Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự phạt tù đến 3 năm mới nhất 2025?

Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự phạt tù đến 3 năm mới nhất?

1. Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự phạt tù đến 3 năm mới nhất 2025?

Hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự có mức phạt tù cao nhất là 3 năm theo quy định mới nhất.

Cụ thể, hành vi cho vay vượt mức lãi quy định cho phép là vi phạm pháp luật và sẽ phải chịu sự chế tài của pháp luật. Căn cứ vào Điều 201 Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi bởi điểm i khoản 2 Điều 2 Luật Sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017, tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự được xử lý theo các khung sau:

“1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2. Phạm tội thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”

Chi tiết hơn, Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP 2021 hướng dẫn áp dụng Điều 201 Bộ Luật Hình sự và việc xét xử vụ án hình sự về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự, tại Điều 7 cũng quy định truy cứu trách nhiệm hình sự trong một số trường hợp cụ thể:

  • Trường hợp người thực hiện nhiều lần hành vi cho vay lãi nặng, mà số tiền thu lợi bất chính của mỗi lần phạm tội từ 30.000.000 đồng trở lên, nếu mỗi lần phạm tội đều chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, thì ngoài việc bị áp dụng khung hình phạt tương ứng với tổng số tiền thu lợi bất chính, họ còn bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
  • Trường hợp người thực hiện nhiều lần hành vi cho vay lãi nặng mà các lần thu lợi bất chính đều dưới 30.000.000 đồng nhưng tổng số tiền thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng trở lên và các hành vi này chưa lần nào bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính, thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự với khung hình phạt tương ứng với tổng số tiền thu lợi bất chính của các lần cho vay lãi nặng, không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
  • Trường hợp người thực hiện nhiều lần hành vi cho vay lãi nặng, trong đó có một lần cho vay lãi nặng, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng trở lên và hành vi cho vay lãi nặng này chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự; còn các hành vi cho vay lãi nặng khác thu lợi bất chính dưới 30.000.000 đồng, các hành vi này chưa bị xử phạt vi phạm hành chính và chưa hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính, thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự với khung hình phạt tương ứng với tổng số tiền thu lợi bất chính của các lần cho vay lãi nặng, không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
  • Trường hợp người cho vay lãi nặng thực hiện nhiều hành vi khác nhau liên quan đến việc đòi nợ như: dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, uy hiếp tinh thần, gây thương tích, gây tổn hại sức khỏe hoặc có hành vi khác để lấy tài sản, … thì tùy từng trường hợp họ còn bị xử lý hình sự về tội phạm tương ứng, nếu đủ yếu tố cấu thành tội phạm.
  • Trường hợp người cho vay lãi nặng nhằm thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng trở lên, nhưng vì nguyên nhân ngoài ý muốn mà người cho vay chưa thu lợi bất chính hoặc đã thu lợi bất chính dưới 30.000.000 đồng, thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khung hình phạt tương ứng với tổng số tiền thu lợi bất chính mà họ nhằm đạt được. Việc xác định số tiền thu lợi bất chính được thực hiện theo hướng dẫn tại Điều 6 Nghị quyết này. Khi quyết định hình phạt, Tòa án áp dụng Điều 15 và khoản 3 Điều 57 của Bộ luật Hình sự về phạm tội chưa đạt.

Như vậy, người nào cho vay nặng lãi thì tùy theo từng trường hợp cụ thể sẽ có mức phạt riêng đối với từng trường hợp. Điều đáng nói, người phạm tội có thể sẽ vừa bị phạt hành chính và hình sự như phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 1 tỷ đồng, bị phạt tù hoặc bị cấm đảm nhận chức vụ hay hành nghề từ 1 đến 5 năm.

2. Cho vay nặng lãi là như thế nào?

Cho vay với lãi suất vượt quá 20%/năm được coi là cho vay nặng lãi, và phần lãi vượt quá sẽ không có hiệu lực pháp lý.

Theo quy định Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 quy định lãi suất:

“1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.

Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.

Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.

2. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ.”

Theo đó, các bên khi vay mượn với nhau sẽ tự thỏa thuận về mức lãi suất phải trả, nhưng tối đa không được quá 20% một năm hay 1,666% một tháng. Trường hợp các bên cho vay bằng tài sản khác ngoài tiền thì khi giải quyết sẽ quy đổi giá trị tài sản đó thành tiền tại thời điểm bên cho vay chuyển giao tài sản vay cho bên vay.

3. Làm thế nào để xác định số tiền thu lợi bất chính?

Theo Điều 6 Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP 2021 đã quy định rõ về các xác định số tiền thu lợi bất chính để xử lý trách nhiệm hình sự như sau:

"1. Trường hợp cho vay lãi nặng đã hết thời hạn vay theo thỏa thuận thì số tiền thu lợi bất chính để xác định trách nhiệm hình sự bao gồm tiền lãi và các khoản thu trái pháp luật khác mà người vay phải trả cho người cho vay sau khi trừ đi số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự trong cả kỳ hạn vay.

2. Trường hợp cho vay lãi nặng chưa hết thời hạn vay theo thỏa thuận mà bị phát hiện thì số tiền thu lợi bất chính để xác định trách nhiệm hình sự bao gồm tiền lãi và các khoản thu trái pháp luật khác mà người vay phải trả cho người cho vay sau khi trừ đi số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự tính đến thời điểm cơ quan có thẩm quyền phát hiện và ngăn chặn.

Trường hợp bên vay đã trả tiền lãi trước hạn và các khoản thu trái pháp luật khác thì số tiền thu lợi bất chính để xác định trách nhiệm hình sự bao gồm tiền lãi và các khoản thu trái pháp luật khác mà người vay thực tế đã trả cho người cho vay sau khi trừ đi số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự."

Ví dụ: Anh A cho chị B vay 50 triệu đồng với lãi suất 240%/năm, tương đương 20%/tháng. Trong khi đó, theo quy định, lãi suất cho vay tối đa không được vượt quá 20%/năm.

Giả sử chị B trả lãi trong 6 tháng:

  • Lãi suất hợp pháp: 50 triệu x (20%/12) x 6 tháng = 5 triệu đồng
  • Lãi suất anh A thực thu: 50 triệu x (240%/12) x 6 tháng = 60 triệu đồng

Vậy số tiền anh A thu lợi bất chính = 60 triệu - 5 triệu = 55 triệu đồng

Làm thế nào để xác định số tiền thu lợi bất chính?

Làm thế nào để xác định số tiền thu lợi bất chính?

4. Nguyên tắc xử lý đối với người phạm tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự như thế nào?

Căn cứ theo Điều 3 Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP quy định về nguyên tắc xử lý đối với người phạm tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự cụ thể như sau:

  • Tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của pháp luật hình sự và tố tụng hình sự.
  • Xem xét áp dụng nghiêm khắc hình phạt tiền là hình phạt chính đối với người thực hiện hành vi phạm tội. Trường hợp phạm tội có tính chất chuyên nghiệp, hoạt động dưới hình thức băng, ổ nhóm thì xem xét áp dụng hình phạt tù là hình phạt chính.
  • Trường hợp hình phạt chính được áp dụng không phải hình phạt tiền thì phải xem xét áp dụng nghiêm khắc hình phạt bổ sung là hình phạt tiền.

5. Các câu hỏi thường gặp:

5.1. Có được trả lại tiền nếu người cho vay lãi nặng bị truy cứu trách nhiệm hình sự?

Căn cứ Điều 5 Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP quy định xử lý vật, tiền liên quan trực tiếp đến tội phạm; người vay tiền được trả lại tiền thu lợi bất chính mà người phạm tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự thực tế đã thu. Trừ trường hợp người vay tiền sử dụng tiền vay vào mục đích bất hợp pháp thì khoản tiền thu lợi bất chính bị tịch thu sung quỹ nhà nước.

5.2. Người đi vay nặng lãi có bị xử phạt không?

Theo quy định của Bộ luật Hình sự 2015 thì người đi vay nặng lãi sẽ không bị xử phạt hành chính hay hình sự trừ khi có hành vi giúp sức, tiếp tay cho người cho vay nặng lãi hoạt động có tổ chức; sử dụng tiền vay để phạm tội (ví dụ: lừa đảo, đánh bạc, rửa tiền...); hoặc cố tình không trả nợ với mục đích chiếm đoạt.

5.3. Bị đối tượng cho vay nặng lãi uy hiếp dùng vũ lực đòi nợ, phải làm gì?

  • Thu thập tài liệu, chứng cứ chứng minh hành vi cho vay nặng lãi thông qua hợp đồng vay, giấy ghi nợ,...
  • Tố cáo đến cơ quan chức năng khi bị các đối tượng cho vay lãi nặng tấn công về các hành vi vi phạm pháp luật
  • Đề nghị được bảo vệ. Yêu cầu cơ quan điều tra áp dụng biện pháp bảo vệ trong quá trình cơ quan điều tra giải quyết khi có căn cứ xác định tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm bị xâm hại hoặc bị đe dọa xâm hại theo quy định tại Điều 486 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.

5.4. Mức hình phạt đối với người phạm tội cho vay nặng lãi mà thu lợi bất chính từ 30 triệu đồng đến dưới 100 triệu đồng là gì?

Người phạm tội trong trường hợp này sẽ bị phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 200 triệu đồng, hoặc bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

5.5. Nếu người phạm tội cho vay nặng lãi thu lợi bất chính từ 100 triệu đồng trở lên thì bị xử phạt thế nào?

Người phạm tội trong trường hợp này sẽ bị phạt tiền từ 200 triệu đồng đến 1 tỷ đồng, hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

5.6. Ngoài các hình phạt chính, người phạm tội cho vay nặng lãi còn có thể chịu thêm hình phạt bổ sung nào?

Ngoài hình phạt chính, người phạm tội còn có thể bị phạt bổ sung gồm: phạt tiền từ 30 triệu đồng đến 100 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, hoặc cấm hành nghề hay làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.