Báo giảm BHXH nhầm tháng phải làm thế nào
Báo giảm BHXH nhầm tháng phải làm thế nào

1. Báo giảm bảo hiểm xã hội nhầm tháng thì phải làm gì?

Theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, khi có sự nhầm lẫn về tháng trong quá trình báo giảm Bảo hiểm xã hội (BHXH), đơn vị cần thực hiện việc sửa lỗi này theo quy trình sau: Ban đầu, doanh nghiệp đã lập hồ sơ báo giảm tham gia BHXH theo quy định trước đó. Tuy nhiên, do một sai sót nào đó, đã xảy ra báo giảm BHXH nhầm tháng.

Ví dụ cụ thể là khi một nhân viên của doanh nghiệp nghỉ việc từ ngày 01/11/2023, nhưng hồ sơ báo giảm lại được lập vào ngày 01/10/2023. Trong tình huống này, doanh nghiệp cần phải thực hiện lại quy trình báo giảm lao động, bao gồm việc lập báo cáo về tình hình sử dụng lao động và danh sách tham gia BHXH.

Sau đó, doanh nghiệp tiến hành bổ sung đầy đủ các hồ sơ cần thiết và gửi chúng đến cơ quan BHXH liên quan. Cơ quan Bảo hiểm xã hội sau khi tiếp nhận hồ sơ sẽ thực hiện quá trình xử lý điều chỉnh giảm đóng BHXH theo tháng chính xác. Điều này nhằm đảm bảo quyền lợi của người lao động được đối xử đúng và công bằng.

Qua quá trình này, doanh nghiệp không chỉ giữ vững quy định của pháp luật mà còn đảm bảo rằng họ tiết kiệm được các chi phí BHXH mà có thể phát sinh nếu sự cố không được khắc phục kịp thời.

Như vậy thì khi mà doanh nghiệp báo giảm nhầm tháng bảo hiểm xã hội thì cần phải liên hệ ngay với cơ quan bảo hiểm xã hội để điều chỉnh lại thời gian giảm đóng bảo hiểm xã hội theo tháng chính xác nhất.

2. Quy định về truy thu do báo giảm bảo hiểm xã hội nhầm tháng

Theo khoản 1 Điều 38 của Quyết định 595/QĐ-BHXH, có quy định về các trường hợp truy thu Bảo hiểm xã hội (BHXH). Trong tình huống mà doanh nghiệp báo giảm BHXH nhầm tháng và không thực hiện kiểm tra cũng như làm hồ sơ cập nhật lại, theo quy định:

- Số tháng báo giảm sai lệch: Số tháng mà doanh nghiệp đã báo giảm sai lệch sẽ được xem như là doanh nghiệp chưa đóng BHXH cho những tháng đó.

- Truy thu BHXH: Cơ quan BHXH sẽ thực hiện quy trình truy thu BHXH đối với những tháng mà doanh nghiệp chưa đóng đúng theo quy định.

- Trường hợp trốn đóng BHXH: Vì do sự nhầm lẫn và việc không kiểm tra cập nhật, trường hợp này có thể được coi là trốn đóng BHXH đối với những tháng tương ứng. Trong trường hợp mà doanh nghiệp báo giảm Bảo hiểm xã hội (BHXH) nhầm tháng và không thực hiện kiểm tra cập nhật, có thể xem xét và coi đó là trường hợp trốn đóng BHXH đối với những tháng tương ứng. Điều này nghĩa là doanh nghiệp đã không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình liên quan đến việc đóng BHXH trong khoảng thời gian đó. Việc coi đây là trường hợp trốn đóng BHXH thường đi kèm với các biện pháp pháp lý nhằm đảm bảo tuân thủ và công bằng trong hệ thống Bảo hiểm xã hội. Cơ quan quản lý BHXH có thể thực hiện các biện pháp truy thu số tiền nợ BHXH, áp đặt phạt, và có thể áp dụng các biện pháp pháp lý khác theo quy định của pháp luật. Quan trọng nhất là doanh nghiệp cần phải chịu trách nhiệm và thực hiện đúng các quy định về đóng BHXH để bảo vệ quyền lợi của người lao động và duy trì tính công bằng trong hệ thống Bảo hiểm xã hội.

- Số tiền truy thu bảo hiểm xã hội: Số tiền truy thu sẽ bao gồm cả số tiền phải đóng theo quy định và một khoản tiền lãi. Tiền lãi sẽ được tính dựa trên thời gian mà doanh nghiệp đã trốn đóng và theo mức lãi suất chậm đóng theo quy định. Là số tiền mà doanh nghiệp phải nộp theo quy định của pháp luật về BHXH cho những tháng mà đã trốn đóng hoặc đóng không đúng cách. Là một khoản tiền lãi được tính dựa trên thời gian mà doanh nghiệp đã trốn đóng BHXH và theo mức lãi suất chậm đóng được quy định. Thông thường, mức lãi suất này được xác định bởi cơ quan quản lý, và áp dụng cho số tiền nợ BHXH chậm trễ. Số tiền truy thu BHXH này có mục đích không chỉ là để khôi phục số tiền chưa đóng đầy đủ theo quy định mà còn để áp đặt hậu quả pháp lý và tạo động lực cho doanh nghiệp thực hiện đúng nghĩa vụ BHXH.

Quy trình này nhằm đảm bảo rằng doanh nghiệp chịu trách nhiệm đầy đủ về việc đóng BHXH và sẽ phải chịu hậu quả nếu có sự nhầm lẫn không được sửa chữa kịp thời. Truy thu BHXH là biện pháp để đảm bảo tính công bằng và tuân thủ đúng quy định của pháp luật trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội.

3. Doanh nghiệp chậm báo giảm lao động thì có bị xử phạt hay không?

Theo quy định của Điều 50 Quyết định số 595/QĐ-BHXH, nếu doanh nghiệp báo giảm lao động chậm, có thể áp dụng các biện pháp sau:

- Đóng số tiền bảo hiểm y tế: Doanh nghiệp sẽ phải đóng số tiền bảo hiểm y tế của tháng báo giảm chậm đó. Điều này nhằm đảm bảo rằng người lao động vẫn được hưởng các quyền lợi y tế theo quy định. quy định về việc đóng số tiền bảo hiểm y tế của tháng báo giảm chậm là để đảm bảo rằng người lao động vẫn có quyền lợi y tế đầy đủ theo quy định, mặc dù có sự giảm người lao động từ thời điểm đó. Điều này là quan trọng để bảo vệ quyền lợi và sức khỏe của người lao động, ngay cả khi có sự thay đổi trong số lượng lao động của doanh nghiệp. Quy định này không chỉ nhấn mạnh sự trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc duy trì đầy đủ quyền lợi y tế cho nhân viên mà còn tạo động lực để doanh nghiệp thực hiện quy trình báo giảm đúng hạn. Đóng số tiền bảo hiểm y tế là một biện pháp pháp lý để đảm bảo tính liên tục và đồng đều của quyền lợi y tế cho người lao động trong quá trình chuyển động nhân sự của doanh nghiệp.

- Giữ giá trị thẻ bảo hiểm y tế: Thẻ bảo hiểm y tế của người lao động sẽ được giữ giá trị sử dụng đến hết các tháng tương ứng với việc doanh nghiệp báo giảm chậm. Quy định về việc giữ giá trị thẻ bảo hiểm y tế là một biện pháp nhằm đảm bảo rằng người lao động vẫn có quyền lợi y tế đầy đủ trong suốt thời kỳ mà doanh nghiệp báo giảm chậm. Thông qua việc giữ giá trị thẻ bảo hiểm y tế, quy định này giữ cho người lao động được bảo vệ và sử dụng quyền lợi y tế của mình, mặc dù có sự giảm người lao động trong doanh nghiệp. Điều này cũng là một biện pháp khuyến khích doanh nghiệp thực hiện quy trình báo giảm đúng hạn, vì việc giữ giá trị thẻ bảo hiểm y tế đến hết thời kỳ báo giảm chậm giúp duy trì tính ổn định và liên tục của quyền lợi y tế cho người lao động. Đồng thời, việc giữ giá trị thẻ cũng phản ánh sự chấp nhận trách nhiệm của doanh nghiệp đối với quyền lợi của nhân viên, và đảm bảo rằng họ vẫn có quyền sử dụng các dịch vụ y tế mà họ được hưởng theo chính sách bảo hiểm y tế.

- Lập hồ sơ báo giảm theo quy định: Nếu doanh nghiệp quyết định lập hồ sơ báo giảm từ ngày 28 tháng trước, phải đảm bảo rằng không báo phát sinh thêm tháng trước đó. Trong quá trình lập hồ sơ báo giảm từ ngày 28 tháng trước, doanh nghiệp cần đảm bảo rằng không có thông tin báo phát sinh thêm trong tháng trước đó. Điều này nhằm tránh tình trạng thông tin không nhất quán và đảm bảo tính chính xác của hồ sơ.

Mặc dù không có mức phạt cụ thể được đề cập trong quy định, nhưng việc đóng số tiền bảo hiểm y tế là một hình phạt tự nhiên để khuyến khích doanh nghiệp tuân thủ quy định và thực hiện báo giảm đúng hạn. Các biện pháp này giúp đảm bảo tính ổn định và công bằng trong hệ thống Bảo hiểm xã hội. Hình phạt này giúp tạo ra một môi trường công bằng trong hệ thống Bảo hiểm xã hội, nơi mọi doanh nghiệp đều được đối xử bình đẳng và chịu trách nhiệm đầy đủ về việc đóng BHXH.

4. Đóng BHXH 15 năm cũng sẽ được hưởng lương hưu

Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 có nhiều điểm mới so với Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, đặc biệt trong đó có nhiều quy định giúp mở rộng quyền lợi cho người tham gia BHXH, trong đó có quy định về việc sẽ giảm điều kiện về số năm đóng BHXH tối thiểu từ 20 năm xuống còn 15 năm để được hưởng lương hưu hàng tháng.

Hiện nay, theo Luật Bảo hiểm xã hội 2014, thời gian đóng BHXH tối thiểu để có cơ hội được hưởng chế độ hưu trí của hầu hết các trường hợp đều là đủ 20 năm.

Thời gian này được đánh giá còn khá dài dẫn tới nhiều người không tích lũy đủ số năm đóng BHXH để được hưởng lương hưu.

Tuy nhiên, từ 01/7/2025, theo Điều 64 Luật BHXH năm 2024, người lao động đủ tuổi nghỉ hưu và khi nghỉ việc có thời gian đóng BHXH bắt buộc từ đủ 15 năm trở lên thì cũng sẽ được hưởng lương hưu.

Với quy định điều kiện về thời gian đóng BHXH tối thiểu chỉ còn 15 năm thì cơ hội được hưởng lương hưu hằng tháng của người lao động cũng sẽ tăng cao hơn so với trước kia.

5. Bổ sung cách tính mức hưởng lương hưu hằng tháng từ năm 2025

Hiện nay, tỷ lệ lương hưu hằng tháng của người lao động đang được quy định tại Điều 56 Luật BHXH năm 2014 như sau:

Lao động nam

Lao động nữ

- Đóng đủ 20 năm BHXH thì được hưởng 45%.

- Sau đó, cứ thêm mỗi năm được tính thêm 2%.

- Mức hưởng tối đa là 75%.

- Đóng đủ 15 năm BHXH thì được hưởng 45%.

- Sau đó, cứ thêm mỗi năm được tính thêm 2%.

- Mức hưởng tối đa là 75%.

Trường hợp nghỉ hưu trước tuổi do suy giảm lao động: Mỗi năm nghỉ hưu sẽ bị trừ 2% vào tổng tỷ lệ hưởng.

Tuy nhiên, từ 01/7/2025, người lao động có 15 năm tham gia BHXH cũng sẽ được hưởng lương hưu nên Luật Bảo hiểm xã hội 2024 đã bổ sung thêm cách tính mức hưởng lương hưu với lao động nam có thời gian tham gia BHXH từ 15 năm đến dưới 20 năm tại điểm b Khoản 1 Điều 66 Luật BHXH năm 2024.

Theo đó, từ 01/7/2025, lao động nam có 15 năm tham gia BHXH sẽ được hưởng 40% mức lương bình quân, và mức hưởng cao nhất là 75% mức lương bình quân đối với lao động nam có 35 năm tham gia BHXH.

Đối với lao động nữ, mức hưởng sẽ là 45% mức lương bình quân khi tham gia BHXH 15 năm và mức hưởng cao nhất là 75% đối với lao động có 30 năm tham gia BHXH.

6. Giảm độ tuổi được hưởng trợ cấp hưu trí xã hội

Theo khoản 2 Điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, trợ cấp hưu trí xã hội là loại hình BHXH do ngân sách nhà nước bảo đảm, được xây dựng trên cơ sở kế thừa và phát triển một phần từ quy định về trợ cấp xã hội hằng tháng với người cao tuổi không có lương hưu, trợ cấp BHXH hằng tháng.

Theo đó, từ 01/7/2025, độ tuổi được hưởng trợ cấp hưu trí xã hội của người lao động sẽ được giảm xuống còn 75 tuổi theo Điều 21 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 (hiện hành là 80 tuổi).

Riêng đối với người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo thì từ đủ 70 - dưới 75 tuổi sẽ được hưởng trợ cấp hưu trí xã hội.

7. Tăng quyền lợi để khuyến khích người lao động hưởng lương hưu thay vì nhận BHXH một lần

Luật Bảo hiểm xã hội 2024 bổ sung quy định nhằm gia tăng quyền lợi, tăng tính hấp dẫn, khuyến khích người lao động bảo lưu thời gian đóng để hưởng lương hưu thay vì nhận BHXH một lần.

Theo đó, từ 01/7/2025, người lao động không hưởng BHXH một lần mà bảo lưu thời gian đóng để tiếp tục tham gia thì có cơ hội được thụ hưởng các quyền lợi cao hơn như:

- Được hưởng các chế độ với mức hưởng cao hơn khi tiếp tục tham gia BHXH.

- Được hưởng lương hưu với điều kiện dễ dàng hơn

- Trong thời gian hưởng lương hưu được Quỹ BHXH đóng BHYT

- Được hưởng trợ cấp hằng tháng khi không đủ điều kiện hưởng lương hưu và chưa đủ tuổi hưởng trợ cấp hưu trí xã hội

- Trong thời gian hưởng trợ cấp hằng tháng thì được ngân sách Nhà nước đóng BHYT.

Tăng quyền lợi cho người tham gia BHXH
Tăng quyền lợi cho người tham gia BHXH

8. Bổ sung trợ cấp hưu trí xã hội cho người không có lương hưu

Trợ cấp hưu trí xã hội là một sự bổ sung về chế độ cần thiết để góp phần đảm bảo cuộc sống cho những người lao động không có lương hưu hay trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng khi về hưu.

Khoản 2 Điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 giải thích trợ cấp hưu trí xã hội là loại hình bảo hiểm xã hội do ngân sách nhà nước bảo đảm cho người cao tuổi đủ điều kiện theo quy định.

Theo Điều 21 Luật Bảo hiểm xã hội, công dân Việt Nam được hưởng trợ cấp hưu trí xã hội khi có đủ các điều kiện:

(1) Từ đủ 75 tuổi trở lên;

(2) Không hưởng lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng, trừ trường hợp khác theo quy định của Chính phủ;

(3) Có văn bản đề nghị hưởng trợ cấp hưu trí xã hội.

Ngoài ra, công dân Việt Nam từ đủ 70 tuổi đến dưới 75 tuổi thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo và đáp ứng đủ điều kiện quy định tại điểm (2) và điểm (3) thì được hưởng trợ cấp hưu trí xã hội.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh giảm dần độ tuổi hưởng trợ cấp hưu trí xã hội trên cơ sở đề nghị của Chính phủ phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội và khả năng của ngân sách nhà nước từng thời kỳ.

Bổ sung trợ cấp hưu trí cho người không có lương hưu
Bổ sung trợ cấp hưu trí cho người không có lương hưu

9. Thêm đối tượng được rút BHXH 1 lần từ 01/7/2025

Theo Điều 70 và Điều 102 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 đã bổ sung thêm 2 đối tượng được rút bảo hiểm xã hội 1 lần từ ngày 1/7/2025, gồm:

- Người có mức suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên;

- Người khuyết tật đặc biệt nặng.

Người bị bệnh phong không được rút BHXH 1 lần từ 01/7/2025

Cụ thể tại điểm c khoản 1 Điều 60 và điểm c khoản 1 Điều 77 Luật Bảo hiểm xã hội 2014 thì một trong những trường hợp được hưởng BHXH 01 lần là:

c) Người đang bị mắc một trong những bệnh nguy hiểm đến tính mạng như ung thư, bại liệt, xơ gan cổ chướng, phong, lao nặng, nhiễm HIV đã chuyển sang giai đoạn AIDS và những bệnh khác theo quy định của Bộ Y tế.

Tuy nhiên, điểm c khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 70 và điểm c khoản 1 Điều 102 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 đã thay đổi quy định này. Theo đó, trường hợp người tham gia BHXH mà có đề nghị thì được hưởng BHXH 01 lần nếu thuộc 01 trong các trường hợp:

b) Người đang mắc một trong những bệnh ung thư, bại liệt, xơ gan mất bù, lao nặng, AIDS;

Như vậy, với quy định này đã bỏ đi trường hợp người bị bệnh phong được hưởng BHXH 1 lần, đồng thời thay bệnh xơ gan cổ chướng bằng bệnh xơ gan mất bù.

10. Mức hưởng BHXH 1 lần từ 01/7/2025

(1) Đối với người tham gia BHXH bắt buộc

Mức hưởng BHXH 1 lần được tính theo số năm đã đóng và căn cứ đóng BHXH nhưng không bao gồm số tiền ngân sách nhà nước hỗ trợ đóng BHXH tự nguyện, cứ mỗi năm được tính như sau:

- Bằng 1,5 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH đối với năm đóng trước năm 2014.

Trường hợp có thời gian đóng BHXH trước và sau năm 2014 mà thời gian đóng trước năm 2014 có tháng lẻ thì những tháng lẻ đó được chuyển sang giai đoạn đóng BHXH từ năm 2014 trở đi để tính BHXH 1 lần;

- Bằng 02 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH đối với năm đóng từ năm 2014 trở đi;

- Trường hợp thời gian đóng BHXH chưa đủ một năm thì mức hưởng bằng số tiền đã đóng nhưng không quá 02 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH.

Riêng đối với các trường hợp sau thì mức hưởng BHXH 1 lần được tính theo số năm đã đóng và căn cứ đóng BHXH bao gồm số tiền ngân sách nhà nước hỗ trợ đóng BHXH tự nguyện; việc tính mức hưởng mỗi năm thực hiện theo quy định trên:

- Người đang mắc một trong những bệnh ung thư, bại liệt, xơ gan mất bù, lao nặng, AIDS.

- Người có mức suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên; người khuyết tật đặc biệt nặng.

(Khoản 3, 4 Điều 70 Luật Bảo hiểm xã hội 2024)

(2) Đối với người tham gia BHXH tự nguyện

Mức hưởng BHXH 1 lần được tính theo số năm đã đóng và căn cứ đóng BHXH, cứ mỗi năm được tính như sau:

- Bằng 1,5 lần của mức bình quân thu nhập tháng đóng BHXH đối với năm đóng trước năm 2014.

Trường hợp thời gian đóng BHXH có cả trước và sau năm 2014 mà thời gian đóng trước năm 2014 có tháng lẻ thì những tháng lẻ đó được chuyển sang giai đoạn đóng BHXH từ năm 2014 trở đi để tính mức hưởng BHXH 1 lần;

- Bằng 02 lần của mức bình quân thu nhập tháng đóng BHXH đối với năm đóng từ năm 2014 trở đi;

- Trường hợp thời gian đóng BHXH chưa đủ một năm thì mức hưởng bằng số tiền đã đóng nhưng không quá 02 lần của mức bình quân thu nhập làm căn cứ đóng BHXH.

Mức hưởng BHXH 1 lần của đối tượng được Nhà nước hỗ trợ thực hiện theo quy định trên không bao gồm số tiền ngân sách nhà nước hỗ trợ đóng BHXH tự nguyện, trừ trường hợp:

- Người đang mắc một trong những bệnh ung thư, bại liệt, xơ gan mất bù, lao nặng, AIDS.

- Người có mức suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên; người khuyết tật đặc biệt nặng.

(Khoản 2, 3 Điều 102 Luật Bảo hiểm xã hội 2024).