõ và tuân thủ pháp luật. 06/06/2025Bị đánh có kiện được không? Cách bảo vệ quyền lợi theo luật mới nhất 2025
Bị đánh có kiện được không? Cách bảo vệ quyền lợi theo luật mới nhất 2025
Khi bị đánh gây tổn thương về thể chất hoặc tinh thần, nhiều người đặt câu hỏi liệu mình có quyền kiện để bảo vệ quyền lợi hay không. Theo quy định pháp luật mới nhất năm 2025, việc bảo vệ quyền lợi của người bị hại không chỉ được pháp luật thừa nhận mà còn được bảo vệ một cách rõ ràng, cụ thể qua các thủ tục tố tụng hình sự và dân sự. Việc hiểu rõ quyền và cách thức bảo vệ sẽ giúp người bị hại có thể kịp thời yêu cầu cơ quan chức năng can thiệp, xử lý hành vi vi phạm, đồng thời đảm bảo quyền lợi của bản thân được bảo vệ đúng pháp luật. 31/05/2025Mẫu biên bản bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp mới nhất 2025 chuẩn quy định
Mẫu biên bản bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp mới nhất 2025 chuẩn quy định
Biên bản bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp là văn bản pháp lý được lập ngay khi cơ quan chức năng thực hiện việc giữ người theo quy định của pháp luật. Việc lập biên bản phải tuân thủ đúng quy trình, ghi rõ lý do, thời gian và các nội dung liên quan để đảm bảo tính hợp pháp và minh bạch theo quy định mới nhất năm 2025. 31/05/2025Mẫu biên bản bắt người bị truy nã chuẩn pháp lý mới nhất 2025
Mẫu biên bản bắt người bị truy nã chuẩn pháp lý mới nhất 2025
Biên bản bắt người bị truy nã là văn bản pháp lý quan trọng, được lập ngay khi cơ quan chức năng bắt giữ người đang trong tình trạng bị truy nã theo quy định của pháp luật. Việc lập biên bản này phải đảm bảo đầy đủ các nội dung theo mẫu chuẩn do cơ quan có thẩm quyền quy định, nhằm ghi nhận chính xác diễn biến, tình tiết và căn cứ pháp lý bắt người. Mẫu biên bản được cập nhật mới nhất năm 2025 nhằm phù hợp với các quy định hiện hành, giúp đảm bảo tính hợp pháp, minh bạch và hiệu quả trong công tác bắt giữ, xử lý người bị truy nã. 31/05/2025Công an tạm giữ người quá 3 ngày có đúng quy định không?
Công an tạm giữ người quá 3 ngày có đúng quy định không?
Theo quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, thời hạn tạm giữ người của cơ quan công an tối đa là 3 ngày kể từ thời điểm bắt hoặc nhận người bị tạm giữ. Trong trường hợp cần thiết, cơ quan điều tra có thể đề nghị Viện kiểm sát phê chuẩn để gia hạn thêm tối đa 3 ngày. Tuy nhiên, việc gia hạn này phải được Viện kiểm sát đồng ý và ra quyết định hợp pháp trong thời gian quy định. Nếu công an tạm giữ người quá 3 ngày mà không có quyết định gia hạn từ Viện kiểm sát thì hành vi này được xem là vi phạm pháp luật, xâm phạm quyền tự do cá nhân của người bị tạm giữ. Do đó, việc tạm giữ phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về thời gian nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. 31/05/2025Thời điểm lập biên bản phạm tội quả tang theo luật mới nhất 2025 là khi nào?
Thời điểm lập biên bản phạm tội quả tang theo luật mới nhất 2025 là khi nào?
Việc lập biên bản phạm tội quả tang là bước đầu quan trọng trong quá trình xử lý các hành vi vi phạm pháp luật hình sự. Theo quy định mới nhất của pháp luật năm 2025, thời điểm lập biên bản phải được thực hiện kịp thời ngay khi phát hiện hành vi phạm tội hoặc ngay sau khi hành vi đó vừa xảy ra và bị phát hiện. Điều này không chỉ giúp đảm bảo tính pháp lý, minh bạch trong quá trình bắt giữ mà còn góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan. 31/05/2025Ai được phép bắt người phạm tội quả tang theo luật hình sự mới nhất 2025?
Ai được phép bắt người phạm tội quả tang theo luật hình sự mới nhất 2025?
Việc bắt người phạm tội quả tang là một trong những biện pháp quan trọng giúp ngăn chặn kịp thời hành vi vi phạm pháp luật và bảo vệ an ninh trật tự xã hội. Theo quy định của Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự mới nhất năm 2025, không chỉ cơ quan công an mà ngay cả người dân cũng có quyền bắt người phạm tội quả tang trong những trường hợp cụ thể. Tuy nhiên, quyền bắt giữ này phải được thực hiện đúng trình tự, đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ theo quy định pháp luật nhằm tránh các hành vi lạm dụng hoặc vi phạm quyền con người. 31/05/2025Mẫu biên bản bắt người phạm tội quả tang chuẩn pháp lý mới nhất 2025
