Tìm kiếm
Chương VIII Bộ luật hình sự 2015: Quyết định hình phạt
| Số hiệu: | 100/2015/QH13 | Loại văn bản: | Luật |
| Nơi ban hành: | Quốc hội | Người ký: | Nguyễn Sinh Hùng |
| Ngày ban hành: | 27/11/2015 | Ngày hiệu lực: | 01/01/2018 |
| Ngày công báo: | 31/12/2015 | Số công báo: | Từ số 1263 đến số 1264 |
| Lĩnh vực: | Trách nhiệm hình sự | Tình trạng: | Còn hiệu lực |
TÓM TẮT VĂN BẢN
Bộ luật hình sự 2015 vừa được ban hành ngày 27/11/2015 với các quy định mới về tội phạm; những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự; thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự; hình phạt; các biện pháp tư pháp; quyết định hình phạt; chấp hành hình phạt; xóa án tích; pháp nhân thương mại phạm tội;…
Bộ luật hình sự 2015 gồm 3 Phần, 26 Chương, 426 Điều (thay vì Bộ Luật Hình sự 1999 gồm 2 Phần, 24 Chương, 344 Điều). Cấu trúc Bộ luật hình sự năm 2015 có nhiều thay đổi so với BLHS cũ như sau:
Phần thứ nhất: Những quy định chung
Chương I. Điều khoản cơ bản
Chương II. Hiệu lực của BLHS 2015
Chương III. Tội phạm
Chương IV. Những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự
Chương V. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự
Chương VI. Hình phạt
Chương VII. Các biện pháp tư pháp
Chương VIII. Quyết định hình phạt
Chương IX. Thời hiệu thi hành bản án, Miễn chấp hành hình phạt, Giảm thời hạn chấp hành hình phạt
Chương X. Xóa án tích
Chương XI. Những quy định đối với pháp nhân thương mại phạm tội
Chương XII. Những quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
Phần thứ hai: Các tội phạm
Chương XIII. Các tội xâm phạm an ninh quốc gia
Chương XIV. Các tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người
Chương XV. Các tội xâm phạm quyền tự do của con người, quyền tự do, dân chủ của công dân
Chương XVI. Các tội xâm phạm sở hữu
Chương XVII. Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình
Chương XVIII. Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế
Chương XIX. Các tội phạm về môi trường
Chương XX. Các tội phạm về ma túy
Chương XXI. Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng
Chương XXII. Các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính
Chương XXIII. Các tội phạm về chức vụ
Chương XXIV. Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp
Chương XXV. Các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân và trách nhiệm của người phối thuộc với quân đội trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu
Chương XXVI. Các Tội phá hoại hòa bình, chống loài người và Tội phạm chiến tranh
Phần thứ ba: Điều khoản thi hành
Theo đó, Bộ luật hình sự 2015 có những điểm sau đáng chú ý:
- Tuổi chịu trách nhiệm hình sự
+ Điều 12 Luật hình sự 2015 có quy định người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác.
+ Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, tội hiếp dâm, tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các Điều quy định cụ thể ở Điều 12 Bộ luật hình sự năm 2015.
- Quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng
+ Theo Điều 54 BLHS năm 2015, Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật HS 2015.
+ Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật đối với người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể.
+ Nhưng nếu điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất, thì Tòa án có thể quyết định chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn.
- Tha tù trước thời hạn có điều kiện
Người đang chấp hành án phạt tù có thể được tha tù trước thời hạn khi có đủ các điều kiện sau đây:
+ Phạm tội lần đầu;
+ Có nhiều tiến bộ, có ý thức cải tạo tốt;
+ Đã được giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù đối với người bị kết án về tội phạm nghiêm trọng trở lên;
+ Có nơi cư trú rõ ràng;
+ Đã chấp hành xong hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, án phí và các nghĩa vụ bồi thường dân sự;
Và một số điều kiện khác tại Điều 66 Luật hình sự 2015.
- Điều kiện chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại
Điều 75 Bộ luật hình sự 2015 quy định pháp nhân thương mại chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi có đủ các điều kiện sau đây:
+ Hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại;
+ Hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại;
+ Hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại;
+ Chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự tại khoản 2 và khoản 3 Điều 27 của BLHS 2015.
- Tội tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại
Bộ luật HS năm 2015 quy định người nào tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
Bộ luật hình sự 2015 có hiệu lực từ ngày 01/07/2016.
Văn bản tiếng việt
Văn bản tiếng anh
1. Khi quyết định hình phạt, Tòa án căn cứ vào quy định của Bộ luật này, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự.
2. Khi quyết định áp dụng hình phạt tiền, ngoài căn cứ quy định tại khoản 1 Điều này, Tòa án căn cứ vào tình hình tài sản, khả năng thi hành của người phạm tội.
1. Các tình tiết sau đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
a) Người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm;
b) Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả;
c) Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng;
d) Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết;
đ) Phạm tội trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội;
e) Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra;
g) Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra;
h) Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn;
i) Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;
k) Phạm tội vì bị người khác đe dọa hoặc cưỡng bức;
l) Phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức mà không phải do lỗi của mình gây ra;
m) Phạm tội do lạc hậu;
n) Người phạm tội là phụ nữ có thai;
o) Người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên;
p) Người phạm tội là người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng;
q) Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;
r) Người phạm tội tự thú;
s) Người phạm tội thành khẩn khai báo hoặc ăn năn hối cải;
t) Người phạm tội tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện hoặc điều tra tội phạm;
u) Người phạm tội đã lập công chuộc tội;
v) Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác;
x) Người phạm tội là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ, người có công với cách mạng.
2. Khi quyết định hình phạt, Tòa án có thể coi đầu thú hoặc tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ lý do giảm nhẹ trong bản án.
3. Các tình tiết giảm nhẹ đã được Bộ luật này quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ trong khi quyết định hình phạt.
1. Chỉ các tình tiết sau đây mới là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
a) Phạm tội có tổ chức;
b) Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp;
c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội;
d) Phạm tội có tính chất côn đồ;
đ) Phạm tội vì động cơ đê hèn;
e) Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng;
h) Tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm;
i) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ có thai, người đủ 70 tuổi trở lên;
k) Phạm tội đối với người ở trong tình trạng không thể tự vệ được, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, người bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc người lệ thuộc mình về mặt vật chất, tinh thần, công tác hoặc các mặt khác;
l) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, thiên tai, dịch bệnh hoặc những khó khăn đặc biệt khác của xã hội để phạm tội;
m) Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, tàn ác để phạm tội;
n) Dùng thủ đoạn, phương tiện có khả năng gây nguy hại cho nhiều người để phạm tội;
o) Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội;
p) Có hành động xảo quyệt hoặc hung hãn nhằm trốn tránh hoặc che giấu tội phạm.
2. Các tình tiết đã được Bộ luật này quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng.
1. Tái phạm là trường hợp đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý hoặc thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do vô ý.
2. Những trường hợp sau đây được coi là tái phạm nguy hiểm:
a) Đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý;
b) Đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý.
1. Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật này.
2. Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật đối với người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể.
3. Trong trường hợp có đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 hoặc khoản 2 Điều này nhưng điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất, thì Tòa án có thể quyết định chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Lý do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án.
Khi xét xử cùng 01 lần một người phạm nhiều tội, Tòa án quyết định hình phạt đối với từng tội và tổng hợp hình phạt theo quy định sau đây:
1. Đối với hình phạt chính:
a) Nếu các hình phạt đã tuyên cùng là cải tạo không giam giữ hoặc cùng là tù có thời hạn, thì các hình phạt đó được cộng lại thành hình phạt chung; hình phạt chung không được vượt quá 03 năm đối với hình phạt cải tạo không giam giữ, 30 năm đối với hình phạt tù có thời hạn;
b) Nếu các hình phạt đã tuyên là cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn, thì hình phạt cải tạo không giam giữ được chuyển đổi thành hình phạt tù theo tỷ lệ cứ 03 ngày cải tạo không giam giữ được chuyển đổi thành 01 ngày tù để tổng hợp thành hình phạt chung theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều này;
c) Nếu hình phạt nặng nhất trong số các hình phạt đã tuyên là tù chung thân thì hình phạt chung là tù chung thân;
d) Nếu hình phạt nặng nhất trong số các hình phạt đã tuyên là tử hình thì hình phạt chung là tử hình;
đ) Phạt tiền không tổng hợp với các loại hình phạt khác; các khoản tiền phạt được cộng lại thành hình phạt chung;
e) Trục xuất không tổng hợp với các loại hình phạt khác;
2. Đối với hình phạt bổ sung:
a) Nếu các hình phạt đã tuyên là cùng loại thì hình phạt chung được quyết định trong giới hạn do Bộ luật này quy định đối với loại hình phạt đó; riêng đối với hình phạt tiền thì các khoản tiền phạt được cộng lại thành hình phạt chung;
b) Nếu các hình phạt đã tuyên là khác loại thì người bị kết án phải chấp hành tất cả các hình phạt đã tuyên.
1. Trong trường hợp một người đang phải chấp hành một bản án mà lại bị xét xử về tội đã phạm trước khi có bản án này, thì Tòa án quyết định hình phạt đối với tội đang bị xét xử, sau đó quyết định hình phạt chung theo quy định tại Điều 55 của Bộ luật này.
Thời gian đã chấp hành hình phạt của bản án trước được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt chung.
2. Khi xét xử một người đang phải chấp hành một bản án mà lại thực hiện hành vi phạm tội mới, Tòa án quyết định hình phạt đối với tội mới, sau đó tổng hợp với phần hình phạt chưa chấp hành của bản án trước rồi quyết định hình phạt chung theo quy định tại Điều 55 của Bộ luật này.
3. Trong trường hợp một người phải chấp hành nhiều bản án đã có hiệu lực pháp luật mà các hình phạt của các bản án chưa được tổng hợp, thì Chánh án Tòa án có thẩm quyền ra quyết định tổng hợp hình phạt của các bản án theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.
1. Đối với hành vi chuẩn bị phạm tội và hành vi phạm tội chưa đạt, hình phạt được quyết định theo các điều của Bộ luật này về các tội phạm tương ứng tùy theo tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, mức độ thực hiện ý định phạm tội và những tình tiết khác khiến cho tội phạm không thực hiện được đến cùng.
2. Đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội, hình phạt được quyết định trong phạm vi khung hình phạt được quy định trong các điều luật cụ thể.
3. Đối với trường hợp phạm tội chưa đạt, nếu điều luật được áp dụng có quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình thì áp dụng hình phạt tù không quá 20 năm; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định.
Khi quyết định hình phạt đối với những người đồng phạm, Tòa án phải xét đến tính chất của đồng phạm, tính chất và mức độ tham gia phạm tội của từng người đồng phạm.
Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng hoặc loại trừ trách nhiệm hình sự thuộc người đồng phạm nào, thì chỉ áp dụng đối với người đó.
Chapter VIII
DECISION ON SENTENCES
Section 1. GENERAL PROVISIONS
Article 50. Basis for decision on sentences
1. The Court shall issue the decision on sentences pursuant to this document and in consideration of the nature and danger of the crime to society, record of the offender, mitigating factors and aggravating factors.
2. When imposing a fine, apart from the basis specified in Clause 1 of this Article, the Court shall also consider the offender's property and ability to pay the fine.
Article 51. Mitigating factors
1. The following circumstances are considered mitigating factors:
a) The offender has prevented or reduced the harm caused by the crime;
b) The offender voluntarily makes rectification, pays damages or relieves the consequences;
c) The crime is considered unjustified force in self-defense;
d) The crime is considered unjustified force in urgent circumstance;
dd) The crime is considered unjustified force in capturing a criminal;
e) The crime is committed under provocation caused by the victim's illegal acts;
g) The crime is committed because of extreme hardship that is not on the offender's account;
h) The crime has not inflicted damage or the damage inflicted is not significant;
i) The offender commits a less serious crime and does not have prior criminal record;
k) The crime is committed because the offender threatened or coerced by others;
l) The offender commits the crime while because of lack of awareness that is not on his/her account;
m) The crime is committed due to obsolescence;
n) The offender is a pregnant woman;
o) The offender is 70 years of age or older;
p) The offender has a serious physical disability or extremely serious physical disability;
g) The offender has a disease that limits his/her awareness or control of his/her acts;
r) The offender turns himself/herself in;
s) The offender expresses cooperative attitude or contrition;
t) The offender arduously assisting the agencies concerned in discovery of crimes or investigation;
u) The offender has made reparation in an effort to atone for the crime;
v) The offender is an excellent worker, soldier or student;
x) The offender is a parent, spouse or child of a war martyr or war veteran.
2. When issuing a decision on sentences, the Court might consider the offender's turning himself/herself in or other circumstances as mitigating factors and specify the reasons in the judgment.
3. If a circumstance defined as a mitigating factor this document is the basis for determination of a crime or sentence bracket, it shall not be considered a mitigating factor in the decision on sentences.
Article 52. Aggravating factors
1. The following circumstances are considered aggravating factors:
a) Organized crime;
b) The crime is committed in a professional manner;
c) The offender abuses his/her position or power to commit the crime;
d) The crime is of a gangster-like nature;
dd) The crime is committed by despicable motives;
e) The offender is determined to commit the crime to the end;
g) The offence has been committed more than once;
h) Recidivism or dangerous recidivism;
i) The crime is committed against a person under 16 years of age, pregnant woman or a person aged 70 years or older;
k) The crime is committed against a defenseless person, a person having a serious physical disability or extremely serious physical disability, a person whose awareness is limited or a person who is financially, spiritually, professionally or otherwise dependent on the offender;
l) The offender takes advantage of war, state of emergency, natural disaster, epidemic or other tragic circumstances of society to commit the crime;
m) The offender makes use of a sophisticated, deceitful or ruthless trick to commit the crime;
n) The offender uses a trick or instrument capable of harming many people to commit the crime;
o) The offender incites a person aged under 18 to commit the crime;
p) The offender has deceitful or violent actions to conceal the crime.
2. Circumstances defined by this document as the basis for determination of a crime or sentence bracket shall not be considered an aggravating factor.
Article 53. Recidivism and dangerous recidivism
1. Recidivism is a situation in which a person who has an unspent conviction for the same offence and deliberately commits a very serious crime or involuntarily commits an extremely serious crime.
2. Dangerous recidivism is a situation in which:
a) A person who has an unspent conviction for a deliberate very serious crime or extremely serious crime deliberately commits a very serious crime or an extremely serious crime;
b) A person who repeated the same offence for which the conviction has not been expunged deliberately commits another criminal offence.
Section 2. DECISION ON SENTENCES IN PARTICULAR CASES
Article 54. Decision on a sentence below lower limit of the sentence bracket.
1. The Court may decide a sentence lighter than the lower limit of the current sentence bracket if it is in the next lighter bracket provided the offender has at least two mitigating factors specified in Clause 1 Article 51 hereof.
2. The Court may decide a sentence below the lower limit of the current sentence bracket and it is not required to belong to the next lighter bracket provided the offender is an abettor with a minor role in the offense and does not have prior criminal record.
3. If all of the conditions specified in Clause 1 or Clause 2 of this Article are satisfied but there is only one sentence bracket or the current sentence bracket is already most lenient, the Court may switch over to a lighter sentence. The reasons for imposition of a lighter sentence must be specified in the judgment.
Article 55. Decision on sentence for multiple crimes
When a person is tried for multiple crimes, the Court shall decide the sentence for each of them and combined sentence as follows:
1. Primary sentence:
a) If all of the sentences imposed are community sentence or determinate imprisonment, they shall be combined. The combined sentence shall not exceed 03 years for community sentence and 30 years for determinate imprisonment;
b) If the sentences imposed include community sentence and determinate imprisonment, community sentence shall be converted into imprisonment. 03 days' community sentence equals (=) 01 day's imprisonment.
c) If the most severe sentence among the sentences imposed is life imprisonment, the combined sentence shall be life imprisonment;
d) If the most severe sentence among the sentences imposed is death sentence, the combined sentence shall be death sentence;
dd) Fines shall be aggregated and shall not be combined with other sentences;
e) Expulsion shall not be combined with other sentences;
2. Additional sentence:
a) If all of the sentences imposed are of the same type, the combined sentence shall not exceed the limit imposed by this document; fines shall be aggregated;
b) If the sentences imposed are of various types, the convict must serve all of them.
Article 56. Combination of sentences of multiple judgments
1. If a person who is serving a sentence is tried for a crime committed before such sentence is imposed, the Court shall decide the sentence for the crime being tried and then the combined sentence as prescribed in Article 55 hereof.
The duration of the previous sentence shall be deducted from that of the combined sentence.
2. When a person who is serving a sentence is tried for a new crime, the Court shall decide the sentence for the new crime, then aggregate it with the unserved part of the sentence to make the combined sentence as prescribed in Article 55 hereof.
3. If a person is serving multiple sentences that are not combined, the executive judge of the Court shall issue a decision on a combined sentence as prescribed in Clause 1 and Clause 2 of this Article.
Article 57. Decision on sentences for preparation of crimes or unsuccessful crimes
1. A sentence for preparation of a crime or unsuccessful crime shall be decided in accordance with Articles on corresponding crimes hereof and vary according to their nature, danger to society, progress of the crime and other factors that prevent the crime from being committed to the end.
2. The sentence for preparation of a crime shall be imposed within the sentence brackets in particular provisions of law.
3. The maximum sentence for the unsuccessful crime shall be 20 years if the maximum sentence provided for by corresponding provision of law is life imprisonment or death sentence. The maximum sentence for an unsuccessful crime shall not exceed three quarters of the determinate imprisonment sentence provided for by the corresponding provision of law.
Article 58. Decision on sentence for complicacy
When imposing sentences upon accomplices, the Court must consider the nature of complicacy and the degree of participation of each accomplice.
Mitigating factors, aggravating factors or from criminal responsibility of an accomplice shall only apply to that accomplice.
Article 59. Exemption from punishment
The offender might be exempt from punishment in the circumstances specified in Clause 1 and Clause 2 Article 54 hereof, provided he/she deserves the leniency but not to a degree eligible for exemption from criminal responsibility.
Cập nhật
Bài viết liên quan
Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh mức xử lý hình sự mới nhất 2025 ra sao?
Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh mức xử lý hình sự mới nhất 2025 ra sao?
Trong hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam, tội giết người là một trong những tội danh đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm trực tiếp đến quyền sống của con người. Tuy nhiên, không phải mọi hành vi nhằm tước đoạt mạng sống người khác đều hoàn tất; có những trường hợp người phạm tội không thực hiện được hành vi đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn. Đây được gọi là "tội giết người chưa đạt". Vậy, hành vi giết người chưa đạt có bị xử lý hình sự không? Mức phạt mới nhất theo Bộ luật Hình sự năm 2025 là bao nhiêu? Bài viết này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về khái niệm, căn cứ pháp lý và mức hình phạt áp dụng đối với tội giết người chưa đạt theo quy định hiện hành. 16/06/2025Cách xác định đường biên giới quốc gia trên biển của Việt Nam quy định mới nhất 2025
Cách xác định đường biên giới quốc gia trên biển của Việt Nam quy định mới nhất 2025
Biên giới quốc gia trên biển là ranh giới phía ngoài lãnh hải của đất liền, lãnh hải của đảo, lãnh hải của các quần đảo Việt Nam. Cách xác định đường biên giới quốc gia trên biển của Việt Nam quy định mới nhất 2025 sẽ được chia sẻ tại bài viết sau. 10/06/2025Khủng bố tinh thần bị khép tội gì? Có thể cấu thành tội de dọa giết người không?
Khủng bố tinh thần bị khép tội gì? Có thể cấu thành tội de dọa giết người không?
Trong xã hội hiện đại, bên cạnh những hành vi bạo lực thể chất, khủng bố tinh thần đang dần trở thành một vấn đề đáng báo động, gây tổn thương sâu sắc đến tâm lý và cuộc sống của nạn nhân. Tuy nhiên, việc xác định rõ hành vi này bị khép vào tội danh nào và liệu có thể cấu thành tội đe dọa giết người hay không vẫn còn là thắc mắc của nhiều người. Bài viết này sẽ đi sâu phân tích các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam, làm rõ bản chất pháp lý của "khủng bố tinh thần" và mối liên hệ với tội đe dọa giết người, giúp bạn đọc có cái nhìn toàn diện về các hình thức xử lý đối với hành vi này. 02/06/2025Mẫu đơn tố giác tội phạm đe doạ giết người mới nhất 2025 soạn thảo chi tiết, chuẩn pháp lý
Mẫu đơn tố giác tội phạm đe doạ giết người mới nhất 2025 soạn thảo chi tiết, chuẩn pháp lý
Trong xã hội hiện đại, an toàn cá nhân là quyền cơ bản và thiết yếu của mỗi công dân. Khi phải đối mặt với hành vi đe dọa giết người, việc nhanh chóng và chính xác tố giác tội phạm là bước đầu tiên để bảo vệ bản thân và đưa kẻ vi phạm ra trước pháp luật. Tuy nhiên, việc soạn thảo một lá đơn tố giác đúng chuẩn, đầy đủ thông tin và có giá trị pháp lý là điều không phải ai cũng nắm rõ. Bài viết này sẽ cung cấp mẫu đơn tố giác tội phạm đe dọa giết người mới nhất, hướng dẫn bạn từng bước để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của mình. 02/06/2025Tội đe dọa giết người mức xử lý hình sự mới nhất 2025 bao nhiêu?
Tội đe dọa giết người mức xử lý hình sự mới nhất 2025 bao nhiêu?
Tội đe dọa giết người là một hành vi nguy hiểm, tiềm ẩn nguy cơ cao dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng hơn nếu không được ngăn chặn và xử lý kịp thời. Vậy, mức xử lý hình sự mới nhất áp đối với tội đe dọa giết người là bao nhiêu và những yếu tố nào sẽ ảnh hưởng đến quyết định của Tòa án? Bài viết này sẽ làm rõ các vấn đề trên, đồng thời cung cấp thông tin chi tiết về các quy định pháp luật hiện hành. 02/06/2025Tội giết người không thành có bị xử lý hình sự? Mức phạt mới nhất 2025 bao nhiêu?
Tội giết người không thành có bị xử lý hình sự? Mức phạt mới nhất 2025 bao nhiêu?
Trong hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam, tội giết người được xem là một trong những tội danh đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm trực tiếp đến quyền sống của con người. Tuy nhiên, không phải mọi hành vi nhằm tước đoạt mạng sống người khác đều hoàn tất; có những trường hợp người phạm tội không thực hiện được hành vi đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn. Đây được gọi là "tội giết người chưa đạt" hoặc "giết người không thành". Vậy, hành vi giết người không thành có bị xử lý hình sự không? Mức phạt mới nhất theo Bộ luật Hình sự năm 2025 là bao nhiêu? Bài viết này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về khái niệm, căn cứ pháp lý và mức hình phạt áp dụng đối với tội giết người không thành theo quy định hiện hành. 16/06/2025Tội giết người chưa đạt có bị xử lý hình sự? Mức phạt mới nhất 2025 bao nhiêu?
Tội giết người chưa đạt có bị xử lý hình sự? Mức phạt mới nhất 2025 bao nhiêu?
Trong hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam, tội giết người là một trong những tội danh đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm trực tiếp đến quyền sống của con người. Tuy nhiên, không phải mọi hành vi nhằm tước đoạt mạng sống người khác đều hoàn tất; có những trường hợp người phạm tội không thực hiện được hành vi đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn. Đây được gọi là "tội giết người chưa đạt". Vậy, hành vi giết người chưa đạt có bị xử lý hình sự không? Mức phạt mới nhất theo Bộ luật Hình sự năm 2025 là bao nhiêu? Bài viết này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về khái niệm, căn cứ pháp lý và mức hình phạt áp dụng đối với tội giết người chưa đạt theo quy định hiện hành. 16/06/2025Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng có được hưởng án treo không?
Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng có được hưởng án treo không?
Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng là một trong những tội danh thường gặp trong thực tiễn xét xử, gây ra những thiệt hại đáng kể cho Nhà nước, tổ chức hoặc cá nhân. Khi một người bị kết tội, ngoài mức án tù giam, vấn đề liệu họ có được xem xét hưởng án treo hay không luôn là mối quan tâm của cả bị cáo và những người làm công tác pháp luật. Bài viết này sẽ đi sâu phân tích các quy định của pháp luật hình sự hiện hành và các văn bản hướng dẫn liên quan để làm rõ những điều kiện và khả năng được hưởng án treo đối với tội danh này. 02/06/2025Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp sẽ bị xử lý như thế nào?
Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp sẽ bị xử lý như thế nào?
Trong bối cảnh đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, các hành vi gây thiệt hại đến tài sản công luôn là vấn đề được dư luận đặc biệt quan tâm. Trong đó, tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp là một trong những tội danh nghiêm trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích chung và sự phát triển bền vững của đất nước. Vậy, pháp luật hiện hành quy định tội danh này sẽ bị xử lý như thế nào? Bài viết này sẽ phân tích chi tiết các quy định pháp luật liên quan, làm rõ mức độ xử phạt và những vấn đề pháp lý cần lưu ý đối với hành vi này. 02/06/20254 yếu tố quan trọng cấu thành tội giết người theo BLHS mới nhất 2025
