Tội đánh người vô cớ mức phạt mới nhất 2025 ra sao?
Tội đánh người vô cớ mức phạt mới nhất 2025 ra sao?

1. Tội đánh người vô cớ mức phạt mới nhất 2025 ra sao?

Tính đến tháng 5 năm 2025, mức phạt đối với hành vi đánh người vô cớ tại Việt Nam được quy định tại Nghị định số 144/2021/NĐ-CP của Chính phủ. Theo đó, hành vi này có thể bị xử phạt hành chính với mức phạt tiền lên đến 4.000.000 đồng, tùy thuộc vào tính chất và mức độ vi phạm. Ngoài ra, các biện pháp khắc phục hậu quả như đình chỉ hoạt động có thời hạn hoặc tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề cũng có thể được áp dụng.

Nếu hành vi đánh người vô cớ gây tổn hại đến sức khỏe của nạn nhân, người vi phạm có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về tội "Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác". Mức hình phạt có thể từ cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm, tùy thuộc vào mức độ tổn hại sức khỏe của nạn nhân.

Để tránh vi phạm pháp luật và bảo vệ quyền lợi của mình, người dân cần nâng cao ý thức chấp hành các quy định về an ninh, trật tự và an toàn xã hội

2. Cố ý gây thương tích là gì ?

Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được quy định tại Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017

  • Mặt khách quan của tội phạm:
    • Hành vi khách quan

Hành vi khách của tội phạm này được quy định là hành vi gây thương tích hoặc hành vi gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Đó là các hành vi có khả năng gây ra thương tích hoặc tổn thương khác làm tổn hại đến sức khoẻ của con người. Những hành vi này có thể được thực hiện với công cụ, phương tiện phạm tội hoặc không có công cụ, phương tiện phạm tội hoặc có thể thông qua súc vật hay cơ thể người khác…

  • Hậu quả của tội phạm

Hậu quả mà cấu thành tội phạm mô tả là thương tích hoặc tổn hại cho sức khoẻ ở mức độ có tỷ lệ tổn thương cơ thể là 11% trở lên hoặc dưới tỉ lệ đó nhưng thuộc một trong các trường hợp sau:

    • Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người. Vũ khí bao gồm: vũ khí quân dụng, súng săn, vũ khí thô sơ (dao găm, kiếm, giáo, mác, thương, lưỡi lê, đao, mã tấu, côn,
    • Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;
    • Có tổ chức;
    • Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
    • Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở cai nghiện bắt buộc;
    • Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê;
    • Có tính chất côn đồ;
    • Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

Như vậy, những trường hợp gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe có tỷ lệ tổn thương cơ thể dưới 11% và không thuộc các trường hợp nêu trên là trường hợp chưa cấu thành tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.

  • Quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả thương tích hoặc tổn thương khác

Quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe là dấu hiệu trong cấu thành tội phạm. Khi xác định có hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ và có hậu quả thương tích hoặc hậu quả tổn hại cho sức khỏe, đòi hỏi phải xác định hậu quả này là do chính hành vi đó gây ra hay nói cách khác là phải xác định quan hệ nhân quả giữa hành vi khách lệ tổn thương cơ thể dưới 11% vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự).

Cố ý gây thương tích là gì? Mức phạt theo quy định pháp luật đối với tội cố ý gây thương tích

3. Hình phạt với tội cố ý gây thương tích năm 2024

Người có hành vi cố ý gây thương tích cho người khác nếu đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm thì có thể bị truy cứu trách nhiệm về một trong các tội sau:

Tội cố ý gây thương tích (Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi 2017):

  • Khung hình phạt 1:

Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

    • Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;
    • Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm;
    • Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;
    • Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;
    • Có tổ chức;
    • Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
    • Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;
    • Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê;
    • Có tính chất côn đồ;
    • Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.
  • Khung hình phạt 2:

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:

    • Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31 % đến 60%;
    • Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30%;
    • Phạm tội 02 lần trở lên;
    • Tái phạm nguy hiểm;
    • Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.
  • Khung hình phạt 3:

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

    • Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên, nếu không thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 4 Điều này;
    • Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;
    • Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31 % đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;
    • Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.
  • Khung hình phạt 4:

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 14 năm:

    • Làm chết người;
    • Gây thương tích làm biến dạng vùng mặt của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
    • Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;
    • Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61 % trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;
    • Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.
  • Khung hình phạt 5:

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

    • Làm chết 02 người trở lên;
    • Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

Chuẩn bị phạm tội:

Người nào chuẩn bị vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm, axit nguy hiểm, hóa chất nguy hiểm hoặc thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm nhằm gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

Tội cố ý gây thương tích trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 135 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi 2017):

  • Khung hình phạt 1:

Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người đó hoặc đối với người thân thích của người đó, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

  • Khung hình phạt 2:

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

    • Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 31% trở lên;
    • Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người.

Tội cố ý gây thương tích do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội (Điều 136 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi 2017):

  • Khung hình phạt 1:

Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội, thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

  • Khung hình phạt 2:

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:

    • Đối với 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;
    • Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61 % trở lên.
  • Khung hình phạt 3:
    • Phạm tội dẫn đến chết người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm.

Tội gây thương tích trong khi thi hành công vụ (Điều 137 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi 2017):

  • Khung hình phạt 1:

Người nào trong khi thi hành công vụ dùng vũ lực ngoài những trường hợp pháp luật cho phép gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

  • Khung hình phạt 2:

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

    • Đối với 02 người trở lên, mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 31 % trở lên;
    • Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
    • Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ.

- Hình phạt bổ sung:

    • Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

4. Mức phạt hành chính hành vi cố ý gây thương tích năm 2025

Căn cứ theo điểm a khoản 5 Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ-CP, người có hành vi cố ý gây thương tích cho người khác nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng.

Cố ý gây thương tích là gì? Mức phạt theo quy định pháp luật đối với tội cố ý gây thương tích

5. Bị đánh có kiện được không? Cách bảo vệ quyền lợi theo luật mới nhất 2025

Khi bị đánh, bạn hoàn toàn có quyền khởi kiện, tố cáo hành vi bạo lực, xâm hại sức khỏe của mình trước cơ quan chức năng để được bảo vệ quyền lợi theo pháp luật. Việc kiện tụng nhằm yêu cầu xử lý hành vi vi phạm, đòi bồi thường thiệt hại về sức khỏe, danh dự, vật chất hoặc tinh thần tùy theo mức độ hậu quả.

Theo quy định của pháp luật hiện hành, người bị đánh có thể thực hiện các bước sau để bảo vệ quyền lợi:

  • Ghi nhận chứng cứ: Thu thập các bằng chứng như hình ảnh, video, giấy khám thương tích từ bệnh viện, lời khai nhân chứng để làm cơ sở chứng minh hành vi đánh người.
  • Tố giác hành vi phạm tội: Gửi đơn tố cáo hoặc trình báo vụ việc đến công an hoặc viện kiểm sát để cơ quan chức năng điều tra, xử lý theo quy định.
  • Yêu cầu bồi thường thiệt hại: Người bị hại có quyền yêu cầu người gây thương tích bồi thường các khoản thiệt hại như chi phí chữa trị, thu nhập bị mất, tổn thất tinh thần.
  • Khởi kiện dân sự: Nếu cần thiết, người bị hại có thể khởi kiện tại tòa án để đòi bồi thường thiệt hại hoặc yêu cầu xử lý hành vi vi phạm.

Việc thực hiện đúng quy trình tố cáo và khởi kiện sẽ giúp bảo vệ hiệu quả quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại theo quy định pháp luật mới nhất 2025.

6. Những câu hỏi thường gặp

6.1. Người phạm tội đánh người không gây thương tích có thể bị xử lý hình sự trong trường hợp nào?

Mặc dù đánh người không gây thương tích thường bị xử phạt hành chính, trong một số trường hợp, hành vi này vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu có các tình tiết tăng nặng hoặc vi phạm nghiêm trọng. Ví dụ, nếu hành vi đánh người không gây thương tích được thực hiện với mục đích trả thù, có tổ chức hoặc gây ảnh hưởng xấu đến trật tự công cộng, hoặc người phạm tội là người có chức vụ, quyền hạn mà lạm dụng, thì người đó có thể bị xử lý hình sự theo các điều khoản liên quan của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, nếu hành vi này lặp đi lặp lại, tái phạm nhiều lần cũng có thể là căn cứ để áp dụng hình phạt nghiêm khắc hơn.

6.2. Khi bị đánh nhưng không gây thương tích, người bị hại cần làm gì để bảo vệ quyền lợi của mình?

Khi bị đánh mà không gây thương tích, người bị hại nên bình tĩnh thu thập chứng cứ như ghi âm, quay video hoặc nhờ người chứng kiến sự việc làm chứng. Người bị hại có thể làm đơn trình báo tới công an nơi xảy ra vụ việc để yêu cầu xử lý theo pháp luật. Ngoài ra, người bị hại cũng có thể yêu cầu người phạm tội bồi thường về tinh thần hoặc các thiệt hại khác nếu có. Trong trường hợp cần thiết, người bị hại có thể tìm đến sự tư vấn của luật sư để được hướng dẫn các bước khởi kiện hoặc bảo vệ quyền lợi tốt nhất theo quy định pháp luật mới nhất. Việc bảo vệ quyền lợi ngay từ sớm giúp ngăn chặn hành vi vi phạm tái diễn và đảm bảo công bằng xã hội.