Sử dụng hình ảnh khi không được sự cho phép có vi phạm pháp luật không? Trường hợp vi phạm thì xử lý như thế nào?
Sử dụng hình ảnh khi không được sự cho phép có vi phạm pháp luật không?
Trường hợp vi phạm thì xử lý như thế nào?

1. Sử dụng hình ảnh khi không được sự cho phép có vi phạm pháp luật không? Trường hợp vi phạm thì xử lý như thế nào?

Căn cứ Điều 21 Hiến pháp 2013, quyền riêng tư của cá nhân được quy định như sau:

1. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình; có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình.

Thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình được pháp luật bảo đảm an toàn.

2. Mọi người có quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác.

Không ai được bóc mở, kiểm soát, thu giữ trái luật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư của người khác.

Như vậy, mọi hành vi xâm phạm đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình của người khác, trong đó có sử dụng hình ảnh của người khác nếu không được người đó đồng ý hoặc không phải trường hợp pháp luật cho phép đều bị coi là vi phạm pháp luật.

Căn cứ vào tính chất, mức độ, nguyên nhân vi phạm có mà hành vi xâm phạm quyền riêng tư của con cái có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.

1.1. Mức xử phạt hành chính sử dụng hình ảnh người khác khi không được phép

Tại Điều 102 Nghị định 15/2020/NĐ-CP quy định về vi phạm quy định về lưu trữ, cho thuê, truyền đưa, cung cấp, truy nhập, thu thập, xử lý, trao đổi và sử dụng thông tin như sau:

Vi phạm quy định về lưu trữ, cho thuê, truyền đưa, cung cấp, truy nhập, thu thập, xử lý, trao đổi và sử dụng thông tin

3. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

...

g) Cung cấp, trao đổi, truyền đưa hoặc lưu trữ, sử dụng thông tin số nhằm đe dọa, quấy rối, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác;

...

m) Tiết lộ thông tin thuộc danh mục bí mật nhà nước, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;

...

Đồng thời tại điểm g khoản 3 Điều 4 Nghị định 15/2020/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 5 Điều 1 Nghị định 14/2022/NĐ-CP quy định về mức phạt tiền và thẩm quyền phạt tiền đối với cá nhân, tổ chức như sau:

Quy định về mức phạt tiền và thẩm quyền phạt tiền đối với cá nhân, tổ chức

3. Mức phạt tiền quy định từ Chương II đến Chương VII tại Nghị định này được áp dụng đối với hành vi vi phạm hành chính của tổ chức, trừ quy định tại Điều 106 Nghị định này. Trường hợp cá nhân có hành vi vi phạm như của tổ chức thì mức phạt tiền bằng 1/2 mức phạt tiền đối với tổ chức.

Theo đó, hành vi tiết lộ thông tin đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì có thể bị phạt tiền:

  • Từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với tổ chức vi phạm
  • Từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với cá nhân vi phạm

1.2. Mức xử phạt hình sự sử dụng hình ảnh người khác khi không được phép

Ngoài ra, người có hành vi xâm phạm quyền riêng tư của cá nhân có thể bị xử lý hình sự. Trong đó, căn cứ Điều 159 Bộ luật Hình sự 2015, quy định tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín hoặc hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác như sau:

  • Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm:
    • Chiếm đoạt thư tín, điện báo, telex, fax hoặc văn bản khác của người khác được truyền đưa bằng mạng bưu chính, viễn thông dưới bất kỳ hình thức nào;
    • Cố ý làm hư hỏng, thất lạc hoặc cố ý lấy các thông tin, nội dung của thư tín, điện báo, telex, fax hoặc văn bản khác của người khác được truyền đưa bằng mạng bưu chính, viễn thông;
    • Nghe, ghi âm cuộc đàm thoại trái pháp luật;
    • Khám xét, thu giữ thư tín, điện tín trái pháp luật;
    • Hành vi khác xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín, telex, fax hoặc hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác.
  • Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm:
    • Có tổ chức;
    • Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
    • Phạm tội 02 lần trở lên;
    • Tiết lộ các thông tin đã chiếm đoạt, làm ảnh hưởng đến danh dự, uy tín, nhân phẩm của người khác;
    • Làm nạn nhân tự sát.
  • Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Như vậy, trường hợp nghiêm trọng nhất bị xử lý hình sự, người có hành vi xâm phạm đời sống riêng tư của người khác có thể đối diện với mức án 05 năm tù giam.

2. Người bị xâm phạm đời sống riêng tư có được quyền yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại không?

Người bị xâm phạm đời sống riêng tư có được quyền yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại không?
Người bị xâm phạm đời sống riêng tư có được quyền yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại không?

Người bị xâm phạm đời sống riêng tư có quyền yêu cầu người xâm phạm bồi thường thiệt hại nếu chứng minh được hành vi vi phạm của người đó và có thiệt hại. Cụ thể, căn cứ Điều 592 Bộ luật Dân sự năm 2015, quy định như sau:

1. Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại;

b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút;

c) Thiệt hại khác do luật quy định.

2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm không quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.

Như vậy, người bị xâm phạm đời sống riêng tư, đặc biệt là khi danh dự, nhân phẩm và uy tín bị xâm phạm, có quyền yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại. Thiệt hại có thể bao gồm chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập bị mất hoặc giảm sút, cùng với các thiệt hại khác theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, người chịu trách nhiệm bồi thường còn phải trả một khoản tiền để bù đắp tổn thất về tinh thần, mức bồi thường này có thể được thỏa thuận giữa các bên, nếu không thỏa thuận được thì mức bồi thường tối đa không vượt quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.

3. Có được khám xét chỗ ở của một người khi không có mặt người đó hay không? Khi tiến hành khám xét chỗ ở thì phải có mặt những ai?

Khi tiến hành khám xét chỗ ở thì phải có mặt người đó hoặc người từ đủ 18 tuổi trở lên cùng chỗ ở và phải có đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn và người chứng kiến.

Căn cứ theo khoản 1 Điều 195 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định về việc khám xét chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện cụ thể như sau:

“1. Khi khám xét chỗ ở thì phải có mặt người đó hoặc người từ đủ 18 tuổi trở lên cùng chỗ ở, có đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn và người chứng kiến; trường hợp người đó, người từ đủ 18 tuổi trở lên cùng chỗ ở cố tình vắng mặt, bỏ trốn hoặc vì lý do khác họ không có mặt mà việc khám xét không thể trì hoãn thì việc khám xét vẫn được tiến hành nhưng phải có đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn nơi khám xét và hai người chứng kiến.

Không được bắt đầu việc khám xét chỗ ở vào ban đêm, trừ trường hợp khẩn cấp nhưng phải ghi rõ lý do vào biên bản.”

Trong đó, Điều 67 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định:

“1. Người chứng kiến là người được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng yêu cầu chứng kiến việc tiến hành hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật này.

2. Những người sau đây không được làm người chứng kiến:

a) Người thân thích của người bị buộc tội, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;

b) Người do nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất mà không có khả năng nhận thức đúng sự việc;

c) Người dưới 18 tuổi;

d) Có lý do khác cho thấy người đó không khách quan”.

Như vậy, theo quy định trên đây, khi tiến hành khám xét chỗ ở thì phải có mặt người đó hoặc người từ đủ 18 tuổi trở lên cùng chỗ ở và phải có đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn và người chứng kiến.

Lưu ý: Trong trường hợp người đó, người từ đủ 18 tuổi trở lên cùng chỗ ở cố tình vắng mặt, bỏ trốn hoặc vì lý do khác họ không có mặt mà việc khám xét không thể trì hoãn thì việc khám xét vẫn được tiến hành nhưng phải có đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn nơi khám xét và hai người chứng kiến.

4. Các câu hỏi thường gặp

4.1 Trong trường hợp bị truy cứu trách nhiệm hình sự, hình phạt cao nhất mà người có hành vi xâm phạm quyền riêng tư của người khác được quy định như thế nào?

Trong trường hợp bị truy cứu trách nhiệm hình sự, người có hành vi xâm phạm quyền riêng tư của người khác có thể đối mặt với hình phạt cao nhất là 05 năm tù giam.

4.2 Hình thức xử phạt bổ sung đối với tội xâm phạm quyền riêng tư được quy định như thế nào?

Người nào có hành vi xâm phạm bí mật thư tín, điện thoại, điện tín của người khác có đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì ngoài việc bị áp dụng hình phạt theo quy định của Bộ luật Hình sự có thể phải đối mặt với hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

4.3 Các khoản bồi thường thiệt hại có thể được hưởng khi bị xâm phạm quyền riêng tư gồm những gì?

Người bị xâm phạm quyền riêng tư nếu chứng minh được có thiệt hại có thể yêu cầu bồi thường các thiệt hại như:

  • Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại;
  • Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút;
  • Thiệt hại khác do luật quy định;
  • Một khoản tiền bù đắp tổn thất tinh thần.

4.4 Quyền riêng tư có phải quyền hiến định không?

Quyền riêng tư hay quyền bất khả xâm phạm về bí mật thư tín, điện thoại, điện tín, bí mật cá nhân, bí mật gia đình là quyền hiến định quy định tại Điều 21 Hiến pháp 2013.

4.5. Những hành vi nào bị coi là xâm phạm quyền riêng tư?

Ghi âm, ghi hình, theo dõi, thu thập, công bố thông tin cá nhân mà không có sự đồng ý của người đó đều là hành vi xâm phạm quyền riêng tư.

4.6. Có được tự ý đăng ảnh người khác lên mạng không?

Không. Việc đăng ảnh người khác lên mạng cần có sự đồng ý của họ, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.