Tìm kiếm
Chương XII Bộ luật hình sự 2015: Những quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
| Số hiệu: | 100/2015/QH13 | Loại văn bản: | Luật |
| Nơi ban hành: | Quốc hội | Người ký: | Nguyễn Sinh Hùng |
| Ngày ban hành: | 27/11/2015 | Ngày hiệu lực: | 01/01/2018 |
| Ngày công báo: | 31/12/2015 | Số công báo: | Từ số 1263 đến số 1264 |
| Lĩnh vực: | Trách nhiệm hình sự | Tình trạng: | Còn hiệu lực |
TÓM TẮT VĂN BẢN
Bộ luật hình sự 2015 vừa được ban hành ngày 27/11/2015 với các quy định mới về tội phạm; những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự; thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự; hình phạt; các biện pháp tư pháp; quyết định hình phạt; chấp hành hình phạt; xóa án tích; pháp nhân thương mại phạm tội;…
Bộ luật hình sự 2015 gồm 3 Phần, 26 Chương, 426 Điều (thay vì Bộ Luật Hình sự 1999 gồm 2 Phần, 24 Chương, 344 Điều). Cấu trúc Bộ luật hình sự năm 2015 có nhiều thay đổi so với BLHS cũ như sau:
Phần thứ nhất: Những quy định chung
Chương I. Điều khoản cơ bản
Chương II. Hiệu lực của BLHS 2015
Chương III. Tội phạm
Chương IV. Những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự
Chương V. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự
Chương VI. Hình phạt
Chương VII. Các biện pháp tư pháp
Chương VIII. Quyết định hình phạt
Chương IX. Thời hiệu thi hành bản án, Miễn chấp hành hình phạt, Giảm thời hạn chấp hành hình phạt
Chương X. Xóa án tích
Chương XI. Những quy định đối với pháp nhân thương mại phạm tội
Chương XII. Những quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
Phần thứ hai: Các tội phạm
Chương XIII. Các tội xâm phạm an ninh quốc gia
Chương XIV. Các tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người
Chương XV. Các tội xâm phạm quyền tự do của con người, quyền tự do, dân chủ của công dân
Chương XVI. Các tội xâm phạm sở hữu
Chương XVII. Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình
Chương XVIII. Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế
Chương XIX. Các tội phạm về môi trường
Chương XX. Các tội phạm về ma túy
Chương XXI. Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng
Chương XXII. Các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính
Chương XXIII. Các tội phạm về chức vụ
Chương XXIV. Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp
Chương XXV. Các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân và trách nhiệm của người phối thuộc với quân đội trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu
Chương XXVI. Các Tội phá hoại hòa bình, chống loài người và Tội phạm chiến tranh
Phần thứ ba: Điều khoản thi hành
Theo đó, Bộ luật hình sự 2015 có những điểm sau đáng chú ý:
- Tuổi chịu trách nhiệm hình sự
+ Điều 12 Luật hình sự 2015 có quy định người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác.
+ Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, tội hiếp dâm, tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các Điều quy định cụ thể ở Điều 12 Bộ luật hình sự năm 2015.
- Quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng
+ Theo Điều 54 BLHS năm 2015, Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật HS 2015.
+ Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật đối với người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể.
+ Nhưng nếu điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất, thì Tòa án có thể quyết định chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn.
- Tha tù trước thời hạn có điều kiện
Người đang chấp hành án phạt tù có thể được tha tù trước thời hạn khi có đủ các điều kiện sau đây:
+ Phạm tội lần đầu;
+ Có nhiều tiến bộ, có ý thức cải tạo tốt;
+ Đã được giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù đối với người bị kết án về tội phạm nghiêm trọng trở lên;
+ Có nơi cư trú rõ ràng;
+ Đã chấp hành xong hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, án phí và các nghĩa vụ bồi thường dân sự;
Và một số điều kiện khác tại Điều 66 Luật hình sự 2015.
- Điều kiện chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại
Điều 75 Bộ luật hình sự 2015 quy định pháp nhân thương mại chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi có đủ các điều kiện sau đây:
+ Hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại;
+ Hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại;
+ Hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại;
+ Chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự tại khoản 2 và khoản 3 Điều 27 của BLHS 2015.
- Tội tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại
Bộ luật HS năm 2015 quy định người nào tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
Bộ luật hình sự 2015 có hiệu lực từ ngày 01/07/2016.
Văn bản tiếng việt
Văn bản tiếng anh
Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo những quy định của Chương này; theo quy định khác của Phần thứ nhất của Bộ luật này không trái với quy định của Chương này.
1. Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi và chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội.
Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải căn cứ vào độ tuổi, khả năng nhận thức của họ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm.
2. Người dưới 18 tuổi phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tự nguyện khắc phục phần lớn hậu quả, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 29 của Bộ luật này, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng các biện pháp quy định tại Mục 2 Chương này:
a) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng, trừ trường hợp quy định tại Điều 134 (tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác); Điều 141 (tội hiếp dâm); Điều 171 (tội cướp giật tài sản); Điều 248 (tội sản xuất trái phép chất ma túy); Điều 249 (tội tàng trữ trái phép chất ma túy); Điều 250 (tội vận chuyển trái phép chất ma túy); Điều 251 (tội mua bán trái phép chất ma túy); Điều 252 (tội chiếm đoạt chất ma túy) của Bộ luật này;
b) Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý quy định tại khoản 2 Điều 12 của Bộ luật này, trừ trường hợp quy định tại Điều 123 (tội giết người); Điều 134, các khoản 4, 5 và khoản 6 (tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác); Điều 141 (tội hiếp dâm), Điều 142 (tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi); Điều 144 (tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi); Điều 150 (tội mua bán người); Điều 151 (tội mua bán người dưới 16 tuổi); Điều 168 (tội cướp tài sản); Điều 171 (tội cướp giật tài sản); Điều 248 (tội sản xuất trái phép chất ma túy); Điều 249 (tội tàng trữ trái phép chất ma túy); Điều 250 (tội vận chuyển trái phép chất ma túy); Điều 251 (tội mua bán trái phép chất ma túy); Điều 252 (tội chiếm đoạt chất ma túy) của Bộ luật này;
c) Người dưới 18 tuổi là người đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể trong vụ án.
3. Việc truy cứu trách nhiệm hình sự người dưới 18 tuổi phạm tội chỉ trong trường hợp cần thiết và phải căn cứ vào những đặc điểm về nhân thân của họ, tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm.
4. Khi xét xử, Tòa án chỉ áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội nếu xét thấy việc miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng một trong các biện pháp quy định tại Mục 2 hoặc việc áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng quy định tại Mục 3 Chương này không bảo đảm hiệu quả giáo dục, phòng ngừa.
5. Không xử phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.
6. Tòa án chỉ áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khi xét thấy các hình phạt và biện pháp giáo dục khác không có tác dụng răn đe, phòng ngừa.
Khi xử phạt tù có thời hạn, Tòa án cho người dưới 18 tuổi phạm tội được hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người đủ 18 tuổi trở lên phạm tội tương ứng và với thời hạn thích hợp ngắn nhất.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.
7. Án đã tuyên đối với người chưa đủ 16 tuổi phạm tội, thì không tính để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm.
Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án chỉ quyết định miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng biện pháp khiển trách, hòa giải tại cộng đồng hoặc biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, nếu người dưới 18 tuổi phạm tội hoặc người đại diện hợp pháp của họ đồng ý với việc áp dụng một trong các biện pháp này.
1. Khiển trách được áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong những trường hợp sau đây nhằm giúp họ nhận thức rõ hành vi phạm tội và hậu quả gây ra đối với cộng đồng, xã hội và nghĩa vụ của họ:
a) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng;
b) Người dưới 18 tuổi là người đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án.
2. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án quyết định áp dụng biện pháp khiển trách. Việc khiển trách đối với người dưới 18 tuổi phạm tội phải có sự chứng kiến của cha mẹ hoặc người đại diện hợp pháp của người dưới 18 tuổi.
3. Người bị khiển trách phải thực hiện các nghĩa vụ sau đây:
a) Tuân thủ pháp luật, nội quy, quy chế của nơi cư trú, học tập, làm việc;
b) Trình diện trước cơ quan có thẩm quyền khi được yêu cầu;
c) Tham gia các chương trình học tập, dạy nghề do địa phương tổ chức, tham gia lao động với hình thức phù hợp.
4. Tùy từng trường hợp cụ thể cơ quan có thẩm quyền ấn định thời gian thực hiện các nghĩa vụ quy định tại điểm b và điểm c khoản 3 Điều này từ 03 tháng đến 01 năm.
1. Hòa giải tại cộng đồng được áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong những trường hợp sau đây:
a) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng;
b) Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 91 của Bộ luật này.
2. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức việc hòa giải tại cộng đồng khi người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại đã tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự.
3. Người được áp dụng biện pháp hòa giải tại cộng đồng phải thực hiện các nghĩa vụ sau đây:
a) Xin lỗi người bị hại và bồi thường thiệt hại;
1. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án có thể áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn từ 01 năm đến 02 năm đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong những trường hợp sau đây:
a) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng quy định tại điểm a khoản 2 Điều 91 của Bộ luật này;
b) Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 91 của Bộ luật này.
2. Người được Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án giao cho Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức giám sát, giáo dục phải thực hiện các nghĩa vụ sau đây:
a) Chấp hành đầy đủ nghĩa vụ về học tập, lao động;
b) Chịu sự giám sát, giáo dục của gia đình, xã, phường, thị trấn;
c) Không đi khỏi nơi cư trú khi không được phép;
d) Các nghĩa vụ theo quy định tại khoản 3 Điều 93 của Bộ luật này.
3. Nếu người được giáo dục tại xã, phường, thị trấn đã chấp hành một phần hai thời hạn, có nhiều tiến bộ thì theo đề nghị của Ủy ban nhân dân cấp xã được giao trách nhiệm quản lý, giáo dục, cơ quan đã áp dụng biện pháp này có thể quyết định chấm dứt thời hạn giáo dục tại xã, phường, thị trấn.
1. Tòa án có thể áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng từ 01 năm đến 02 năm đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, nếu thấy do tính chất nghiêm trọng của hành vi phạm tội, do nhân thân và môi trường sống của người đó mà cần đưa người đó vào một tổ chức giáo dục có kỷ luật chặt chẽ.
2. Người được giáo dục tại trường giáo dưỡng phải chấp hành đầy đủ những nghĩa vụ về học tập, học nghề, lao động, sinh hoạt dưới sự quản lý, giáo dục của nhà trường.
Nếu người được giáo dục tại trường giáo dưỡng đã chấp hành một phần hai thời hạn, có nhiều tiến bộ, thì theo đề nghị của trường giáo dưỡng được giao trách nhiệm quản lý, giáo dục, Tòa án có thể quyết định chấm dứt thời hạn giáo dục tại trường giáo dưỡng.
Người dưới 18 tuổi phạm tội chỉ bị áp dụng một trong các hình phạt sau đây đối với mỗi tội phạm:
1. Cảnh cáo.
2. Phạt tiền.
3. Cải tạo không giam giữ.
4. Tù có thời hạn.
Phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, nếu người đó có thu nhập hoặc có tài sản riêng.
Mức tiền phạt đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội không quá một phần hai mức tiền phạt mà điều luật quy định.
1. Hình phạt cải tạo không giam giữ được áp dụng đối với người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng hoặc phạm tội rất nghiêm trọng do vô ý hoặc người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý.
2. Khi áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, thì không khấu trừ thu nhập của người đó.
Thời hạn cải tạo không giam giữ đối với người dưới 18 tuổi phạm tội không quá một phần hai thời hạn mà điều luật quy định.
Mức phạt tù có thời hạn áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội được quy định như sau:
1. Đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 18 năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định;
2. Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 12 năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá một phần hai mức phạt tù mà điều luật quy định.
1. Tòa án quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi trong trường hợp chuẩn bị phạm tội hoặc phạm tội chưa đạt theo nguyên tắc quy định tại khoản 1 Điều 57 của Bộ luật này.
2. Mức hình phạt cao nhất đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chuẩn bị phạm tội không quá một phần ba mức hình phạt được quy định trong khung hình phạt đối với hành vi chuẩn bị phạm tội trong điều luật được áp dụng.
Mức hình phạt cao nhất đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi chuẩn bị phạm tội không quá một phần hai mức hình phạt được quy định trong khung hình phạt đối với hành vi chuẩn bị phạm tội trong điều luật được áp dụng.
3. Mức hình phạt cao nhất áp dụng đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội chưa đạt không quá một phần ba mức hình phạt quy định tại Điều 100 và Điều 101 của Bộ luật này.
Mức hình phạt cao nhất áp dụng đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội chưa đạt không quá một phần hai mức hình phạt quy định tại các Điều 99, 100 và 101 của Bộ luật này.
1. Khi xét xử cùng một lần người dưới 18 tuổi phạm nhiều tội thì Tòa án quyết định hình phạt đối với từng tội và tổng hợp hình phạt chung theo quy định tại Điều 55 của Bộ luật này.
Nếu hình phạt chung là cải tạo không giam giữ thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 03 năm. Nếu hình phạt chung là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không được vượt quá 18 năm đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội và 12 năm đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi phạm tội.
2. Đối với người dưới 18 tuổi phạm nhiều tội, có tội được thực hiện trước khi đủ 16 tuổi, có tội được thực hiện sau khi đủ 16 tuổi, thì việc tổng hợp hình phạt áp dụng như sau:
a) Nếu mức hình phạt đã tuyên đối với tội được thực hiện trước khi người đó đủ 16 tuổi nặng hơn hoặc bằng mức hình phạt đã tuyên đối với tội được thực hiện sau khi đủ 16 tuổi thì hình phạt chung không vượt quá mức hình phạt cao nhất đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi theo quy định tại khoản 1 Điều này;
b) Nếu mức hình phạt đã tuyên đối với tội được thực hiện sau khi người đó đủ 16 tuổi nặng hơn mức hình phạt đã tuyên đối với tội được thực hiện trước khi đủ 16 tuổi thì hình phạt chung không vượt quá mức hình phạt cao nhất đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi theo quy định tại khoản 1 Điều này.
3. Đối với người phạm nhiều tội, có tội được thực hiện trước khi đủ 18 tuổi, có tội được thực hiện sau khi đủ 18 tuổi, thì việc tổng hợp hình phạt áp dụng như sau:
a) Nếu mức hình phạt Tòa án tuyên đối với tội được thực hiện khi người đó chưa đủ 18 tuổi nặng hơn hoặc bằng mức hình phạt áp dụng đối với tội được thực hiện khi người đó đã đủ 18 tuổi, thì hình phạt chung không được vượt quá mức hình phạt cao nhất quy định tại khoản 1 Điều này;
b) Nếu mức hình phạt Tòa án tuyên đối với tội được thực hiện khi người đó đã đủ 18 tuổi nặng hơn mức hình phạt áp dụng đối với tội thực hiện khi người đó chưa đủ 18 tuổi thì hình phạt chung áp dụng như đối với người đủ 18 tuổi trở lên phạm tội.
Việc tổng hợp hình phạt trong trường hợp một người đang phải chấp hành một bản án mà lại bị xét xử về tội đã phạm trước hoặc sau khi có bản án này, được thực hiện theo quy định tại Điều 55 và Điều 56 của Bộ luật này.
Hình phạt chung không được vượt quá mức hình phạt cao nhất quy định tại Điều 103 của Bộ luật này.
1. Người dưới 18 tuổi phạm tội bị phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù, nếu có tiến bộ và đã chấp hành được một phần tư thời hạn, thì được Tòa án xét giảm; riêng đối với hình phạt tù, mỗi lần có thể giảm đến 04 năm nhưng phải bảo đảm đã chấp hành ít nhất là hai phần năm mức hình phạt đã tuyên.
2. Người dưới 18 tuổi phạm tội bị phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù, nếu lập công hoặc mắc bệnh hiểm nghèo, thì được xét giảm ngay và có thể được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại.
3. Người dưới 18 tuổi phạm tội bị phạt tiền nhưng bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra hoặc lập công lớn, thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định giảm hoặc miễn việc chấp hành phần tiền phạt còn lại.
1. Người dưới 18 tuổi đang chấp hành án phạt tù, nếu không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 66 của Bộ luật này có thể được tha tù trước hạn khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Phạm tội lần đầu;
b) Có nhiều tiến bộ, có ý thức cải tạo tốt;
c) Đã chấp hành được một phần ba thời hạn phạt tù;
d) Có nơi cư trú rõ ràng.
2. Việc tha tù trước thời hạn có điều kiện được thực hiện theo quy định tại các khoản 3, 4 và 5 Điều 66 của Bộ luật này.
1. Người dưới 18 tuổi bị kết án được coi là không có án tích, nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi;
b) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm rất nghiêm trọng do vô ý;
c) Người bị áp dụng biện pháp tư pháp quy định tại Mục 3 Chương này.
2. Người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thì đương nhiên xóa án tích nếu trong thời hạn 03 năm tính từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án mà người đó không thực hiện hành vi phạm tội mới.
Chapter XII
REGULATIONS APPLIED TO JUVENILE OFFENDERS
Section 1. GENERAL REGULATIONS ON CRIMINAL PROSECUTION AGAINST JUVENILE OFFENDERS
Article 90. Application of Criminal Code to juvenile offenders
A person aged from 14 to under 18 who commits a criminal offence shall take criminal responsibility in accordance with this Chapter, other regulations of Part One hereof that do not contravene this Chapter.
Article 91. Rules for taking actions against juvenile offenders
1. Actions against juvenile offenders must be taken in their best interests and for the purpose of education, helping them to rectify their wrongdoing, develop healthily and become a helpful citizen.
Actions taken against juvenile offenders depend on their ages, awareness of their criminal acts, reasons and circumstances in which the criminal offences are committed.
2. A juvenile offender who commits a criminal offence in any of the following circumstances and has more than one mitigating factors, voluntarily repairs the most part of the damage caused may be exempt from criminal responsibility and the measures specified in Section 2 of this Chapter, provided it is not the case specified in Article 29 hereof:
a) A person aged from 16 to under 18 commits a less serious crime or serious crime, except in the circumstances specified in Article 134 (deliberate infliction of bodily harm upon another person); Article 141 (Rape); Article 171 (Snatching); Article 248 (Illegal manufacture of narcotic substances); Article 249 (Illegal possession of narcotic substances); Article 250 (Illegal trafficking of narcotic substances); Article 251 (Illegal dealing in narcotic substances); Article 252 (Appropriation of narcotic substances) hereof;
b) A person aged from 14 to under 16 deliberately commits a very serious crime or serious crime specified in Clause 2 Article 12 hereof, except in the circumstances specified in Article 134 (homicide); Article 134, Clause 4 through 6 (Deliberate infliction of bodily harm upon another person); Article 141 (Rape); Article 142 (Rape of a person aged under 16); Article 144 (Non-consensual intercourse with a person aged from 13 to under 16); Article 150 (Human trafficking); Article 151 (Trafficking of a person aged under 16); Article 168 (Robbery); Article 171 (Snatching); Article 248 (Illegal manufacture of narcotic substances); Article 249 (Illegal possession of narcotic substances); Article 250 (Illegal trafficking of narcotic substances); Article 251 (Illegal dealing in narcotic substances); Article 252 (Appropriation of narcotic substances) hereof;
c) The juvenile offender is an accomplice who has a minor role in the commission of the criminal offence.
3. Criminal prosecution against a juvenile offender shall only be initiated if necessary with account taken of his/her record, the danger to society of his/her offence and requirements for crime prevention.
4. At the trial, the court shall only impose a sentence upon a juvenile offender if it is considered that the exemption of criminal responsibility and application any of the measures specified in Section 2 or compulsory education in a correctional institution specified in Section 3 of this Chapter do not have sufficient educational and deterrent effects.
5. Life imprisonment and death sentence shall not be imposed upon a juvenile offender.
6. The court shall only impose imprisonment upon a juvenile offender if it is considered that other punishments and educational measures do not have sufficient deterrent effects.
Where imprisonment is necessary, it shall be as short as is reasonable and more lenient that than applied to a person aged 18 and above (hereinafter referred to as adult offender) who commits a similar crime.
Additional punishments shall not be shall not be imposed upon a juvenile offender.
7. A sentence imposed upon an offender aged under 16 shall not be used as the basis for determination of recidivism or dangerous recidivism.
Section 2. SUPERVISORY AND EDUCATIONAL MEASURES IN CASE OF EXEMPTION FROM CRIMINAL RESPONSIBILITY
Article 92. Conditions
The investigating authority, the procuracy or the court shall only grant exemption of criminal responsibility and issue reprimand, call for reconciliation or implement compulsory educational measures in the community if the juvenile offender or his/her legal representative accepts one of such measures.
Article 93. Reprimand
1. A reprimand shall be issued against a juvenile offender in the following cases in order to help him/her be aware of his/her criminal act and it consequences for the community, society and his/her obligations:
a) An offender aged from 16 to under 18 commits a less serious crime for the first time;
b) An offender aged under 18 is an accomplice who has an insignificant role in the commission of the crime.
2. The investigating authority, the procuracy or the court shall decide the issuance of reprimand. The issuance of a reprimand against a juvenile offender must be witnessed by his/her parent or legal representative.
3. The reprimanded person has the obligations to:
a) Comply with the law, rules of his/her community, school and workplace;
b) Report for duty at the request of a competent authority;
c) Participate in educational programs and vocational training programs held by the local government; do appropriate jobs.
4. The competent authority shall decide the time limit for fulfilling the obligations specified in Point b and Point c Clause 3 of this Article on a case-by-case basis, which is from 03 months to 01 year.
Article 94. Reconciliation
1. Reconciliation shall be applied to a juvenile offender in the following cases:
a) An offender aged from 16 to under 18 commits a less serious crime or serious crime;
b) An offender aged from 14 to under 16 commits a very serious crime specified in Point b Clause 2 Article 91 hereof.
2. The investigating authority, the procuracy or the court shall cooperate with the People’s Committee of the commune to organize the reconciliation when the victim or his/her legal representative voluntarily seek reconciliation and request exemption of criminal responsibility.
3. The person subject to reconciliation has the obligations to:
a) Offer the victim apologies and pay damages;
b) Fulfill the obligations specified in Clause 3 Article 93 hereof.
Article 95. Compulsory educational measures in the commune
1. The investigating authority, the procuracy or the court may apply education in the commune for 01 to 02 years to a juvenile offender in the following cases:
b) An offender aged from 16 to under 18 commits a less serious crime or serious crime specified in Point a Clause 2 Article 91 hereof;
b) An offender aged from 14 to under 16 commits a very serious crime specified in Point b Clause 2 Article 91 hereof.
2. The subject to supervisory and educational measures has the obligations to:
a) Fulfill his/her study and work duties;
b) Be supervised and educated by his/her family and commune government;
c) Not leave the commune without permission;
d) Fulfill the obligations specified in Clause 3 Article 93 hereof.
3. If the person subject to educational measures has served one half of the duration and shows remarkable improvements, the agency that imposes the measures may terminate the measures at the request of the People’s Committee of the commune.
Section 3. COMPULSORY EDUCATION IN CORRECTIONAL INSTITUTIONS
Article 96. Education in correctional institutions
1. The court may subject a juvenile offender to compulsory education in correctional institutions for 01 - 02 years if the criminal act is considered serious or the measure is necessary because of his/her record or living environment.
2. The person sent to a correctional institution must fulfill his/her study and work duties under the supervision of the institution.
Article 97. Early termination of education in correctional institutions
If the person subject to educational measures has served one half of the duration and shows remarkable improvements, the court may terminate the measures at the request of the institution.
Section 4. PUNISHMENTS
Article 98. Punishments imposed upon juvenile offenders
A juvenile offender shall face one of the following punishments for each criminal offence committed:
1. Warning;
2. Fine;
3. Community sentence;
4. Imprisonment.
Article 99. Fine
A fine shall be imposed as an administrative penalty upon an offender aged from 16 to under 18 if he/she has income or private property.
The fine incurred by an offender aged from 16 to under 18 shall not exceed one half of the fine specified by the law.
Article 100. Community sentence
1. Community sentence shall be imposed upon an offender aged from 16 to under 18 who involuntarily commits a less serious crime, serious crime or very serious crime or an offender aged from 14 to under 16 who deliberately commits a very serious crime.
2. When community sentence is imposed upon a juvenile offender, his/her income must not be deducted.
The duration of community sentence imposed upon a juvenile offender shall not exceed one third of the duration specified by the law.
Article 101. Determinate imprisonment
1. If the punishment for a crime is life imprisonment or death sentence as prescribed by law, the heaviest sentence imposed upon an offender aged from 16 to under 18 shall not exceed 18 years; If the punishment for a crime is determinate imprisonment, the heaviest sentence imposed upon an offender aged from 16 to under 18 shall not exceed three quarters of the duration prescribed by law;
2. If the punishment for a crime is life imprisonment or death sentence as prescribed by law, the heaviest sentence imposed upon an offender aged from 14 to under 16 shall not exceed 12 years; If the punishment for a crime is determinate imprisonment, the heaviest sentence imposed upon an offender aged from 16 to under 18 shall not exceed one half of the duration prescribed by law.
Section 5. SENTENCE DECISION, COMBINED DECISION, SENTENCE EXEMPTION OR COMMUTATION, CONVICTION EXPUNGEMENT
Article 102. Decision on a sentence for preparation of a crime or unsuccessful crime
1. The court shall impose a sentence upon a juvenile offender for preparation of a crime or unsuccessful crime in accordance with Clause 1 Article 57 hereof.
2. The heaviest sentence imposed upon an offender aged from 14 to under 16 for preparation of a crime shall not exceed one third of the sentence for preparation of a crime prescribed by law.
The heaviest sentence imposed upon an offender aged from 16 to under 18 for preparation of a crime shall not exceed one third of the sentence in the bracket for preparation of a crime prescribed by law.
3. The heaviest sentence imposed upon an offender aged from 16 to under 18 for unsuccessful crime shall not exceed one third of the heaviest sentence specified in Article 100 and Article 101 hereof.
The heaviest sentence imposed upon an offender aged from 16 to under 18 shall not exceed one half of the sentence specified in Article 99 through 101 hereof.
Article 103. Combined sentence for multiple crimes
1. Where a juvenile offender commits multiple crimes, the court shall impose a sentence for each of them and a combined sentence in accordance with Article 55 hereof.
If the combined sentence is community sentence, the duration shall not exceed 03 years. If the combined sentence is determinate imprisonment, its duration shall not exceed 18 years for an offender aged from 16 to under 18 and 12 years for an offender aged from 14 to under 16.
2. Where a juvenile offender commits multiple crimes and one or some of which are committed before he/she reaches the age of 16 and the other afterwards:
a) If the sentence for the crime committed before the offender reaches the age of 16 is heavier or the same as that for the crime committed afterwards, the combined sentence shall not exceed the heaviest sentence imposed upon an offender aged from 14 to under 16 prescribed in Clause 1 of this Article;
a) If the sentence for the crime committed after the offender has reached the age of 16 is heavier or the same as that for the crime committed before the offender reaches the age of 16, the combined sentence shall not exceed the heaviest sentence imposed upon an offender aged from 14 to under 16 prescribed in Clause 1 of this Article;
3. Where a juvenile offender commits multiple crimes and one or some of which are committed when he/she reaches the age of 18 and the other afterwards:
a) If the sentence for the crime committed before the offender reaches the age of 18 is heavier or the same as that for the crime committed afterwards, the combined sentence shall not exceed the heaviest sentence specified in Clause 1 of this Article;
b) If the sentence for the crime committed when the offender has reached the age of 18 is heavier or the same as that for the crime committed before the offender reaches the age of 18, the combined sentence shall be the same as that imposed upon an adult offender.
Article 104. Combination of punishments of multiple judgments
If a person who is serving a sentence is tried for a crime committed before or after such sentence is imposed, the Court shall impose a combined sentence in accordance with Article 55 and Article 56 hereof.
The combined sentence must not exceed the heaviest sentence specified in Article 103 hereof.
Article 105. Sentence commutation
1. If a juvenile offender who is sentenced to community sentence or imprisonment has shown improvements and has served one quarter of the sentence, the court shall consider commuting the sentence. Each commutation may reduce the sentence by up to 04 years, provided the offender has to serve at least 2/5 of the sentence.
2. If a juvenile offender who is sentenced to community sentence or imprisonment has made reparation in an effort to atone for the crime or has a fatal disease, commutation shall be considered and the remaining sentence may be cancelled.
3. If the sentence imposed upon a juvenile offender is a fine but he/she is facing prolonged financial hardship due to a natural disaster, conflagration, accident or disease or has made reparation in an effort to atone for the crime, the court, at the request of Director of the Procuracy, might exempt him/her from paying the remaining fine.
Article 106. Conditional parole
1. A juvenile offender who is serving an imprisonment sentence may be given a parole if all of the following conditions are satisfied, except in the circumstances specified in Clause 2 Article 66 hereof:
a) The convict does not have prior criminal record;
b) He/she shows remarkable improvements;
c) The convict has served one third of the sentence duration;
d) The prisoner has a fixed residence;
2. Conditional parole shall be granted in accordance with Clause 3 through 5 Article 66 hereof.
Article 107. Expungement of conviction
1. A juvenile offender shall be treated as if he/she does not have a conviction in any of the following circumstances:
a) The offender is from 14 to under 16 years of age;
b) The offender aged from 16 to under 18 is convicted of a less serious crime, serious crime or an involuntary very serious crime;
c) Judicial measures specified in Section 3 of this Chapter are taken.
2. A person aged from 16 to under 18 who is convicted of a deliberate very serious crime or extremely serious crime shall automatically have his/her conviction expunged if he/she does not commit any new crime for 03 years from the day on which the primary sentence is served or from the expiration of the time limit for sentence execution.
Cập nhật
Bài viết liên quan
Trường hợp nào được công nhận là vợ chồng khi kết hôn trái luật mới nhất 2025?
Trường hợp nào được công nhận là vợ chồng khi kết hôn trái luật mới nhất 2025?
Kết hôn trái pháp luật xảy ra khi các bên không tuân thủ đầy đủ các điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật, chẳng hạn như vi phạm độ tuổi, mối quan hệ cấm kỵ, hoặc thủ tục không hợp lệ. Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt, pháp luật vẫn công nhận quan hệ vợ chồng dù việc kết hôn ban đầu không hợp pháp, nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của các bên và con cái trong mối quan hệ. Vậy trường hợp nào được công nhận là vợ chồng khi kết hôn trái luật mới nhất 2025? nhé. 12/12/2024Kết hôn trái pháp luật gồm những trường hợp nào mới nhất 2025?
Kết hôn trái pháp luật gồm những trường hợp nào mới nhất 2025?
Hôn nhân không chỉ là sự kiện gắn kết giữa hai cá nhân mà còn chịu sự điều chỉnh nghiêm ngặt của pháp luật để đảm bảo trật tự xã hội và quyền lợi hợp pháp của các bên. Tuy nhiên, có nhiều trường hợp kết hôn bị coi là trái pháp luật vì vi phạm các điều kiện hoặc nguyên tắc được quy định trong Luật Hôn nhân và Gia đình. Năm 2025, các quy định mới đã làm rõ hơn những trường hợp cụ thể bị coi là kết hôn trái pháp luật, giúp người dân tránh vi phạm và đảm bảo tuân thủ đúng pháp luật. Bài viết này sẽ liệt kê và phân tích các trường hợp kết hôn trái pháp luật theo quy định mới nhất. 11/12/2024Cưỡng ép kết hôn khi chưa đủ độ tuổi kết hôn thì có vi phạm điều cấm của luật hôn nhân hay không mới nhất 2025?
Cưỡng ép kết hôn khi chưa đủ độ tuổi kết hôn thì có vi phạm điều cấm của luật hôn nhân hay không mới nhất 2025?
Trong xã hội hiện đại, quyền tự do kết hôn không chỉ là một giá trị nhân quyền cơ bản mà còn được pháp luật bảo vệ chặt chẽ. Tuy nhiên, vấn nạn cưỡng ép kết hôn, đặc biệt với những người chưa đủ tuổi kết hôn, vẫn là một thực trạng đáng lo ngại ở nhiều nơi. Hành vi này không chỉ vi phạm pháp luật mà còn gây ra những hậu quả nặng nề về mặt tâm lý, thể chất và xã hội cho nạn nhân, đặc biệt là trẻ em và thanh thiếu niên. Vậy cưỡng ép kết hôn khi chưa đủ tuổi có vi phạm điều cấm của Luật Hôn nhân và Gia đình hay không? Hãy cùng phân tích các quy định pháp luật mới nhất để làm rõ vấn đề và hướng tới xây dựng một xã hội văn minh, công bằng và tiến bộ. 16/12/2024Đặc quyền của xe biển đỏ là gì? Xe biển đỏ có bị phạt lỗi giao thông không?
Đặc quyền của xe biển đỏ là gì? Xe biển đỏ có bị phạt lỗi giao thông không?
Biển số xe màu đỏ là biển số xe được cấp cho xe cơ giới, xe máy chuyên dùng của các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Quốc Phòng. Vậy đặc quyền của xe biển đỏ là gì? Xe biển đỏ có bị phạt lỗi giao thông không? Bài viết sau đây sẽ làm rõ vấn đề này. 28/01/2025Biển số xe màu đỏ là gì? Tổng hợp quy định mới nhất về biển số xe đỏ 2025?
Biển số xe màu đỏ là gì? Tổng hợp quy định mới nhất về biển số xe đỏ 2025?
Biển số xe màu đỏ là biển số xe được cấp cho xe cơ giới, xe máy chuyên dùng của các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Quốc Phòng. Vậy biển số xe màu đỏ là gì? Tổng hợp quy định mới nhất về biển số xe đỏ 2025? 28/01/2025Kết hôn trái pháp luật là gì? Xử lý việc kết hôn trái pháp luật mới nhất 2025
Kết hôn trái pháp luật là gì? Xử lý việc kết hôn trái pháp luật mới nhất 2025
Hôn nhân là một sự kiện pháp lý quan trọng, được pháp luật điều chỉnh nhằm bảo vệ quyền lợi và nghĩa vụ của các bên liên quan. Tuy nhiên, không phải mọi cuộc hôn nhân đều được công nhận là hợp pháp. Kết hôn trái pháp luật xảy ra khi các bên vi phạm những điều kiện hoặc nguyên tắc cấm trong Luật Hôn nhân và Gia đình, như vi phạm độ tuổi kết hôn, kết hôn với người có quan hệ huyết thống, hoặc vi phạm các quy định về đa hôn. Với các cập nhật mới nhất trong năm 2025, pháp luật Việt Nam đã đưa ra những hướng dẫn cụ thể hơn về cách xử lý các trường hợp kết hôn trái pháp luật. Bài viết này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về kết hôn trái pháp luật là gì? Xử lý việc kết hôn trái pháp luật mới nhất 2025 nhé. 16/12/2024Nam 18 tuổi có được đăng ký kết hôn không mới nhất 2025?
Nam 18 tuổi có được đăng ký kết hôn không mới nhất 2025?
Kết hôn là một quyền tự do cá nhân, nhưng để bảo vệ quyền lợi và sự phát triển toàn diện của người tham gia, pháp luật Việt Nam quy định những điều kiện và tiêu chuẩn nhất định, trong đó có độ tuổi tối thiểu. Việc đăng ký kết hôn khi chưa đủ tuổi có thể dẫn đến những hậu quả pháp lý nghiêm trọng. Câu hỏi đặt ra là "Nam 18 tuổi có đủ điều kiện để đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật mới nhất năm 2025 hay không?". Câu trả lời sẽ được làm rõ qua các quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình hiện hành. 16/12/2024Nam 17 tuổi đã đủ tuổi kết hôn theo luật hôn nhân hay chưa mới nhất 2025?
Nam 17 tuổi đã đủ tuổi kết hôn theo luật hôn nhân hay chưa mới nhất 2025?
Kết hôn là một quyền lợi quan trọng, nhưng để đảm bảo hôn nhân diễn ra trong điều kiện trưởng thành và có trách nhiệm, pháp luật Việt Nam đã quy định rõ ràng về độ tuổi kết hôn. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, tình trạng kết hôn sớm, đặc biệt là đối với những người chưa đủ tuổi trưởng thành, trở thành vấn đề đáng lưu tâm. Một câu hỏi thường gặp là liệu nam 17 tuổi có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật Việt Nam vào năm 2025 hay không? Bài viết này sẽ phân tích các quy định hiện hành về độ tuổi kết hôn và tác động của chúng đối với các đối tượng chưa đủ tuổi kết hôn theo luật. 16/12/202416 tuổi mang thai có đăng ký kết hôn được không mới nhất 2025?
16 tuổi mang thai có đăng ký kết hôn được không mới nhất 2025?
Việc kết hôn ở độ tuổi chưa trưởng thành luôn là một vấn đề gây tranh cãi và nhận được sự quan tâm đặc biệt từ xã hội và pháp luật. Trong bối cảnh ngày càng có nhiều trường hợp mang thai ở độ tuổi thiếu niên, câu hỏi về khả năng đăng ký kết hôn khi mới 16 tuổi trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, độ tuổi tối thiểu để kết hôn là 18 đối với nữ và 20 đối với nam. Điều này đồng nghĩa với việc kết hôn ở độ tuổi 16 là không hợp pháp, dù trong hoàn cảnh mang thai. Trong bài viết này, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu rõ hơn về các quy định pháp lý liên quan đến hôn nhân dưới 18 tuổi và tác động của chúng đến quyền lợi và sự phát triển của những cô gái trẻ. 16/12/2024Kết hôn dưới 18 tuổi có bị phạt hay không mới nhất 2025?
