Hướng dẫn báo giảm BHXH trực tuyến mới nhất
Hướng dẫn báo giảm BHXH trực tuyến mới nhất

1. Hướng dẫn báo giảm BHXH trực tuyến năm 2025?

Để thực hiện báo giảm BHXH trực tuyến thì có thể thực hiện theo các bước sau:

Bước 1: Đăng nhập vào tài khoản trên cổng dịch vụ công để thực hiện báo giảm BHXH.

Truy cập đường link: https://dichvucong.baohiemxahoi.gov.vn/

Bước 2: Chọn “Kê khai hồ sơ” và chọn vào “Mã thủ tục” 600a để báo giảm BHXH

Bước 3: Chọn kỳ kê khai

Bước 4: “Chọn lao động” và tích vào danh sách người lao động cần báo giảm

Bước 5: Ấn “Áp dụng” và điền đầy đủ các thông tin cần thiết

Bước 6: Chọn “Kê khai” và nhập mã pin chữ ký số để hoàn tất gửi hồ sơ đến cơ quan bảo hiểm xã hội quản lý.

Lưu ý: Nội dung chỉ mang tính chất tham khảo!

2. Khi nào thì doanh nghiệp thực hiện báo giảm BHXH?

Căn cứ theo Tiểu mục 1.3 Mục 1 Phụ lục ban hành kèm theo Quyết định 896/QĐ-BHXH năm 2021 thì người sử dụng lao động sẽ báo giảm lao động nếu thuộc một trong các trường hợp sau:

  • Báo giảm lao động đối với các trường hợp người lao động chuyển đi; nghỉ việc, chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc;
  • Báo giảm do nghỉ hưởng chế độ bảo hiểm xã hội (hưu trí, bảo lưu, ốm đau, thai sản);
  • Báo giảm do nghỉ không lương, tạm hoãn hợp đồng lao động, ngừng việc không hưởng lương từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng.
  • Điều chỉnh đóng BHXH (người lao động thay đổi tiền lương đóng BHXH).

3. Thời hạn báo giảm BHXH là khi nào?

Căn cứ quy định điểm 2.1 khoản 2 Điều 50 Quy trình thu bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; cấp sổ bảo hiểm xã hội, thẻ bảo hiểm y tế ban hành kèm theo Quyết định 595/QĐ-BHXH năm 2017 được sửa đổi bởi khoản 1 Điều 1 Quyết định 490/QĐ-BHXH năm 2023 quy định về trách nhiệm của người tham gia, đơn vị, Tổ chức dịch vụ như sau:

"Trách nhiệm của người tham gia, đơn vị, Tổ chức dịch vụ

...

2. Trách nhiệm của đơn vị, Tổ chức dịch vụ

2.1. Đơn vị

a) Thực hiện lập, nộp hồ sơ; trích nộp tiền BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ, BNN theo đúng quy trình, quy định tại Văn bản này và quy định của pháp luật về BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ, BNN. Trường hợp đơn vị lập danh sách báo giảm chậm, đơn vị phải đóng số tiền BHYT của các tháng báo giảm chậm và thẻ BHYT có giá trị sử dụng đến hết các tháng đó.

b) Chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc lập hồ sơ; lưu trữ hồ sơ của người tham gia và đơn vị.

c) Cung cấp đầy đủ, kịp thời thông tin, hồ sơ, tài liệu, dữ liệu liên quan đến việc đóng, hưởng BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ, BNN khi có thay đổi hoặc theo yêu cầu của cơ quan quản lý có thẩm quyền, cơ quan BHXH.

d) Phổ biến pháp luật về BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ, BNN cho người lao động trong đơn vị.

đ) Phối hợp với cơ quan BHXH thực hiện các quy định về pháp luật BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ, BNN.

....."

Theo đó, việc báo giảm BHXH được thực hiện khi đơn vị có sự thay đổi về nhân sự, cụ thể khi nhân sự nghỉ việc hoặc vì lý do mà dẫn đến giảm nhân sự của đơn vị thì khi này đơn vị phải kịp thời lập danh sách báo giảm gửi cơ quan bảo hiểm xã hội qua hệ thống giao dịch điện tử.

Bên cạnh đó đơn vị sử dụng lao động còn có trách nhiệm sau đây:

Thực hiện lập, nộp hồ sơ; trích nộp tiền BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ, BNN theo đúng quy trình, quy định tại Văn bản này và quy định của pháp luật về BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ, BNN.

Lưu ý: Trường hợp đơn vị lập danh sách báo giảm chậm, đơn vị phải đóng số tiền BHYT của các tháng báo giảm chậm và thẻ BHYT có giá trị sử dụng đến hết các tháng đó.

  • Chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc lập hồ sơ; lưu trữ hồ sơ của người tham gia và đơn vị.
  • Cung cấp đầy đủ, kịp thời thông tin, hồ sơ, tài liệu, dữ liệu liên quan đến việc đóng, hưởng BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ, BNN khi có thay đổi hoặc theo yêu cầu của cơ quan quản lý có thẩm quyền, cơ quan BHXH.
  • Phổ biến pháp luật về BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ, BNN cho người lao động trong đơn vị.
  • Phối hợp với cơ quan BHXH thực hiện các quy định về pháp luật BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ, BNN.
Báo giảm BHXH khi người lao động xin nghỉ việc
Báo giảm BHXH khi người lao động xin nghỉ việc

4. Giảm độ tuổi được hưởng trợ cấp hưu trí xã hội theo quy định mới

Theo khoản 2 Điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, trợ cấp hưu trí xã hội là loại hình BHXH do ngân sách nhà nước bảo đảm, được xây dựng trên cơ sở kế thừa và phát triển một phần từ quy định về trợ cấp xã hội hằng tháng với người cao tuổi không có lương hưu, trợ cấp BHXH hằng tháng.

Theo đó, từ 01/7/2025, độ tuổi được hưởng trợ cấp hưu trí xã hội của người lao động sẽ được giảm xuống còn 75 tuổi theo Điều 21 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 (hiện hành là 80 tuổi).

Riêng đối với người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo thì từ đủ 70 - dưới 75 tuổi sẽ được hưởng trợ cấp hưu trí xã hội.

5. Tăng quyền lợi để khuyến khích người lao động hưởng lương hưu thay vì nhận BHXH một lần

Luật Bảo hiểm xã hội 2024 bổ sung quy định nhằm gia tăng quyền lợi, tăng tính hấp dẫn, khuyến khích người lao động bảo lưu thời gian đóng để hưởng lương hưu thay vì nhận BHXH một lần.

Theo đó, từ 01/7/2025, người lao động không hưởng BHXH một lần mà bảo lưu thời gian đóng để tiếp tục tham gia thì có cơ hội được thụ hưởng các quyền lợi cao hơn như:

  • Được hưởng các chế độ với mức hưởng cao hơn khi tiếp tục tham gia BHXH.
  • Được hưởng lương hưu với điều kiện dễ dàng hơn
  • Trong thời gian hưởng lương hưu được Quỹ BHXH đóng BHYT
  • Được hưởng trợ cấp hằng tháng khi không đủ điều kiện hưởng lương hưu và chưa đủ tuổi hưởng trợ cấp hưu trí xã hội
  • Trong thời gian hưởng trợ cấp hằng tháng thì được ngân sách Nhà nước đóng BHYT.
Luật mới tăng quyền lợi của người tham gia BHXH
Luật mới tăng quyền lợi của người tham gia BHXH

6. Bổ sung trợ cấp hưu trí xã hội cho người không có lương hưu

Trợ cấp hưu trí xã hội là một sự bổ sung về chế độ cần thiết để góp phần đảm bảo cuộc sống cho những người lao động không có lương hưu hay trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng khi về hưu.

Khoản 2 Điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 giải thích trợ cấp hưu trí xã hội là loại hình bảo hiểm xã hội do ngân sách nhà nước bảo đảm cho người cao tuổi đủ điều kiện theo quy định.

Theo Điều 21 Luật Bảo hiểm xã hội, công dân Việt Nam được hưởng trợ cấp hưu trí xã hội khi có đủ các điều kiện:

(1) Từ đủ 75 tuổi trở lên;

(2) Không hưởng lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng, trừ trường hợp khác theo quy định của Chính phủ;

(3) Có văn bản đề nghị hưởng trợ cấp hưu trí xã hội.

Ngoài ra, công dân Việt Nam từ đủ 70 tuổi đến dưới 75 tuổi thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo và đáp ứng đủ điều kiện quy định tại điểm (2) và điểm (3) thì được hưởng trợ cấp hưu trí xã hội.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh giảm dần độ tuổi hưởng trợ cấp hưu trí xã hội trên cơ sở đề nghị của Chính phủ phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội và khả năng của ngân sách nhà nước từng thời kỳ.

7. Luật mới thêm đối tượng được rút BHXH 1 lần từ 01/7/2025

Theo Điều 70 và Điều 102 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 đã bổ sung thêm 2 đối tượng được rút bảo hiểm xã hội 1 lần từ ngày 1/7/2025, gồm:

  • Người có mức suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên;
  • Người khuyết tật đặc biệt nặng.

Người bị bệnh phong không được rút BHXH 1 lần từ 01/7/2025

Cụ thể tại điểm c khoản 1 Điều 60 và điểm c khoản 1 Điều 77 Luật Bảo hiểm xã hội 2014 thì một trong những trường hợp được hưởng BHXH 01 lần là:

c) Người đang bị mắc một trong những bệnh nguy hiểm đến tính mạng như ung thư, bại liệt, xơ gan cổ chướng, phong, lao nặng, nhiễm HIV đã chuyển sang giai đoạn AIDS và những bệnh khác theo quy định của Bộ Y tế.

Tuy nhiên, điểm c khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 70 và điểm c khoản 1 Điều 102 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 đã thay đổi quy định này. Theo đó, trường hợp người tham gia BHXH mà có đề nghị thì được hưởng BHXH 01 lần nếu thuộc 01 trong các trường hợp:

b) Người đang mắc một trong những bệnh ung thư, bại liệt, xơ gan mất bù, lao nặng, AIDS;

Như vậy, với quy định này đã bỏ đi trường hợp người bị bệnh phong được hưởng BHXH 1 lần, đồng thời thay bệnh xơ gan cổ chướng bằng bệnh xơ gan mất bù.

8. Mức hưởng BHXH 1 lần từ 01/7/2025

(1) Đối với người tham gia BHXH bắt buộc

Mức hưởng BHXH 1 lần được tính theo số năm đã đóng và căn cứ đóng BHXH nhưng không bao gồm số tiền ngân sách nhà nước hỗ trợ đóng BHXH tự nguyện, cứ mỗi năm được tính như sau:

  • Bằng 1,5 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH đối với năm đóng trước năm 2014.

Trường hợp có thời gian đóng BHXH trước và sau năm 2014 mà thời gian đóng trước năm 2014 có tháng lẻ thì những tháng lẻ đó được chuyển sang giai đoạn đóng BHXH từ năm 2014 trở đi để tính BHXH 1 lần;

  • Bằng 02 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH đối với năm đóng từ năm 2014 trở đi;
  • Trường hợp thời gian đóng BHXH chưa đủ một năm thì mức hưởng bằng số tiền đã đóng nhưng không quá 02 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH.

Riêng đối với các trường hợp sau thì mức hưởng BHXH 1 lần được tính theo số năm đã đóng và căn cứ đóng BHXH bao gồm số tiền ngân sách nhà nước hỗ trợ đóng BHXH tự nguyện; việc tính mức hưởng mỗi năm thực hiện theo quy định trên:

  • Người đang mắc một trong những bệnh ung thư, bại liệt, xơ gan mất bù, lao nặng, AIDS.
  • Người có mức suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên; người khuyết tật đặc biệt nặng.

(Khoản 3, 4 Điều 70 Luật Bảo hiểm xã hội 2024)

(2) Đối với người tham gia BHXH tự nguyện

Mức hưởng BHXH 1 lần được tính theo số năm đã đóng và căn cứ đóng BHXH, cứ mỗi năm được tính như sau:

  • Bằng 1,5 lần của mức bình quân thu nhập tháng đóng BHXH đối với năm đóng trước năm 2014.

Trường hợp thời gian đóng BHXH có cả trước và sau năm 2014 mà thời gian đóng trước năm 2014 có tháng lẻ thì những tháng lẻ đó được chuyển sang giai đoạn đóng BHXH từ năm 2014 trở đi để tính mức hưởng BHXH 1 lần;

  • Bằng 02 lần của mức bình quân thu nhập tháng đóng BHXH đối với năm đóng từ năm 2014 trở đi;
  • Trường hợp thời gian đóng BHXH chưa đủ một năm thì mức hưởng bằng số tiền đã đóng nhưng không quá 02 lần của mức bình quân thu nhập làm căn cứ đóng BHXH.

Mức hưởng BHXH 1 lần của đối tượng được Nhà nước hỗ trợ thực hiện theo quy định trên không bao gồm số tiền ngân sách nhà nước hỗ trợ đóng BHXH tự nguyện, trừ trường hợp:

  • Người đang mắc một trong những bệnh ung thư, bại liệt, xơ gan mất bù, lao nặng, AIDS.
  • Người có mức suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên; người khuyết tật đặc biệt nặng.

(Khoản 2, 3 Điều 102 Luật Bảo hiểm xã hội 2024).