Top 5 mẫu Vẽ hoặc Cảm nhận về hình tượng hạc vàng bay đi trong Hoàng Hạc Lâu (2024) SIÊU HAY

Vẽ hoặc Cảm nhận về hình tượng hạc vàng bay đi trong Hoàng Hạc Lâu lớp 12 Chân trời sáng tạo gồm dàn ý và 5 bài văn mẫu hay nhất, chọn lọc giúp học sinh viết bài tập làm văn lớp 12 hay hơn.

1 100 lượt xem


Vẽ hoặc Cảm nhận về hình tượng hạc vàng bay đi trong Hoàng Hạc Lâu

Đề bài: Vẽ hoặc Cảm nhận về hình tượng hạc vàng bay đi trong Hoàng Hạc Lâu

Vẽ hoặc Cảm nhận về hình tượng hạc vàng bay đi trong Hoàng Hạc Lâu (mẫu 1)

"Trước mắt có cảnh nói không được,

Vì thơ Thôi Hiệu ở trên đầu"

Đó là hai câu thơ của Lý Bạch nói vì sao mình không làm thơ để vịnh lầu Hoàng Hạc. Lý Bạch là một trong những nhà thơ cự phách đời Đường. Hai câu thơ trên cho thấy "thi tiên" Lý Bạch là một con người cực kì khiêm nhường, đồng thời khẳng định "Hoàng Hạc lâu " của Thôi Hiệu là một áng thơ kiệt tác.

Nguyên tác là thơ thất ngôn bát cú. Thi sĩ Tản Đà sáng tạo dịch thành thơ lục bát. Nhiều nhà thơ Việt Nam đã thử bút dịch bài thơ này, nhưng theo ý kiến của Xuân Diệu thì bản dịch của Tản Đà là xuất sắc hơn cả.

Lầu Hoàng Hạc

Hạc và ngai cưỡi đi dâu,

Mà đây Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ.

Hạc vàng đi mất từ xưa!

Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay

Hán Dương sông tạnh cây bày,

Bãi xa Anh Vũ xanh dày cỏ non.

Quê hương khuất bóng hoàng hôn,

Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai?

Tản Đà dịch

Lầu Hoàng Hạc là một thắng cảnh ở Vũ Xương thuộc tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc. Lầu đẹp, cảnh nên thơ, lại được bao phủ bằng một lớp sương mờ huyền thoại, nên càng trở nên hấp dẫn. Tương truyền Phí Văn Vi, tu tiên đắc đạo, thường cưỡi hạc vàng đến đây chơi. Có biết bao tao nhân mặc khách đã đến thăm lầu, ngoạn cảnh và đề thơ. Thôi Hiệu chỉ để lại gần 40 bài thơ, nhưng chỉ có "Hoàng Hạc lâu" là được truyền tụng hơn cả.

Dào dạt qua những vần thơ là cảm hứng hoài cổ của một thi nhân, du khách. Hai câu đầu, thi hứng khơi nguồn từ chuyện "Hạc vàng " trong huyền thoại, từ đó nói lên sự xúc động đến ngạc nhiên khi nhà thơ nhìn thấy lầu xưa. Lầu đứng chơvơ. Mái lầu như chìm trong tĩnh mịch, hoang sơ. Bao hoài niệm về "tích nhân" về Hoàng Hạc dâng lên dạt dào, man mác:

"Hạc vàng ai cưỡi đi đâu,

Mà đây Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ".

Niềm thương nhớ cảm hoài một lúc một dâng cao. Hạc vàng cùng tiên đã bay đi, chẳng bao giờ trở lại nữa "nhất khứ bất phục phản Như ngẩn ngơ! Như chìm đi trong mộng tưởng. Như man mác một mối sầu thương. Nhìn mây trắng phủ trên mái lầu vàng, lơ lửng bay trên bầu trời xanh (bạch vân... du du), nhà thơ như sực tỉnh:

"Hạc vàng đi mất từ xưa!

Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay"

"Hạc vàng" với "mây trắng", quá khứ với hiện tại, cái mất đi từ nghìn xưa với cái hữu hình "còn bay"... hô ứng nhau, đối ứng nhau, tạo nên những vần thơ đẹp vô cùng gợi cảm. Trong phần "đề" và "thực" của bài thơ, ba từ "Hoàng hạc "ba lần xuất hiện trên cái nền "mây trắng ngàn năm bay chơi vơi " (câu thơ dịch của Khương Hữu Dụng); màu sắc hài hòa tuyệt đẹp làm gợi lên một cảnh quan mỹ lệ nên thơ. Đặc biệt câu thơ thứ 4 "Hoànghạc nhất khứ hất phục phản" gồm 6 thanh trắc xuất hiện liên tiếp, luật bằng trắc của thơ Đường bị phá cách. Âm hưởng câu thơ như bị "thắt " lại nhằm biểu hiện cái cảm giác ngẩn ngơ, bâng khuâng, tiếc nuối của du khách khi ngắm lầu vàng. Ngòi bút của Thôi Hiệu rất điêu luyện trong phối thanh hòa sắc để tạo nên những vần thơ đẹp "thi trung hữu họa, thi trung hữu cầm " cho ta nhiều rung cảm.

Ngắm trời xanh, mây trắng, lầu vàng, mỗi bước chân của thi nhân như dẫn hồn mình phiêu du vào thế giới thần tiên, mộng ảo. Rồi nhà thơ bâng khuâng đưa mắt ra bốn phía, ra chân trời xa. Mặt sông lúc trời tạnh, sáng trong như tấm gương phản chiếu cây cối vùng Hán Dương rõ mồn một,cỏ thơm trên bãi Anh Vũ mơn mởn xanh tươi. Cảnh vật sông nước, cỏ cây như chan chứa xuân sắc, xuân tình. Hai câu luận được cấu trúc đăng đối hài hòa, cặp từ láy "lịch lịch - thê thê " là hai nét vẽ tinh tế khắc họa cái "hồn " của cảnh trí non sông. Ngòi bút của Thôi Hiệu đã làm sống dậy cỏ cây thiên nhiên bằng đường nét và gam màu tươi sáng nhiều ấn tượng:

"Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ,

Phương thảo thê thê Anh Vũ châu"

Trải qua trên 1200 năm, không biết đích xác Thôi Hiệu đã đến chơi lầu Hoàng Hạc vào thời gian cụ thể nào, nhưng qua hình ảnh "tình xuyên lịch lịch... " và "phương thảo thê thê", người đọc cảm nhận được đó là một mùa xuân đẹp, thanh bình. Câu thơ như một bức tranh thủy mặc, đường nét xa-gần, đậm-nhạt, màu sắc trong và dịu, tinh tế và biểu cảm. Câu thơ dịch của Tản Đà thật vô cùng linh diệu, nó làm tái hiện lại "điệu Đường", "hồn Đường" trong nguyên tác:

"Hán Dương sông tạnh cây bày,

Bãi xa Anh Vũ xanh dày cỏ non"

Thi nhân đứng một mình trên lầu cao. Trời đã về chiều. Lầu Hoàng Hạc mờ dần trong bóng hoàng hôn. Lòng man mác sầu thương. Du khách nhìn mãi... nhìn mãi... khắp bốn phía chân trời, vẫn chẳng thấy quê hương mình ở đâu: "Nhật mộhương quan hà xứ thị? ".Câu hỏi tu từ khơi gợi bao nỗi niềm nao nao, bâng khuâng. Người đọc như hòa điệu, đồng cảm với nỗi u hoài, thương nhớ quê hương của nhà thơ:

"Quê hương khuất bóng hoàng hôn,

Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai?"

"Trên sông khói sóng" (Yên ba giang thượng) là một hình ảnh đầy thi vị, huyền ảo, gợi tả cảnh sông nước phủ mờ sương khói lúc hoàng hôn. Câu thơ tả ít mà gợi nhiều. Một nỗi buồn thương thấm thìa. Một tình quê vơi đầy lâng lâng. Hình ảnh ấy, thi liệu ấy đã được tái tạo, được nhập thân vào hồn thơ dân tộc ta, làm nên vẻ đẹp phong vị Đường thi cổ kính, hoa lệ:

"Lòng quê dợn dợn vời con nước

Không khói hoànghôn cũng nhớ nhà"

("Tràng Giang" - Huy Cận)

"Yên ba thâm xứ đàm quân sự... "

("Nguyên tiêu" - Hồ Chí Minh)

Thơ Đường rất gần gũi và quen thuộc với nhân dân ta. Nó là món ăn tinh thần của các nhà nho, các nhà thơ Việt Nam. Phần lớn các bài thơ kiệt tác của văn học trung đại dân tộc ta đều được sáng tạo theo thi pháp Đường thi - dân tộc hóa, tạo nên bản sắc Việt Nam.

Bài thơ "Hoàng Hạc lâu" của Thôi Hiệu xứng đáng là một viên ngọc quý trong kho tàng văn học phương Đông. Cảnh lầu đẹp nên thơ được khơi gợi dưới một lớp sương mờ huyền thoại. Cảm hứng hoài cổ man mác, tình quê bâng khuâng vơi đầy... Tất cả làm nên vẻ đẹp nhân văn của thi phẩm này, và hồn thơ dào dạt của li khách đã in dấu đậm đà trong lòng mỗi chúng ta.

Vẽ hoặc Cảm nhận về hình tượng hạc vàng bay đi trong Hoàng Hạc Lâu (mẫu 2)

Thôi Hiệu là người có bản tính lãng mạn, thơ Thôi Hiệu phóng khoáng, tao nhã. Ông có rất nhiều những tác phẩm hay nhưng nổi bật lên đó là khúc nhạc phủ Trường Can Hành và bài thơ Hoàng Hạc Lâu đã đưa ông lên đỉnh cao sáng chói của nghệ thuật thơ Đường.

Bài thơ như một bức tranh thiên nhiên đẹp nói về cảnh ở Hoàng Hạc lâu. Đứng trước lầu Hoàng Hạc, nhà thơ đã nhớ đến huyền thoại xưa, nuối tiếc điều tốt đẹp đã qua và suy ngẫm về cuộc sống. Thơ Đường vốn súc tích, cô đọng và đa nghĩa. Lầu Hoàng Hạc là một di tích lịch sử nổi tiếng của Trung Hoa gắn với huyền thoại Phí Văn Vi thành tiên.

Một cảnh đẹp xưa nay hiếm thấy vậy nên tác giả đã đặt mình vào thiên nhiên để miêu tả khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ của Hoàng Hạc lâu, một di tích đã có nhiều di tích lịch sử cũng như những chiến công của người Trung Hoa, nó là chứng nhân lịch sử chứng kiến nhiều chiến công. Mở đầu bài thơ tác giả đã nhắc lại nguồn gốc của lầu Hoàng Hạc từ xa xưa:

Hạc vàng ai cưỡi đi đâu,

Mà đây Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ.

(Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ,

Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu.)

Lầu Hoàng Hạc trơ chọi giữa một khoảng không gian rộng lớn mênh mông, giữa một vùng đất trời rộng lớn không có bóng dáng con người, lầu Hoàng Hạc vẫn đứng sừng sững giữa một không gian rộng lớn, hiu hút, trải qua bao tang thương của những cuộc chiến tranh, giờ đây lầu Hoàng Hạc đứng chơ vơ, cô quạnh bên bãi vắng sông trôi khiến thi nhân chạnh lòng nhớ cổ thương kim.

Ngay từ hai câu thơ khởi đề ta đã gặp một tâm trạng. Nhà thơ không tả về hiện tại cái đang có mà nhớ về một cái đã có và đã mất: Người xưa đã cưỡi hạc vàng bay đi mất. Nơi đây còn trơ lại lầu Hoàng Hạc, một dấu tích lịch sử những kỉ niệm xa xưa. Lầu Hoàng Hạc có con chim Hạc vàng, Cánh hạc vàng trở về trong tâm tưởng chỉ để con người thêm khắc khoải, thấm thía sự mất mát... Hai câu đầu đã thể hiện một sự trống vắng, sự hẫng hụt trong tâm hồn. Nhưng trong hoài niệm của con người, cánh hạc vàng kia vẫn còn day dứt:

Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản,

Bạch vân thiên tỉa, không du du.

(Hạc vàng một khi đã bay đi, không trở lại nữa,

Mây trắng nghìn năm lởn vởn hoài.)

Hình ảnh hạc vàng gắn liền với khung cảnh thần tiên. Hạc vàng bay mất không bao giờ quay trở lại mang theo tất cả những gì là huyền ảo nhất, thơ mộng nhất của lầu Hoàng Hạc. Chỉ còn mây trắng vẫn bay giống như ngàn năm trước. Khung cảnh được miêu tả bằng cảm xúc ngậm ngùi, nuối tiếc của nhà thơ. Nhà thơ chìm đắm trong tâm trạng hoài cổ, giữa không gian tịch mịch cô liêu.

Tâm trạng của nhà thơ lúc này cũng đang hòa quyện với khung cảnh thiên nhiên ở lầu Hoàng Hạc tâm trạng buồn rầu cô đơn hiu quạnh, trống trải trong tâm hồn nhà thơ đó chỉ là những kỉ niệm về những thứ đã qua, tác giả tiếc nuối những quãng thời gian đó nhưng giờ đã mất đi và vĩnh viễn không quay trở lại, tác giả chỉ luyến tiếc và trống trải trong tâm hồn của mình. Vẫn nói chuyện hạc vàng bay đi và không trở lại nhưng ở đây không chỉ có sự đối lập giữa quá khứ và hiện tại mà còn có sự đối lập giữa cõi tiên và cõi tục.

Hạc vàng đã bay về cõi tiên nên nơi đây, dưới còn trơ lại lầu Hoàng Hạc, trên trời mây trắng bay chơi vơi, dường như còn mong nhớ tiếc nuối điều gì đó. Bốn câu thơ đầu tập trung tả cảnh và lí giải tích lầu Hoàng Hạc. Bàn chuyện xưa và nay để thể hiện tâm trạng, nghĩ suy. Đó là một nghĩ suy mang triết lí nhân sinh sâu sắc – triết lí về sự còn – mất, về sự vô hạn và hữu hạn của trời đất và nhân sinh. Cái gì đã qua đi thật khó trở lại, thời gian cũng vậy, vậy nên người xưa mới từng nói: “thời gian quý như vàng”.

Thiên nhiên đẹp như một bức tranh sơn thủy hữu tình với đường nét, màu sắc hài hòa: nắng chiếu trên hàng cây trên bến Hán Dương; màu xanh mướt của thảm cỏ non trên bãi xa Anh Vũ:

Hán Dương sông tạnh cây bày,

Bãi xa Anh Vũ xanh dày cỏ non.

(Tinh xuyên lịch lịch Hán Dương thụ,

Phương thảo thê thê Anh Vũ châu.)

Câu thơ mở ra một không gian rộng lớn và thanh bình yên tĩnh. Một bức tranh thiên nhiên đẹp tuyệt vời với những ánh nắng sương mai soi rọi xuống dòng sông như một tấm gương khổng lồ với hàng cây tươi tốt soi bóng. Giữa mặt sông trong lành đó là màu xanh tươi mơn mởn của cỏ cây mùa xuân. Sau những khoảnh khắc đắm hòa mình cùng huyền thoại, nhân vật trữ tình lại trở về với hiện thực. Và đã tạo nên một bức họa thật đẹp. Bức họa về một lầu Hoàng Hạc soi bóng dòng Trường Giang cùng với hình ảnh của cây cối, của cỏ xanh.

Tâm trạng thương nhớ quê hương da diết của Thôi Hiệu. Hình ảnh trên sông là nhân tố gợi ra những nỗi nhớ khôn nguôi trong lòng nhà thơ. Khung cảnh chập chờn, mông lung của cảnh vật đã hòa mình cùng với tâm trạng của nhà thơ:

Quê hương khuất bóng hoàng hôn,

Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai.

(Nhật mộ hương quan hà xứ thị,

Yên ba giang thượng sử nhân sầu.

Nỗi nhớ quê hương da diết cùng với tâm trạng buồn cô đơn, ngắm cảnh nảy tình của nhà thơ đã tạo cho bài thơ những đặc sắc và ấn tượng, để lại nhiều day dứt trong lòng người đọc bởi một bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp và những nỗi nhớ thương của tác giả đối với cảnh vật đang tồn tại xung quanh con người mình.

Bài thơ Hoàng Hạc lâu đã để lại những giá trị to lớn trong nền văn học Việt nam với bức tranh thiên nhiên đẹp, và tâm trạng của con người với cảnh tức cảnh sinh tình.

Vẽ hoặc Cảm nhận về hình tượng hạc vàng bay đi trong Hoàng Hạc Lâu (mẫu 3)

Thôi Hiệu sinh ra và lớn lên vào những nam sơ – thịnh Đường, tính tình phóng khoáng, thích đi ngao du sơn thuỷ. Một lần đến chơi thành Vũ Xương, tĩnh Hồ Bắc, Thôi Hiệu lên ngắm lầu Hoàng Hạc. Cảnh vật xung quanh vào tầm mắt, nhà thơ cảm thấy có một nỗi buồn thấm thía mơ hồ thấm vào cõi lòng. Ông xúc cảm viết bài Hoàng Hạc lâu, khiến mọi người cảm phục. Quan sở tại đã cho khác bài thơ lên vách lầu Hoàng Hạc. Sau này, tương truyền có lần thi tiên Lá Đạch đến lầu Hoàng Hạc, toan cầm bút đề thơ, nhưng không sao viết được vì đã có thơ Thôi Hiệu đầy rồi.

Bài thơ này đã lưu luyến ở Việt Nam từ rất lâu và được một số người chuyển dịch sang tiếng Việt. Trong đó, có lẽ thành công hơn cả là bản dịch đầy tài hoa của nhà thơ Tản Đà:

Hạc vàng ai riêng lầu còn trơ,

Mà đây Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ,

Hạc vàng đi mất từ xưa,

Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay.

Hán Dương sông tạn cây bày,

Bãi xa Anh Vũ xanh dày cò non.

Quê hương khuất bóng hoàng hôn,

Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai?

Huy Cận đã chịu ảnh hưởng hai câu kết trong bài thơ này khi viết hai câu kết của bài Tràng Giang:

Lòng quê dờn dợn với con nước

Không khói hoàng hôn cũng nhở nhà.

Thôi Hiệu và Huy Cận đều có chung một nỗi nhớ của người xa quê. Cố điều, Thôi Hiệu nhân nhìn thấy khói và sóng trên sông mà nảy sinh ra tâm trạng ấy, còn Huy Cận không khói hoàng hôn (tức là không có cái gì gợi nhớ), nhưng cũng nhớ nhà. Đó là không có cái độc đáo của Huy Cận. Nhưng dẫu sao, thì hai câu thơ của nhà thơ Việt Nam nói trên vẫn đậm đặc chất Đường Thi, chất Thôi Hiệu trong cốt cách, trong tinh tuý.

Hoàng Hạc lâu đúng là một kiệt tác. Bài thơ mạnh mẽ, sinh động, đặc biệt thành công về mặt âm điệu. Thành công này có được đo kết hợp hài hoà giữa việc sử dụng thành thục luật Đường thi và sự phá luật khi cần thiết để diễn tả hay nhất những cảm xúc.

Bốn câu đầu bài thơ tập trung khá nhiều đặc sắc về mặt âm điệu. Câu đầu tiên của bài thơ là một câu phá luật. Chữ thứ hai lẽ ra là thanh trắc ở đây lại là thanh bằng. Chữ thứ tám lẽ ra phải vần với chữ thứ tám các câu 4, 6, 8 và có thanh bằng, ở đây lại thất vận và dùng thanh trắc. Sự thay đổi trên làm cho câu thơ có một nhạc điệu man mác, đặc biệt thanh trắc của chữ thứ tám dường như kéo dài thêm mãi âm điệu của câu thơ, diễn tả rất đạt nỗi bàng hoàng đến ngẩn ngơ trước một thực tại: người tiên và hạc vàng đâu còn nữa. Câu thơ dịch của Tản Đà. Hạc vàng ai cưỡi đi đâu thật trần tình. Nó không hề đánh mất mà đã chuyển đến người đọc Việt Nam trọn vẹn cái hay của câu thơ Thôi Hiệu cả về tứ thơ lẫn âm điệu.

Bài thơ Hoàng Hạc lâu của Thôi Hiệu là bài thơ hay vì âm điệu uyển chuyển nhịp nhàng, lúc mau, lúc khoan, khi bổng khi trầm

Câu thơ thứ hai phát triển tiếp tục ý tứ của câu thứ nhất trong sự đối lập xưa và nay, còn và mất. Đây cũng là một sáng tạo của Thôi Hiệu vì thơ Đường không đặt ra yêu cầu đối giữa hai câu phá đề và thừa đề. Ở câu thơ này, Thôi Hiệu không chú ý tạo sự đối lời mà hướng tới sự đổi ý: người tiên, chim hạc không còn nhưng lầu Hoàng Hạc còn đó. Chữ trơ trong câu thơ, tác giả hạ thật đắt, vừa gợi thế đứng một mình cô độc trên lầu Hoàng Hạc nơi trần thế không cố gì vĩnh hằng vĩnh cửu này, vừa diễn tả cảm xúc ngậm ngùi luyến tiếc trước cảnh đó người đâu. Có một cái gì như là bàng hoàng, ngẩn ngơ lại như là trầm tư, suy ngẫm trước môi quan hệ xua, nay còn, mất ở đời.

Câu thơ thứ ba, thứ tư lại hướng về mối quan hệ giữa cái vô cùng là cái hữu hạn. Đám mây trắng kia là của hôm nay hay của nghìn đời xưa? Hac vàng bay đi rồi trở lại hay mãi mãi không trở về? Sự trăn trở đầy triết lý được diễn tả trong những câu thơ âm điệu khá độc đáo. Sáu trên bảy tiếng của câu thứ ba là thanh sắc làm cho câu thơ phá luật tạo âm điệu không êm dịu, nhẹ nhàng như diễn tả sự bừng tỉnh của nhà thơ sau một hồn đắm chìm trong cảm xúc bàng hoàng để nhận ra sự thực đau đớn: Hạc vàng một khi đã bay đi không bao giờ trở lại. Hoàng Hạc nhất khứ bất phục phân). Câu thứ tư mang âm điệu êm dịu khác hẳn câu thứ ba. Nằm trên bảy chữ có thanh bằng nhất là ba tiếng cuối cùng của câu (không du du) có thanh bằng liên tiếp (người Trung Quốc gọi là lôi tam bình điệu) đã góp phần diễn tả rất đạt những đám mây trắng nhẹ nhàng bay trên không trung. Chính hai tiếng thiên tài đã mang lại hình ảnh đám mây trắng chiều sâu củ sự suy tưởng: đám mây tưởng chỉ mới xuất hiện hôm nay hoá ra đã có từ nghìn năm, trong cái hữu hạn của ngày hôm nay đã chứa cái vô hạn của muôn đời.

Trong bốn câu thơ đầu, thực tại và quá khứ, cảnh vật và cảm xúc, tả thực và suy tưởng xen kẽ nhau trong những vần thơ biến hoá về âm điệu, vừa quy phạm, vừa tài hoa. Điều kì lạ là điện văn của cả bốn câu đi thẳng một mạch từ chữ đầu cho đến hết câu 4 với hai tiếng Hoàng Hạc nhắc lại khiến người đọc hình dung ra được cái cảnh những đám mây trắng nhẹ nhàng lờ lững bay trên không trung đưa hồn người lữ khách bay theo (Trần Trung San).

Bốn câu thơ cuối đưa người đọc từ sự suy tư, đắm chìm trong những cảm xúc đầy triết lí trở lại với cuộc sống thực – để ngắm nhìn hàng cây, bãi cỏ, để cùng băn khoăn một nỗi băn khoăn trần thế – Nhật mộ hương quan là xứ thị – Chiều tối rồi, què hương ở nơi đâu? Bức tranh thiên nhiên trong hai câu 5 và 6 hiện lên với những chi tiết thực, hàng cây đất Hán Dương soi bóng rõ mồn một xuống lòng sông tạnh, bãi Anh Vũ cỏ thơm mơn mởn xanh tươi. Cảnh sắc tươi tắn, bình dị và giàu sức sống khiến cho bài thơ miêu tả một di tích, một cổ lâu mà vẫn gần gũi cuộc đời thực tại.Hai câu kết đưa người đọc trở lại với nỗi trăn trở và cảm xúc của một người khách xa nhà. Điệu văn ở câu 5 và 6 chậm lại và đi song song với nhau nghiêm trọng, tề chinh và tiếp tục nặng nề đi đến câu cuối bài tận cùng bằng vần trầm tĩnh thay duy nhất (sầu) diễn tả mỗi sầu miên man, dằng dặc đến vô cùng (Trần Trung San).

Bài thơ Hoàng Hạc lâu của Thôi Hiệu là bài thơ hay vì âm điệu uyển chuyển nhịp nhàng, lúc mau, lúc khoan, khi bổng khi trầm như ru hồn người ta theo với ấm ba của những vần trong bài thơ. Bìa thơ có bổn vần bàng (lầu, du, cháu, sầu). Vần trầm bình thanh (sầu) ở cuối cùng, sau ba vần đều là phá bình thanh (lâu, du, châu), nối tiếp nhau, diễn tả được mối sầu triền miên, nặng nề, bát tận của người khách xa nhà trước cảnh khó mây mịt mùng. Tài hoa sáng tạo âm điệu của tác giả dồn lại trong bốn câu thơ đầu với nhiều nét độc đáo. Bài Hoàng Hạc lâu còn đặt ra nhiều thi đề thường trở đi trở lại trong thơ ca cổ Trung Quốc: cái vô cùng và cái hữu hạn, tỉnh và cảnh, quá khứ và hiện tại, cảnh tiên và cõi tục cái còn và cái mất. Đấy chính là sự thâm thuý, hàm súc của tác giả. Trong thế song hành của hai nửa bài thơ, nửa đầu nặng về sự phô diễn cảm xúc bàng hoàng, ngẩn ngơ, đau đớn, triền miền suy tư về quá khứ. Nửa cuối quy lại với hiện thực trần gian: hàng cây, bãi cỏ và mây khói mịt mùng trên dòng sông gợi nhớ một miền quê xa vắng. Cảm xúc ở đây giàu chất nhân bản lành mạnh khiến bài thơ đọng lại mãi trong tâm hồn bao thế hệ bạn đọc.

Vẽ hoặc Cảm nhận về hình tượng hạc vàng bay đi trong Hoàng Hạc Lâu (mẫu 4)

Thôi Hiệu, người sinh sống và lớn lên trong những năm đầu thịnh thế của Đường, có tính cách rộng lớn và đam mê du ngoạn sơn thủy. Một lần, khi đến Vũ Xương, Hồ Bắc, Thôi Hiệu ghé thăm lầu Hoàng Hạc. Cảnh đẹp xung quanh hiện lên trước mắt, nhưng nhà thơ cảm nhận được một nỗi buồn mơ hồ thấm vào trái tim.

Ông đã viết một bài thơ về lầu Hoàng Hạc, để lại ấn tượng sâu sắc. Các quan địa phương đã quyết định khắc bài thơ lên tường lầu Hoàng Hạc. Sau này, có một lần thi tiên Lí Bạch đến thăm lầu Hoàng Hạc, muốn viết thêm bài thơ, nhưng không thể vì đã có bài thơ của Thôi Hiệu rồi.

Bài thơ này đã lưu truyền từ lâu ở Việt Nam và được một số người chuyển ngữ sang tiếng Việt. Trong số đó, bản dịch của nhà thơ Tản Đà có lẽ là thành công nhất:

Chim hạc vàng cưỡi đi đâu,

Hoàng Hạc lầu còn trơ đâu rồi.

Chim hạc vàng bay mất từ xưa,

Nghìn năm mây trắng vẫn còn bay.

Dòng sông Hán Dương bình yên, cây cỏ xanh mơn,

Bãi Anh Vũ xa xôi mây trắng dày cỏ non.

Quê hương khuất sau ánh hoàng hôn,

Sông trôi khói sóng làm ai buồn bã?

Huy Cận đã chịu ảnh hưởng của hai câu cuối trong bài thơ này khi viết:

Lòng quê dơi dới với dòng nước

Không khói hoàng hôn vẫn nhớ nhà.

Thôi Hiệu và Huy Cận đều chia sẻ một nỗi nhớ quê hương xa. Tuy nhiên, Thôi Hiệu nhìn thấy khói và sóng trên sông và từ đó xuất phát cảm xúc, trong khi Huy Cận 'không khói hoàng hôn' (tức là không có gì gợi nhớ), nhưng vẫn 'nhớ nhà'. Đó là điều độc đáo của Huy Cận. Tuy nhiên, hai câu thơ của những nhà thơ Việt Nam này vẫn giữ đặc điểm của thơ Đường, của Thôi Hiệu trong cả cách sắp xếp và cách chọn lựa từ ngôn ngữ.

Lầu Hoàng Hạc thực sự là một kiệt tác. Bài thơ mạnh mẽ và sinh động, đặc biệt thành công ở mặt âm điệu. Thành công này đến từ sự kết hợp hài hòa giữa việc sử dụng thuần thục luật Đường thi và sự phá vỡ quy tắc khi cần thiết để tốt nhất diễn đạt những cảm xúc. Bốn câu đầu của bài thơ tập trung vào nhiều điểm đặc sắc về mặt âm điệu. Câu đầu tiên của bài thơ là một câu phá quy tắc. Chữ thứ hai lẽ ra nên là thanh trắc, nhưng ở đây lại là thanh bằng.

Chữ thứ tám lẽ ra nên là thanh trắc và phải vần với chữ thứ tám ở các câu 4, 6, 8, nhưng lại là thanh bằng và ở đây là thất vận, và sử dụng thanh trắc. Sự thay đổi này tạo ra một giai điệu độc đáo, đặc biệt là thanh trắc của chữ thứ tám dường như kéo dài thêm âm điệu của câu thơ, diễn đạt cảm xúc ngạc nhiên đến mê hoặc trước một sự thật: chim tiên và hạc vàng đã đi đâu. Câu thơ 'Chim hạc vàng cưỡi đi đâu' thực sự thần tình.

Câu thứ hai phát triển ý của câu thứ nhất với sự đối lập giữa quá khứ và hiện tại, còn và mất. Điều này cũng là một sáng tạo của Thôi Hiệu vì thơ Đường không yêu cầu sự đối đầu giữa hai câu phá vỡ và một câu thừa nhận như ở câu này. Thôi Hiệu không tạo ra sự đối đầu trong từ ngữ, mà thay vào đó, ông hướng tới sự đối thoại trong ý nghĩa: chim tiên, hạc không còn nhưng lầu Hoàng Hạc vẫn ở đó.

Chữ 'trơ' trong câu thơ, mặc dù đắt giá, nhưng đã giúp tạo ra hình ảnh của lầu Hoàng Hạc đứng một mình, cô độc trên một nơi không có gì vĩnh cửu, vĩnh cữu này, đồng thời diễn đạt cảm xúc luyến tiếc trước cảnh đó, nơi quê nhà mất đi. Có điều gì đó như là ngạc nhiên, mê hoặc, lại giống như là suy nghĩ, suy tư trước mối quan hệ quá khứ - đã mất trong cuộc sống này.

Câu thứ ba, thứ tư lại xoay quanh mối quan hệ giữa sự vô cùng và sự hữu hạn của đám mây trắng kia, liệu chúng là của ngày hôm nay hay của ngàn đời xưa? Chim hạc vàng bay đi và quay lại hay mãi mãi không trở về? Mối trăn trở đầy triết lý được thể hiện trong những câu thơ âm điệu độc đáo.

Câu sáu trong bảy tiếng của câu thứ ba, với thanh trắc, tạo ra âm điệu không êm dịu, như diễn đạt sự bừng tỉnh sau một thời gian đắm chìm trong cảm xúc. Câu thứ tư mang lại một âm điệu êm dịu khác hoàn toàn so với câu thứ ba. Năm trong bảy chữ, đặc biệt là ba tiếng cuối cùng của câu, tạo ra thanh bằng liên tục, đã góp phần làm cho hình ảnh của đám mây trắng bay nhẹ nhàng trên không trung trở nên sống động. Cả hai tiếng 'Thiên tài' đã mang lại cho hình ảnh của 'đám mây trắng' sâu sắc và giàu ý nghĩa: đám mây trắng chỉ mới xuất hiện hôm nay nhưng đã tồn tại từ nghìn năm, trong hữu hạn của ngày hôm nay chứa đựng vô hạn của muôn đời.

Trong bốn câu thơ đầu, thực tế và quá khứ, cảnh và cảm xúc, mô tả thực tế và suy tưởng xen kẽ trong các vần thơ biến đổi về âm điệu, vừa tuân theo quy luật, vừa phong cách tài năng. Điều đặc biệt là đoạn văn của cả bốn câu thơ đầu đi thẳng từ chữ đầu đến chữ thứ tư, với hai tiếng 'Hoàng Hạc' được lặp lại, khiến người đọc có thể hình dung ra cảnh đám mây trắng nhẹ nhàng bay theo bốn nhà thơ lữ khách.

Bốn câu thơ cuối đưa người đọc từ sự suy nghĩ, đắm chìm trong cảm xúc bàng hoàng, ngẩn ngơ, đau đớn, triền miên suy tưởng về quá khứ. Nửa cuối của bài thơ quay trở lại với thế giới hiện thực: cây cỏ, bãi cỏ và mây khói mịt mùng trên dòng sông làm tưởng nhớ đến quê nhà xa xôi. Cảm xúc ở đây phong phú và tích cực, làm cho bài thơ để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng độc giả qua thời gian.

1 100 lượt xem


Xem thêm các chương trình khác: