07 trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu là gì? Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu mới nhất 2025

1. 07 trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu là gì? Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu mới nhất 2025

1.1. Các trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu là gì?

Theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015, có 07 trường hợp giao dịch dân sự bị vô hiệu như sau:

Tuy nhiên, tuỳ vào mức độ và phạm vi vi phạm của giao dịch dân sự, giao dịch đó có thể được cân nhắc vô hiệu toàn bộ hay một phần. Nếu một phần nội dung của giao dịch dân sự bị vô hiệu nhưng không ảnh hưởng đến hiệu lực của những phần còn lại của giao dịch, thì giao dịch dân sự đó được coi là vô hiệu một phần.

1.2. Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu mới nhất 2025

Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu được hướng dẫn giải quyết tại Điều 131 Bộ luật Dân sự 2015 với nội dung như sau:

“1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập.

2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.

Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả.

3. Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó.

4. Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường.

5. Việc giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu liên quan đến quyền nhân thân do Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định.”

Ví dụ: Bên A (người bán) và Bên B (người mua) ký hợp đồng mua bán một căn nhà. Trong hợp đồng, Bên A cung cấp thông tin rằng căn nhà có diện tích 100m² và không có tranh chấp pháp lý. Tuy nhiên, sau khi giao dịch hoàn tất, Bên B phát hiện ra rằng căn nhà thực tế chỉ có diện tích 80m² và căn nhà này có một vụ tranh chấp liên quan đến quyền sở hữu tài sản. Như vậy, hợp đồng này đã bị vô hiệu do bên A cung cấp thông tin sai lệch. Do đó, các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, cụ thể: Bên B sẽ trả lại căn nhà cho Bên A, và Bên A sẽ hoàn trả số tiền mà Bên B đã trả cho căn nhà.

2. Ví dụ thực tế về các trường hợp giao dịch bị vô hiệu

2.1. Trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội

Điều 123 Bộ luật Dân sự 2015 đã quy định như sau:

"Điều 123. Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội

Giao dịch dân sự có mục đích, nội dung vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu.

Điều cấm của luật là những quy định của luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định.

Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng."

Ví dụ: Trường hợp một cá nhân ký hợp đồng mua bán vũ khí quân dụng mà không có giấy phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Mặc dù hợp đồng được ký kết hợp pháp về hình thức, nhưng do việc mua bán vũ khí quân dụng trái phép là hành vi bị cấm, hợp đồng này sẽ được coi là vô hiệu.

2.2. Trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình.

Khi tiến hành giao dịch với đối tượng không đủ tỉnh táo, không có khả năng nhận thức hay mất năng lực hành vi dân sự, hợp đồng sẽ bị vô hiệu theo Điều 128 Bộ luật Dân sự 2015:

"Người có năng lực hành vi dân sự nhưng đã xác lập giao dịch vào đúng thời điểm không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu."

Ví dụ: Nếu C - người đang trong tình trạng say rượu, đã ký một hợp đồng cho vay với D với số tiền lớn. Sau khi tỉnh rượu, C nhận thấy mình không hiểu rõ về nội dung hợp đồng và không thể kiểm soát hành vi của mình lúc đó. Như vậy hợp đồng giữa C và D sẽ vô hiệu vì C không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình khi ký kết hợp đồng do say rượu. C có thể yêu cầu hủy bỏ hợp đồng và sẽ không bị ràng buộc bởi các điều khoản của hợp đồng này.

2.3. Trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức.

Căn cứ vào Điều 129 Bộ luật Dân sự 2015 quy định như sau:

"Giao dịch dân sự vi phạm quy định điều kiện có hiệu lực về hình thức thì vô hiệu, trừ trường hợp sau đây:

1. Giao dịch dân sự đã được xác lập theo quy định phải bằng văn bản nhưng văn bản không đúng quy định của luật mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó.

2. Giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó. Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực."

Ví dụ: E và F thỏa thuận về việc chuyển nhượng một mảnh đất của E cho F. Họ đồng ý về giá cả, thời gian giao nhận tài sản và ký hợp đồng chuyển nhượng. Tuy nhiên, hợp đồng này không được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật về bất động sản. Trong tình huống này các bên có thể yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu và sau đó phải ký kết hợp đồng lại theo đúng quy định về hình thức (công chứng hoặc chứng thực).

3. Làm thế nào để xác định hợp đồng vô hiệu toàn bộ hay vô hiệu một phần?

Theo Điều 130 Bộ Luật dân sự 2015:

Điều 130. Giao dịch dân sự vô hiệu từng phần
Giao dịch dân sự vô hiệu từng phần khi một phần nội dung của giao dịch dân sự vô hiệu nhưng không ảnh hưởng đến hiệu lực của phần còn lại của giao dịch.

Như vậy, để xác định xem hợp đồng đó là vô hiệu toàn bộ hay một phần, cần xét xem mức độ ảnh hưởng của phần đó đến những phần còn lại của giao dịch. Nếu một phần nội dung của giao dịch dân sự bị vô hiệu nhưng không ảnh hưởng đến hiệu lực của những phần còn lại của giao dịch, thì giao dịch dân sự đó được coi là vô hiệu một phần.

Ví dụ: Một hợp đồng mua bán nhà ở giữa A và B bao gồm hai phần:

  • Phần 1: A bán cho B căn nhà với giá 2 tỷ đồng.

  • Phần 2: A tặng thêm cho B một chiếc ô tô kèm theo hợp đồng mua bán nhà.

Sau đó phát hiện rằng A không phải là chủ sở hữu hợp pháp của chiếc ô tô (do đó, phần tặng cho ô tô là vô hiệu). Tuy nhiên, A là chủ sở hữu hợp pháp của căn nhà, và giao dịch mua bán nhà tuân thủ đúng quy định pháp luật.

Phân tích: Phần tặng cho ô tô bị vô hiệu vì A không có quyền sở hữu chiếc ô tô đó. Nhưng phần mua bán nhà không bị ảnh hưởng, vì nó là giao dịch độc lập và hợp pháp. Do đó, hợp đồng này được coi là vô hiệu một phần: chỉ phần tặng cho ô tô bị vô hiệu, còn phần mua bán nhà vẫn có hiệu lực.

Nếu ngược lại: Giả sử phần tặng cho ô tô là điều kiện bắt buộc để B đồng ý mua nhà (hai phần có mối liên kết chặt chẽ và không thể tách rời), thì khi phần tặng cho ô tô bị vô hiệu, toàn bộ hợp đồng có thể bị vô hiệu vì phần vô hiệu ảnh hưởng đến toàn bộ giao dịch.

Làm thế nào để xác định hợp đồng vô hiệu toàn bộ hay vô hiệu một phần

4. Phân biệt giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối và tương đối

Cách phân loại giao dịch dân sự bị vô hiệu dựa trên những đặc điểm thể hiện bản chất của hai loại giao dịch vô hiệu nêu trên.

Đặc điểm

Giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối

Giao dịch dân sự vô hiệu tương đối

Trình tự vô hiệu của giao dịch

Giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối thì mặc nhiên bị coi là vô hiệu.

Các giao dịch vô hiệu tương đối thì không mặc nhiên vô hiệu mà chỉ trở nên vô hiệu khi hội tụ đủ những điều kiện nhất định:

  • Khi có đơn yêu cầu của người có quyền và lợi ích liên quan;

  • Theo quyết định của Toà án.

Hiệu lực pháp lý của giao dịch

Không có hiệu lực pháp lý làm phát sinh quyền và nghĩa vụ các bên, thậm chí ngay cả trong trường hợp khi các bên đã tiến hành thực hiện các hành vi theo nội dung cam kết.

Có hiệu lực pháp lý cho đến khi nào bị tuyên bố vô hiệu.

Vai trò quyết định của Toà án

Vô hiệu ngay cả khi không có quyết định của Toà án

Phụ thuộc vào quyết định của Toà án.

Mục tiêu pháp lý của việc tuyên bố vô hiệu

Những quy định về vô hiệu tuyệt đối được đặt ra để bảo vệ lợi ích công, tức là lợi ích của Nhà nước hoặc lợi ích chung của xã hội.

Các quy định về vô hiệu tương đối chủ yếu hướng đến việc bảo vệ lợi ích của các bên tham gia giao dịch, khi một trong các bên bị xâm phạm quyền lợi hoặc không đạt được sự tự nguyện, minh bạch trong giao kết.

Ví dụ

C ký hợp đồng với D về việc mua bán vũ khí quân dụng mà không có giấy phép. Hợp đồng này sẽ bị vô hiệu tuyệt đối vì việc mua bán vũ khí quân dụng trái với quy định pháp luật.

A và B ký hợp đồng mua bán nhà, nhưng A ký hợp đồng khi chưa đủ 18 tuổi và không có sự đồng ý của người giám hộ. Hợp đồng này có thể bị vô hiệu tương đối vì A chưa đủ năng lực hành vi dân sự, nhưng chỉ A hoặc người giám hộ của A có quyền yêu cầu tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu. Nếu B không yêu cầu, hợp đồng vẫn có thể được thực hiện.

Phân biệt giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối và tương đối

Phân biệt giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối và tương đối

5. Các câu hỏi thường gặp

5.1. Nếu giao dịch bị vô hiệu tuơng đối, việc xử lý tài sản như thế nào?

Các bên cũng phải hoàn trả tài sản hoặc giá trị tài sản, nhưng trong một số trường hợp, bên yêu cầu tuyên bố vô hiệu có thể yêu cầu được giữ lại tài sản nếu hợp đồng chưa có hậu quả lớn hoặc nếu được các bên thỏa thuận lại.

5.2. Thời hiệu yêu cầu tuyên bố giao dịch vô hiệu là bao lâu và có ảnh hưởng đến quyền lợi của các bên không?

Thời hiệu yêu cầu tuyên bố giao dịch vô hiệu tùy thuộc vào từng loại giao dịch cụ thể. Theo Bộ luật Dân sự 2015, thời hiệu yêu cầu tuyên bố vô hiệu là 2 năm kể từ ngày giao dịch bị vi phạm hoặc từ thời điểm mà bên yêu cầu biết hoặc phải biết về vi phạm này.

5.3. Khi giao dịch dân sự bị vô hiệu, có cần sự đồng ý của các bên tham gia giao dịch để tuyên bố vô hiệu không?

Không cần sự đồng ý của các bên tham gia giao dịch để tuyên bố giao dịch vô hiệu, đặc biệt trong trường hợp giao dịch vô hiệu tuyệt đối. Tuy nhiên, trong giao dịch vô hiệu tương đối, nếu bên bị ảnh hưởng không yêu cầu tuyên bố vô hiệu, giao dịch vẫn có thể được thực hiện.