Tổ chức đánh bạc có thể phạt tù lên đến 10 năm có đúng không?
Tổ chức đánh bạc có thể phạt tù lên đến 10 năm có đúng không?

1. Tổ chức đánh bạc có thể phạt tù lên đến 10 năm có đúng không?

Tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc được quy định tại Điều 322 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi 2017) với khung hình phạt như sau:

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

  • Có tính chất chuyên nghiệp;
  • Thu lợi bất chính 50.000.000 đồng trở lên;
  • Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương, tiện điện tử để phạm tội;
  • Tái phạm nguy hiểm.

Như vậy, tội tổ chức đánh bạc có thể phạt tù đến 10 năm

2. Các khung hình phạt của tội tổ chức đánh bạc

Tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc được quy định tại Điều 322 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi 2017) với khung hình phạt như sau:

* Khung 1:

Người nào tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc trái phép thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

  • Tổ chức cho 10 người đánh bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên hoặc tổ chức 02 chiếu bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên;
  • Sử dụng địa điểm thuộc quyền Sở hữu hoặc quản lý của mình để cho 10 người đánh bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên hoặc cho 02 chiếu bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên;
  • Tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trong cùng 01 lần trị giá 20.000.000 đồng trở lên;
  • Có tổ chức nơi cầm cố tài sản cho người tham gia đánh bạc; có lắp đặt trang thiết bị phục vụ cho việc đánh bạc hoặc phân công người canh gác, người phục vụ khi đánh bạc; sắp đặt lối thoát khi bị vây bắt, sử dụng phương tiện để trợ giúp cho việc đánh bạc;
  • Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc hành vi quy định tại Điều 321 Bộ luật Hình sự 2015 hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 321 Bộ luật Hình sự 2015 chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

* Khung 2:

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

  • Có tính chất chuyên nghiệp;
  • Thu lợi bất chính 50.000.000 đồng trở lên;
  • Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương, tiện điện tử để phạm tội;
  • Tái phạm nguy hiểm.

* Hình phạt bổ sung:

Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

3. Phân biệt tội đánh bạc và tổ chức đánh bạc

Tội đánh bạc

Tội tổ chức đánh bạc

Căn cứ pháp lý

Điều 321 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi 2017)

Điều 322 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi 2017)

Khung hình phạt

Tối đa 07 năm tù

Tối đa 10 năm tù

Chủ thể

Người từ đủ 16 tuổi trở lên có đủ năng lực trách nhiệm hình sự.

Người từ đủ 16 tuổi trở lên có đủ năng lực trách nhiệm hình sự.

Khách thể

Xâm phạm trật tự quản lý hành chính nhà nước

Xâm phạm trật tự quản lý hành chính nhà nước

Hành vi

Đánh bạc trái phép là hành vi đánh bạc được thực hiện dưới bất kỳ hình thức nào với mục đích được thua bằng tiền hay hiện vật mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép hoặc được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép nhưng thực hiện không đúng với quy định trong giấy phép được cấp.

Tổ chức đánh bạc là hành vi rủ rê, lôi kéo, chuẩn bị công cụ phương tiện để cho hành vi đánh bạc diễn ra để thu lợi bất chính.

Mặt chủ quan

Tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp: Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra.

Tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp: Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra.

4. Thời gian tạm giam đối với tội đánh bạc có thể kéo dài bao lâu?

Tạm giam không phải là một hình phạt mà chỉ là một biện pháp ngăn chặn để đảm bảo cho quá trình tố tụng được diễn ra thuận lợi và đảm bảo người bị buộc tội không gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử. Thời hạn tạm giam sẽ tùy vào mức độ phạm tội.

  • Thời hạn tạm giam đối với tội phạm ở mức độ nghiêm trọng sẽ là không quá 03 tháng
  • Có thể gia hạn nếu vụ án phức tạp cần thêm thời gian để điều tra một lần không quá 2 tháng
  • Tổng thời gian tạm giam có thể là 5 tháng.

Vì thế nếu trong trường phạm tội đánh bạc bị tạm giam thì có thể bị tạm giam với thời gian tối thiểu là 3 tháng và tối đa là 5 tháng.

Trong trường hợp bị áp dụng biện pháp tạm giam và muốn được tại ngoại thì có thể áp dụng một số biện pháp thay thế tạm giam như: bảo lĩnh hoặc đặt tiền.

5. Tội đánh bạc có bị truy nã không? Điều kiện và quy trình xử lý theo luật hiện hành 2025

Tội đánh bạc có thể bị truy nã nếu có các điều kiện sau:

Theo Điều 2 Thông tư liên tịch 13/2012/TTLT-BCA-BTP-VKSNDTC-TANDTC hướng dẫn quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và Luật thi hành án hình sự về truy nã do Bộ Công an - Bộ Tư pháp - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao ban hành về các đối tượng bị truy nã như sau:

Đối tượng bị truy nã

1. Bị can, bị cáo bỏ trốn hoặc không biết đang ở đâu.

2. Người bị kết án trục xuất, người chấp hành án phạt trục xuất bỏ trốn.

3. Người bị kết án phạt tù bỏ trốn.

4. Người bị kết án tử hình bỏ trốn.

5. Người đang chấp hành án phạt tù, người được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, người được hoãn chấp hành án bỏ trốn.

Bên cạnh đó, tại khoản 1 Điều 4 Thông tư liên tịch 13/2012/TTLT-BCA-BTP-VKSNDTC-TANDTC cũng có quy định về việc ra quyết định truy nã như sau:

Ra quyết định truy nã

1. Cơ quan có thẩm quyền chỉ được ra quyết định truy nã khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Có đủ căn cứ xác định đối tượng quy định tại Điều 2 của Thông tư này đã bỏ trốn hoặc không biết đang ở đâu và đã tiến hành các biện pháp xác minh, truy bắt nhưng không có kết quả;

b) Đã xác định chính xác lý lịch, các đặc điểm để nhận dạng đối tượng bỏ trốn.

2. Khi có đủ căn cứ xác định bị can, bị cáo bỏ trốn hoặc không biết đang ở đâu mà trước đó Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án đã ra lệnh bắt bị can, bị cáo để tạm giam mà không bắt được thì Cơ quan điều tra tự mình hoặc theo yêu cầu của Viện kiểm sát, Tòa án ra quyết định truy nã; trường hợp chưa có lệnh bắt bị can; bị cáo để tạm giam thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án không ra lệnh bắt bị can, bị cáo để tạm giam mà Cơ quan điều tra tự mình hoặc theo yêu cầu của Viện kiểm sát, Tòa án ra ngay quyết định truy nã.

Như vậy, Phải có quyết định khởi tố vụ án, xác định người này là bị can, sau đó căn cứ vào khoản 1 Điều 4 nêu trên xác định có đủ các điều kiện để ra quyết định truy nã hay không.